12 con giáp năm bính thân 2016 12 cung hoàng đạo chòm sao tử vi tây phương Áo Dài âm dương tổng luận bát trạch bát tự bếp bủa trú phù ấn phong thủy Căn duyên tiền định câu chuyện phong thủy câu hỏi hay quan tâm Cầu Tự Pháp - Phép Đặt Bếp Cầu Con cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ Chọn tuổi xông đất chuyện phật giáo chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học huyền không học 2019 khai trương và cúng giao thừa năm Đinh dậu khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lễ hội đền phủ lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nghi nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phật giáo tổng hợp phong thuy 2017 phong thủy 2018 phong thủy 2019 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH PHONG-THUY-DUONG-TRACH phongthuyviet Quan Họ thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh tu vi 2017 TU-VI-DAU-SO tử bình tứ trụ tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi 12 con giáp từng năm Tử vi 2018 tử vi tổng hợp tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem bói tổng hợp xem chân gà Xem Mũi biết bệnh xem ngày giờ Xem Ngày xuất hành khai trương 2019 Xem Ngày xuất hành khai trương năm Mậu Tuất 2018 xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo Xem tuổi làm nhà 2018 xem tướng nốt ruồi xem tướng tay

Phúc đức tại Mẫu

Phúc đức tại Mẫu

Chữ hiếu của người Việt đã thành quan niệm phổ thông trong xã hội, và kết dính keo sơn với hai chữ phúc-đức mà ông bà cha mẹ luôn muốn trao truyền cho con cháu.
Trong văn hoá Việt cổ, tục thờ Mẫu vốn mang gốc từ tín ngưỡng phồn thực, là sự cầu mong sinh sôi nẩy nở của tự nhiên và con người. Hạt nhân thờ Mẫu là tục thờ đa thần, do lối sống của cư dân trồng lúa, phụ thuộc môi trường tự nhiên, dẫn đến tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, “thần hoá” các hiện tượng: Đất, nước, lửa, cây, mây, mưa, sấm, chớp… thành những vị thần, mà nữ thần chiếm địa vị áp đảo.
phúc đức tại mẫu
(Theo sách “Các nữ thần Việt Nam”, có tới 75 nữ thần Việt). Và nữ thần phải là các bà mẹ, các Mẫu, không phải gái đồng trinh. Sau đó, từ tên cổ: Bà Trời, bà Đất, bà Nước, bà Lửa, do ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, mà có tên: Bà Thiên, bà Địa, bà Thuỷ, bà Hoả. Bộ ba bà quản ba vùng Trời - Đất - Nước thành: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải (đọc chệch từ chữ Thuỷ)…
Sống để lưu phúc cho con cháu
Tục thờ Mẫu mang căn cơ văn hoá thờ phụng Việt cổ và di truyền theo chiều ngang không gian, của nhà - làng - nước và theo chiều dọc huyết thống gia tộc, từ ngàn đời trong cấu trúc xã hội nông nghiệp Việt. Theo Đào Duy Anh, sách “Việt Nam văn hoá sử cương”, xuất bản từ năm 1938, trong thiên Tổng luận, khi truy tìm được năm đặc tính, hay là đặc sắc của văn hoá Việt, ông phân tích rõ: Một trong đó là quan niệm sống của người Việt, “chỉ trông cậy vào con cháu để lưu truyền nòi giống và tiếp nối sự nghiệp của tổ tiên”, nên đã cho cái sống là “chỉ cốt lưu chút phúc ấm cho con cháu về sau”. Điển hình là người mẹ Việt, người đã làm “phổ thông” quan niệm ấy trong lối sống của xã hội nông nghiệp. Và đó cũng là kết quả làm nên đặc tính thứ nhất của văn hoá nông nghiệp Việt, “ấy là xã hội đã lấy “gia tộc làm cơ sở”, cho nên “gia tộc chủ nghĩa vẫn là nguyên tố trọng yếu của xã hội”. Đây cũng là đặc tính khởi nguyên của văn hoá Việt, theo Đào Duy Anh. Sự liên quan hữu lý này khiến ông Đào Duy Anh nêu ví dụ: “Ở trong lịch sử, cũng như trong truyện ký, tiểu thuyết hoặc hí khúc, thường thấy trong một gia đình, người gia trưởng hoặc cả nhà bị hại chỉ còn sót lại được một chú con trai di phúc là cục máu sót của gia tộc, người mẹ hoặc bạn hữu phải nương náu ở tha phương mà chịu trăm cay nghìn đắng, nuôi nấng cho thành người để mong vãn hồi gia tộc. Ở những cảnh huống nước mất nhà tan, chính nhờ những quan niệm ấy mà hy vọng của người ta còn hăng hái mà khôi phục được cơ nghiệp. Ta có thể nói rằng trải qua những bước gian truân thảm hoạ, mà chủng tộc vẫn sống còn là nhờ cái nhân sinh quan ấy một phần lớn vậy”. Vậy người mẹ Việt để phúc đức lại cho con bằng cách nào?
