12 con giáp năm bính thân 2016 12 cung hoàng đạo chòm sao tử vi tây phương Áo Dài âm dương tổng luận bát trạch bát tự bếp bí ẩn giấc mơ biểu phí bủa trú phù ấn phong thủy Căn duyên tiền định câu chuyện phong thủy câu hỏi hay quan tâm Cầu Tự Pháp - Phép Đặt Bếp Cầu Con cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ Chọn tuổi xông đất chuyện phật giáo chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học khai trương và cúng giao thừa năm Đinh dậu khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lễ hội đền phủ lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nghi nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phật giáo tổng hợp phong thủy 2021 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy tân sửu phong thủy tân sửu 2021 phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH PHONG-THUY-DUONG-TRACH phongthuyviet Quan Họ sao và vận hạn 2021 thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch tu vi 2017 TU-VI-DAU-SO tử bình tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi 12 con giáp từng năm tử vi năm 2021 tử vi tổng hợp tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem bói tổng hợp xem chân gà Xem Mũi biết bệnh xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo Xem tuổi xông nhà xông đất năm 2021 xem tướng nốt ruồi xem tướng tay

Phong Thủy Huyền Không Lục Pháp

Phong Thủy Huyền Không Lục Pháp
Lời ngỏ của vanhoai:
Huyền Không phong thủy môn phái có nhiều, như : Lạc thị huyền không, Triệu thị huyền không, Doãn thị huyền không, Ngọc hàm huyền không, Dương công huyền không đại quái, Đái thị ngũ thập pháp huyền không, Thẩm thị Huyền không phi tinh, Đàm thị Huyền không lục Pháp…Mỗi chi, mỗi phái đều có những lý luận khác nhau.

Phong thuỷ Huyền Không trên thực tế ứng dụng phải kể đến: Huyền không lục pháp, Phi tinh phái, Đại quái phái, huyền không tam tinh phái,….từng phái có đặc điểm vận dụng riêng.
Trên góc độ các phái này, dùng phương pháp so sánh ta thấy:
• Phi tinh phái chia cách cục làm 12 dương sơn và 12 âm sơn, phân làm thư hùng âm dương, lấy hậu thiên lạc thư: Nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu làm ải tinh, dùng nguyên vận phân cát hung, lấy linh chính biện thượng sơn hạ thuỷ, chính thần đáo sơn là vượng đinh, linh thần đáo thuỷ là vượng tài lộc, không hợp pháp này tức là sơn điên thuỷ đảo nên đinh tài lưỡng bại, kị phạm phản ngâm phục ngâm cùng khôn vị tử tuyệt, lập hướng do đó mà quan trọng trong quái với xuất quái, lấy hậu thiên lạc thư bài tam nguyên cửu vận đoán định cát hung là chủ yếu.

• Lục thập tứ quái của Đại quái phái, tức là đem tiên thiên 64 quái phối trên 24 sơn, bát quái thủ tượng, đoán dịch 64 quái tự cung ngũ hành, mỗi quái chiếm ước 5,6 độ, tuân theo lý luận của Đại quái phái, lại đem mỗi quái này phân làm 6 (tượng của lục hào) tức một vòng sẽ phân thành 384 hào để có cát hung khác nhau.
• Huyền không lục pháp trước tiên lấy Kim long linh chính phán đoán góc độ lớn của cát hung, đem quái tiên thiên “trừu hào hoán tượng” mà an trên 24 phương vị để tiến thêm một bước phân tích, cát hung của từng sơn trong 3 sơn của mỗi quái, lúc nào phát và phát như thế nào. lại phân thượng hạ lưỡng nguyên bát vận, lấy nhất tứ thất (147)là huyền không tam đại quái, nhất tức thuỷ hoả quái, tứ tức phong lôi quái, thất tức sơn trạch quái. Dụng 6 phép của Lục Pháp: huyền không, thư hùng, ải tinh, kim long, thành môn, thái tuế. Lấy kim long động và ải tinh nhập dụng làm chủ.

• Huyền không Tam tinh phái (tam tinh phái là danh từ riêng), nội dung phái này xuất từ Ngũ kinh của Dương Công, lấy kinh quyết: “can duy càn cấn tốn khôn nhâm, dương thuận tinh thìn luân, chi thần khảm chấn li đoài quý, âm quái nghịch hành thủ” để phân 24 sơn âm dương, bên trong dựa vào long nhập thủ để phân thư hùng long, phiên thiên long với đảo địa long, được long cách là quý tiện, lấy 4 tổ 3 tinh ải bài trên 12 địa chi, trước lấy can chi long phân thuận nghịch, định lai long thuỷ khẩu, tìm nơi sinh vượng, định xuất ngũ cát tứ hung để lập phân châm, lại ải xuất lưu hành chi khí để thâu vượng khí nhập cục trung, chủ yếu tinh vận hợp cách cục, phản lại thì là hung, có sơn long, thuỷ long, bình dương long.
Trên phương diện lý luận và thực tế vận dụng các phương pháp, việc đòi hỏi luận đoán và triển khai sắp xếp quả thực không phải dễ dàng. Các môn các phái rất nhiều người học cần kiên nhẫn và suy xét thận trọng. Có duyên sẽ có ngày đắc đạo. Tam nguyên hay Nhị nguyên thật không ngoài cái phân chia của ý người. Nếu muốn luận đúng sai thì nên bỏ ra 10, 15, 20 năm để kiểm nghiệm.
Thưa các bạn đúng ra tôi sẽ dành thời gian này để viết tiếp phần 2 Huyền Không Phi Tinh (phần 2 (trung), còn phần 3 xin dành cho những người hữu duyên). Nhận thấy một số bạn muốn tìm hiểu về Huyền Không Lục Pháp và cũng thuận theo yêu cầu của một số thành viên, tôi mạo muội đưa lên một phần Huyền không lục pháp của Đàm Dưỡng Ngô

HUYỀN KHÔNG LỤC PHÁP


Đàm Dưỡng Ngô sinh năm 1890 (Triều Thanh, Quang Tự năm thứ 16) Theo Dương Cửu Như học Huyền Không Phi Tinh phái của Chương Trọng Sơn. Xuất bản các sách: Biện chính tân giải, Đại huyền không thực nghiệm, Đại huyền không lộ thấu….Năm 1929 Đàm Dưỡng Ngô gặp Lý Kiền Hư đạo trưởng và được Lý đạo trưởng truyền cho lý luận Huyền Không phong thủy, Đàm Dưỡng Ngô nhận định đây là Huyền Không phong thủy thực thụ. Năm 1930 ông đăng báo thừa nhận mình đã học sai và xin lỗi mọi người đã đọc sách của ông và ông bắt đầu chiêu sinh dạy lý luận Huyền Không lục pháp (Câu chuyện này ngày nay có người đem gán cho Chung Nghĩa Minh là đại sư phong thủy Phi Tinh phái). Tự tay ông viết cuốn Huyền Không Bản Nghĩa và viết lại cuốn Địa Lý biện chính quyết yếu.