Bằng cách trong đời làm chi chít việc thiện cứu người, không tính toán vụ lợi, thương người như thể thương thân. Như cách xử thế của nhân vật mẹ Tứ trong “Vợ nhặt” - truyện ngắn kinh điển của nhà văn Kim Lân. Nhân vật con trai bà, trong nạn đói năm 1945, đã chỉ mời vài tấm bánh đúc cứu đói mà được cả một cô vợ theo không về nhà. Ấy vậy mà mẹ anh chỉ một bề thương cảm, cùng con trai lo cuộc mừng con dâu món chè cám, hiu hắt nghèo đói, và “cấy trồng” được giấc mơ phá kho thóc Nhật vào cuối truyện. Mẹ Việt không chỉ thương con, mà thương cả dâu. Chẳng thế mà nữ sĩ Xuân Quỳnh viết bài thơ “Mẹ của anh” hàm ơn mẹ chồng, đã có công “sinh anh để bây giờ cho em”. “Mẹ tuy không đẻ không nuôi, mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong’’. Biết ơn mẹ chồng, không để đâu cho hết trong thơ của Xuân Quỳnh, về một phương diện, đó là việc con dâu trả chữ hiếu cho mẹ chồng đã cưu mang mình như mẹ rứt ruột đẻ ra…
Bậc sinh thành nhận lại chữ hiếu?
Vẫn theo nghiên cứu của Đào Duy Anh, gia tộc Việt đã được khẳng định là “bản vị” của xã hội Việt truyền thống. Trong gia tộc, gia trưởng đứng đầu, có vị thế như nóc ngôi nhà, nên dân gian cho cái việc “con không cha như nhà không nóc”. Vì thế, học giả họ Đào viết tiếp: “Trong một nhà, con em phải phục tùng gia trưởng và trọng giai cấp trưởng ấu, đạo hiếu là mối đầu đạo đức. Một nước cũng như một gia tộc lớn, cho nên điển lễ giao miếu là đại kinh của quốc gia, mà nhân dân phải phục tùng quân chủ và trọng giai cấp tôn ty. Đạo đức dạy người ta phải trọng trung hiếu”. Có lẽ bằng vào nghiên cứu này, ta thấy chữ hiếu của người Việt đã thành quan niệm phổ thông trong xã hội, và kết dính keo sơn với hai chữ phúc-đức mà ông bà cha mẹ luôn muốn trao truyền cho con cháu.
Tuy nhiên, đặc tính thứ năm theo Đào Duy Anh, là tính thường tồn (permanence), xét về phương diện văn hoá, lại là một thứ “tinh thần tồn cổ”, coi “văn hoá đời xưa thế nào thì đời nay vẫn thế”, đã “vốn làm cho xã hội ta không tiến bộ được mau chóng như xã hội phương Tây”. Tiên liệu của Đào Duy Anh cách nay hơn nửa thế kỷ về lối sống đương đại Việt, vẫn còn nguyên giá trị nhận thức: Xã hội Việt đã, đang và sẽ khẳng định “khuynh hướng từ gia đình bản vị, bước dần sang cá nhân bản vị”. Chính điều này đã khiến “cái nhân sinh quan “lưu ấm” là một đặc tính rất cảm động của văn hoá ta, ngày nay đã suy theo gia tộc chủ nghĩa. Quan niệm của người đời nay thiết thực hơn, đối với con cái, người ta (chỉ những phần tử giác ngộ) chăm lo nuôi nấng và dạy bảo để cho nó trở thành người, chứ không tưởng gì đến điều “để phúc” cho con cháu”. Ngày nay, sự mãn nguyện không nằm trong “lưu ấm”, mà ở những cái “nhãn tiền” và “chỉ trông mong ở con cái bằng vào tư cách và tài năng của nó thôi”. Và kéo theo là các cử chỉ bày tỏ chữ hiếu đối với bậc sinh thành cũng nhiều phần phai bạc trong ứng xử của thế hệ hậu sinh.
Chính những điều trông thấy ấy, khiến người Việt hôm nay phải tìm về ứng xử truyền thống, với sự tri ân triết lý Việt “phúc đức tại Mẫu”, khởi từ người mẹ Việt xa xưa, đã mang một giá trị thật nhân văn, thuần hậu, thuần phác: Sống cốt là để lưu phúc cho con cháu.
Từ tục thờ Mẫu, thờ Mẹ và từ ứng xử văn hoá căn cơ này, mà sinh thời, GS Trần Quốc Vượng đã quy chiếu thành “nguyên lý Mẹ của nền văn hoá Việt Nam”. Và trên đường về ấy, nhất định cả hai thế hệ cha mẹ - con cái của xã hội Việt đương đại sẽ tìm thấy lại một phép ứng xử văn hoá thích hợp với sự phát triển của thế kỷ mới và phú cho nội dung của chữ Phúc, chữ Đức, chữ Hiếu những giá trị hiện đại, tân kỳ, đáng được đời này lưu giữ và phát huy…

Đăng nhận xét

cám ơn bạn đã nhận xét

[blogger]facebook][disqus]

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.