Địa lý dùng huyền không Lục Pháp là dùng thiên khai địa mở đã thành tiên hậu thiên bát quái. Cầu cái lý đã có mà xét cái dụng, kết hợp 6 cách dùng : đầu tiên là Huyền Không, tiếp đến là Thư Hùng, Kim Long, Ải Tinh, Thành môn và Thái Tuế
Xưa Phục Hy vẽ quái vốn chưa có các vật mà thành tượng hình.
Dịch nói : Dịch có Thái cực sanh lưỡng nghi. Lại nói : Thiên địa định vị, Sơn trạch thông khí, Lôi phong tương bạc, Thủy hỏa bất tương xạ, là lấy không có vật mà vẽ ra các tượng, không có phương mà lấy làm có vị.
Không mà có, có ẩn nơi không, không không thành có, có có mà như không, không mà có, có mà không, ấy là khí là vật vậy. Đó chính là Thái cực cũng tức là Huyền không vậy. Phân ra thì là 1 âm 1 dương, 1 nam 1 nữ, lão đối với lão, thiếu chung với thiếu, ấy là tự nhiên của trời đất, giao cấu của âm dương.
Đồ hình Huyền không là vòng tròn chữ O , không có vật mà thật ra có hình dạng, đồ hình tiên thiên của huyền không là chữ O , thật ra có hình dạng mà giống như không có vật, 2 cái này là có mà chưa hiện ra bên ngoài, một là không có mà thật ra là đã hàm chứa ở trong, vì thế mà chu tử nói : Vô cực mà Thái cực vậy, cũng tức là không mà có hình. Huyền lại còn của huyền, nói không mà có, nói có mà không, hình ở nơi dụng vậy.Thật có cái thời không mà lại không, không có vật mà thật có hình dạng , không có cái thể mà có vị trí tức nơi nơi là thể vậy. Thật có cái tình nên gọi là huyền không, nhưng huyền không và thái cực , tuy 2 mà 1, tuy 1 mà 2 vậy. Thái cực là nói giữa mà trong, huyền không là nói ngoài mà giữa cũng có ở trong vậy.Rằng Thái cực sanh lưỡng nghi tứ tượng bát quái . Nói Huyền không là nói cách sử dụng của bát quái Có cái phương có cái thể là thuộc về cái tên vậy .Có ở trong ,sau theo lẽ tự nhiên là phải có ngoài . Ở giữa mà không có bát quái thì không thành thái cực, ngoài mà không có thái cực thì huyền không không thể lập.
Một là lấy nhỏ với lớn, lấy trong và ngoài, một thì lấy lớn với nhỏ, lấy ngoài với trong, nói trong nhỏ mà không có trong, là do cái điểm tựa phát động nên gọi là Thái cực, nói ngoài, lớn mà không có ngoài, là cái tượng của tam tài 1 thể nên gọi là huyền không.Cuộn lại mà tạng kín tức là Thái cực đã phát ra tức là huyền không.
Dịch nói : Cát hung xấu tốt sanh nơi động, nên quan hệ cát hung của địa lý không ngoài sơn tình thủy ý và cũng quan hệ nơi động vậy.
Tiên thiên là thể, tĩnh mà động vậy.Hậu thiên là dụng, động mà tĩnh vậy. Động thì khí vận có tiêu trưởng, tĩnh thì có phân biệt phương vị cát hung.Một trước một sau, một sơn một thủy như ảnh theo hình, như hưởng mà ứng, hưởng thì không thể phân ly, tơ hào không thể giả tá, cái nghĩa của Huyền không thật lớn vậy. Hai chữ Huyền không, phải nói là bao hàm thái cực âm dương thiên địa vạn vật, nếu là vô hình thì đúng là có tượng, nếu là có tượng thì cũng giông như không có hình dạng , cho nên lấy O làm biểu đồ là cái ý như vậy
Thứ 2 lấy tiên thiên đồ - Kinh nói rằng : Thiên địa định vị, Sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, Thủy hỏa bất tương xạ tức là đại huyền không vậy.Thiên địa là 1 đại huyền không, người cũng là 1 huyền không, mọi vật đều có 1 huyền không, cái lý của huyền không là vô tận, sự tiêu trưởng vãng lai của vạn vật cũng vô cùng.
Dịch gọi là đạo, 1 âm 1 dương là cái lý của huyền không, một động một tĩnh, động ở trên là lý khí, động ở dưới là loan đầu, nên địa lý gồm luận với thiên thời mà lấy huyền không làm tên gọi.
Càn là phụ, khôn là mẫu, âm dương tương giao mà sanh lục tử( 6 con), ấy là cái thể đầy đủ của huyền không, sơn thì đứng sừng sửng thủy thì trôi chảy là cái ý ở trong địa lý vậy. Kinh nói : Tiên thiên là thể, mà có sự an bài của thể, càn thì thống quản 3 nam, khôn thì quản 3 nữ, mỗi một vòng 90 năm mà bày ra thượng hạ hai phiến vậy. Khí của hậu thiên lưu hành là dụng của thượng nguyên thứ tự là 1 2 3 4, thì thể là khôn quái quản 3 nữ, còn thứ tự của hạ nguyên là 6 7 8 9 , thì thể là Càn quái quản 3 nam vậy
Thượng qua hạ đến , luân chuyển tuần hoàn không có đầu mối, có tiên thiên quái là thể ,mà sau đó có hậu thiên quái là dụng .
Thể và dụng lưỡng hợp là cái diệu đạo của huyền không vậy.Lại hợp với thể dụng của sơn thủy động tĩnh hữu hình và vô hình mà tương phối thì mới đúng cách làm pháp của địa lý.
Bát quái có tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái, trong đó bài liệt lại thứ tự không đồng cung, sắp xếp thứ tự của tiên thiên bát quái là càn đoài ly chấn tốn khảm cấn khôn. Tại cửu cung đồ bắt đầu từ càn quái ngược chiều kim đồng hồ sắp đoài ly chấn, sau đó từ càn thuận chiều kim đồng hồ sắp tốn khảm cấn khôn, như vậy là hoàn thành bát quái tiên thiên cửu cung đồ.
Tiếp theo chúng ta đem lạc thư số phối cửu cung phương vị đồ và tiên thiên bát quái phối cửu cung đồ, hai cái này kết hợp lại là được tiên thiên bát quái phối lạc thư số đồ.
Tại tiên thiên bát quái phối lạc thư số đồ, mỗi một chữ số tương ứng với một quái và đây cũng chính là số vận của quái đại diện, ví dụ vận 1 là khôn quái, vận 2 là tốn quái, vận 3 là ly quái, vận 4 là đoài quái, vận 6 là cấn quái, vận 7 là khảm quái, vận 8 là chấn quái, vận 9 là càn quái.
Sau khi biết được quái tiên thiên đại biểu các vận thì bắt đầu tính thời gian của các vận. Đem các quái âm hào và dương hào tổng lại thành số năm của vận. Trong dịch kinh dùng 9 thế cho dương hào, dùng 6 thế cho âm hào (dương cửu, âm lục)
Đàm thị Lục pháp lại dùng Lưỡng nguyên bát vận, 1 nguyên phân thành thượng hạ lưỡng nguyên, thượng nguyên bao gồm vận 1 2 3 4, hạ nguyên bao gồm vận 6 7 8 9.
Lý luận huyền không phong thuỷ chiếu theo nguyên vận, chia ra 4 phương 8 hướng và phân thành sinh vượng suy tử. Phối hợp hình thể sơn thuỷ mà phân bố, sơn ở nơi phương vượng cần tĩnh không nên động, khã dĩ vượng nhân đinh đắc quý khí, thuỷ ở nơi phương suy cần trống thoáng, khã dĩ phát tài lợi. Sơn thuỷ ở nơi phương vị nào thì phải xem đang ở vận nào mà quyết định. Sơn thuỷ hợp đương vận thì tốt đẹp, qua vận mới thì có thay đổi, cát hung cũng theo đó mà thay đổi. Sơn với thuỷ phải bài hợp với vận, đây là nguyên tắc lớn nhất.

Huyền không lục pháp của Đàm Dưỡng Ngô lý luận đề xuất phân ra sơn vận và thuỷ vận, cũng chính là nói sơn có vận trình của sơn, thuỷ có vận trình của thuỷ, chia ra hai đường riêng biệt không lẫn lộn nhau. Có nghĩa là thời gian để sơn bước vào vận 9 có khác với thời gian của thuỷ, khi sơn tiến nhập vận 9 nhưng thuỷ vẫn chưa tiến nhập mà vẫn ở vận 8, ở lúc này thì không thể dùng vận 9 để luận đoán cát hung cho cả sơn và thuỷ, cũng như không thể dùng vận 8 để luận đoán cát hung cho cả sơn và thuỷ, mà phải dùng vận 9 luận sơn, vận 8 luận thuỷ. Xét phương vị nào có sơn, sơn này năm nào cát, năm nào hung là phải căn cứ vào sơn vận. Ngược lại xét phương vị nào có thuỷ, thuỷ này năm nào vượng, năm nào suy là phải căn cứ vào thuỷ vận. Sở dĩ sơn vận và thuỷ vận bầt đồng thời gian như vậy nên phải xem xét riêng biệt sự cát hung của sơn thuỷ ảnh hưởng theo thời gian
Thời cận đại Lưỡng nguyên Bát vận khởi niên vận như sau (sơn vận):
Thượng nguyên:
vận 1: nhất bạch thuỷ tinh quản sự 1864-1881
vận 2: nhị hắc thổ tinh quản sự 1882-1905
vận 3: tam bích mộc tinh quản sự 1906-1929
vận 4: tứ lục mộc tinh quản sự 1930-1953

Hạ nguyên:
vận 6: lục bạch kim tinh quản sự 1954-1974
vận 7: thất xích kim tinh quản sự 1975-1995
vận 8: bát bạch thổ tinh quản sự 1996-2016
vận 9: cửu tử hoả tinh quản sự 2017-2043 
Thư Hùng & Âm dương, động tĩnh

Thư hùng của cái vô hình là bất biến , là sự giao hợp theo lẽ tự nhiên.
Nếu biến hợp với bất biến , tức là cách biến đổi lớn vậy. Tức là cái then chốt bao hàm trong huyền không .
Phân ra Âm dương mà gọi là thư hùng, nói là hình mà không nói là khí vậy. Thượng hạ đều có cái vô hình là âm dương hỗ tương qua lại, rồi sau đó mới có cái hữu hình là thư hùng hỗ tương giao cấu, thiên khí thì hạ xuống, địa khí là bay lên, đấy là sự giao cấu của đại thư hùng vậy. Sơn thì tĩnh, thủy thì động, sơn thì đứng sừng sững thủy thì chảy, đấy là sự giao cấu trên hình thể vậy.
Lớn nhỏ, mạnh yếu là hình của thư hùng mà động tĩnh cứng mềm là trạng huống của thư hùng. Nếu lớn nhỏ mà không tương hợp, động tĩnh mà không tương phối thì hùng vẫn là hùng, thư vẫn là thư , tuy có cái tên mà kỳ thật thì không giao cấu vậy. Xem địa thì điều cần thiết phải có ngoại khí hành là cái hình của thư hùng, mà sau có sanh khí của nội khí dừng để sanh, ngoại khí giao thì trong tự hợp, ấy gọi là khán thư hùng vậy. Mà thư hùng có phân ra đại và tiểu, nên trong dùng pháp mỗi vận có 1 đại thư hùng gọi là phụ mẫu quái, tức là chánh hướng của mỗi vận, có lực rất lớn.
Kinh nói : Thư với hùng giao hội hợp huyền không, đây là chỉ cái thư hùng của sơn thủy hữu hình mà nói.
Lại nói câu : Hùng với thư huyền không quái nội thôi, đây là nói 2 khí âm dương, tức là thư hùng của vô hình.
Kinh lại nói : “Âm dương tương kiến lưỡng vi nan, nhứt sơn nhứt thủy hà túc ngôn”, xem ra thì cái nghĩa của thư hùng minh bạch rõ ràng vậy.
Thư hùng là sự đối đãi động tĩnh của âm dương. Nói về thể thì 1 động 1 tĩnh, 1 sơn 1 thủy. 1 thật 1 không, tức là thư hùng vậy.
Nói về dụng thì càn khôn chấn tốn khảm ly cấn đoài, tự nhiên khí cảm, tự nhiên giao hợp, tức là thư hùng vậy.
Câu nói : Dương công dưỡng lão khán thư hùng, tức là khán sơn thủy hữu hình và vô hình mà biện âm dương vậy. Sơn thủy động tĩnh hữu hình nguyên vốn là 2 khí âm dương của vô hình. Dương Công không nói là tương âm tương dương mà lại nói khán thư hùng nghĩa là sự qua lại của hữu hình tức là giao hợp của vô hình, cho nên âm dương không thể không phối, thư hùng không thể không hợp, không phối với không hợp tức là tương thừa. Như thấy phương nào có nhiều cao sơn thực địa thì phương đối diện phải có nhiều thủy đạo thấp địa để phối lại, xem hình tương phối đã hiện ra ở tự nhiên thì biết khí giao hợp cũng hiện ra không chút miễn cưỡng, trong điểm này toàn là do nhãn lực và năng lực của người để châm chước mà định , cho nên khi xem địa thì có 5 đại yếu tố của phần biện là long, huyệt, sa, thủy và hướng, “áo ngữ “ thì biện 10 đại chân ý, tránh cái thiên lệch mà tựu nơi chính đáng.
Kinh nói : “ Tiền hậu bát xích bất nghi tạp, tà chánh thụ lai âm dương thủ” . Bát xích( 8 thước ) thì nói nhỏ vậy, ngoại khí tức hợp, cái nơi 8 thước thì âm dương phải tương phối, thư hùng phải giao hợp, ấy là cái lý không thay đổi, riêng đường đi phương hướng và sự tiêu trưởng (mất còn) của vô hình có hợp thời hay không thì phải phân biệt vậy.
Nguyên thì có thượng hạ nguyên, vận thì có bát quái, khí và vận đã bất đồng thì sự cảm thụ của vật chất đương nhiên cũng tùy theo đó mà biến đổi, cho nên mới phân biện loan đầu có hợp tình hay không và lý khí có hợp thời hay không vậy.


Sơn với thủy tương đối , tức là 1 thư 1 hùng của hình thể , nếu có thư hùng của hình thể mà không hợp với thư hùng của lý khí thì không dụng được .
‘’ Phần thực hành “ tức là cân nhắc quản lý sự ứng biến của các phép tắc , cái thể không rời xa cái dụng , cái dụng không rời xa cái thể ,tức cái thể không có hình ở chỗ nói là thể , thì pháp của cái vô hình có thể gặp ở cái thể

  áo ngữ  viết rằng:“ thư dữ hùng,  giao hội hợp huyền không, hùng dữ  thư, huyền không quái nội thôi” là có thể biết hữu hình với vô hình là thể dụng vậy.
Khán thư hùng của địa tức là khán cái đối đãi là thực địa cao sơn , đối diện tất yếu phải là thấp địa thủy khẩu minh đường , là lớn nhỏ xa gần , chốc lát đây đó tương đẳng hoặc sơn lớn thủy khẩu nhỏ , hoặc thủy lớn thực địa nhỏ tức là nói đến cái không phối hợp , thì phương pháp là trên hình của vạn vật . Trong huyền không sau cái quan hệ của thư hùng sẽ là chủ , như hiện tại lập Càn sơn Tốn hướng hoặc đều là hợi tỵ tuất thìn , đều là tọa thật hướng hư ( trống ) hoặc tọa sơn hướng thủy thì lập nội huyệt của sơn địa , như là bình dương lập tốn sơn càn hướng hoặc là tỵ hợi thìn tuất , coi như dùng tọa hư hướng mãn, tức là tọa thủy hướng thực , thư hùng của phương được hợp trong huyền không, không phải như thế , tức là nói ‘’ âm dương tương thừa “ , là quan hệ như vậy .
Thư hùng của sơn thủy là hữu hình, không bắt buộc là tọa , không bắt buột là hướng , không bắt buộc trước sau trái phải , nói đơn giản , như tây bắc hòa hợp với cao sơn thực địa , thì đông nam tất phải là minh đường thấp địa ,cũng có thể là tọa , mà cũng có thể là hướng
Kinh
  nói rằng :“ thủy đối tam xoa tế  nhận tung”,Biết được thư hùng , sẽ biết được tung tích mối liên hệ của mạch , tức là âm dương tương kiến nếu không thì tuy có hợp nguyên ,hợp vận của đại thư hùng , không giúp ích cho ta vậy
Thư hùng của Lí khí , tức trên huyền không tam đại quái đó là khí lôi khí tốn vậy.
Thư hùng của hình thế tức là 1sơn 1 thủy , trước sau đều biết rõ.
Bốn mươi tám cục , tức 24 sơn mỗi sơn phân ra 2 cục là tọa hư và tọa thật , hình cục ứng với tọa thủy hoặc ứng với tọa sơn vậy .
Lập hướng tuy theo hình cục mà định
, Phương pháp trong huyền không cần phải căn cứ vào tử mẫu công tôn mà định  Trên huyền không ứng chọn cục tọa hư tọa thủy , như hiện tại của tý ngọ quý đinh Hướng vào bề mặt thì thấp không tương xứng , không thích hợp khi thấy thủy
Giống như ngọ tý đinh quý
, ứng chọn tọa thật hướng hư là hợp .
Như xoay về đông chọn tọa thật hướng thủy, xoay về tây chọn tọa hư hướng mãn (
),xoay về tây nam chọn tọa thật hướng hư xoay về đông bắc chọn tọa thủy hướng sơn là cát .
Như vậy thì trên Huyền Không ải tinh , nói là “ âm dương tương kiến “ . Ngược lại thì nói là “ âm dương tương thừa “
Dựa theo vận của Hậu thiên thì Càn Tốn là “ đại phụ mẫu “ , mà lại dựa theo vận thì thuộc về “ đại thư hùng “
Trên hết luận Thư hùng là dựa trên hình thế sơn thủy cao thấp hư thật phải xác hợp với nguyên lý .
Thư hùng của lí khí
,là trên sự sinh sản ở tự nhiên, tức là thiên địa lôi phong thủy hỏa sơn trạch vậy.
  Thiên cao địa thấp , đương nhiên là hai chữ âm dương . Địa có cục cao cục thấp, rồi mới có âm dương Cho nên một phương có thực địa cao sơn, tất phải chọn một phương có thấp địa thủy đạo để được tương phối, là phương có thể định cát hung, là phương có thể luận phong thủy
Cũng như địa , toàn là cao hoặc toàn là thấp
, thì không có âm dương, có thể nói có biết bao cát hung , tức là có thể luận là không có phong thủy vậy
 Nói chung khán ( xem xét ) địa như hình thế thư hùng không hợp,sau đó tức là không tuân theo nguyên tắc
Biện pháp “ tị trọng tựu khinh : Tránh chỗ có thực lực mà đánh vào chỗ trống “ tức là khi lập hướng mà thiên lệch bên trái , thiên lệch bên phải ,thì nạp khí được suy xét trước thừa khí vậy

Thư hùng giao cấu thuộc về hữu hình đồ, tức sơn là thư, thủy là hùng thực địa cao (cao sơn) đối đãi là thư, thấp địa trống đối đãi là hùng
Như vận 1 : khảm sơn li thủy, vận 2 : cấn sơn khôn thủy
, tức là giao cấu của hữu hình. Nếu như có khảm sơn mà không có li thủy, có khôn thủy mà không có cấn sơn, thì đó là bất giao cấu。 
Có hùng mà không có thư
, hoặc có thư mà không hùng, hoặc bất phối  bất giao, tức không có cát hung mà xu tị ( ngả vào , tránh xa)
Yêu cầu phải tra xét cho tới tận tường.
Thư hùng của vô hình, là nguyên lí tại trừu hào hoán tượng trong ải tinh đồ  
Thư hùng tức sơn thủy
, hiện vận  chọn tây bắc có sơn, đông nam có thủy tức hợp hiện tại thuộc về đại thư hùng。     
Hai mươi bốn long quản tam quái , nếu nghìn xưa không truyền mà giữ kín
,mà khéo léo lộ dấu vết ở trong trừu hào hoán tượng đồ ,bày ra có 1,6 ,3 ,8 cùng với 2 , 7 , 4 , 9  vậy, thì chỉ mỗi vận lập hướng mà luận, như khảm quái sơn long,thuận tiện ở vận 1,6 , 3, 8 , khảm quái thủy long  , thuận tiện ở vận 2, 7, 4, 9 , sẽ loại bỏ các quái thừa tương tự 。 
Sơn long tọa thật
, thủy long tọa, cho nên nói là “ tương kiến”, lại nói là “ châu bảo”, dùng lời nói ra nỗi lòng ,mà lựa chọn tích trữ sưu tập
  Thư hùng tức 1 sơn 1 thủy,1 động 1 tĩnh
Trong 8 vận mà mỗi vận là có vượng sơn vượng thủy
, tức có đại thư hùng của mỗi vận Phân ra lẻ chẵn,mà phân biệt thuận nghịchĐó là vận 1 li vượng thủy,vận 2 khôn vượng thủy,vận 3 đoài vượng thủy,vận 4 tốn vượng thủy, vận 6 càn vượng thủy,vận 7 chấn vượng thủy, vận 8 cấn vượng thủy, vận 9 khảm vượng thủy là vậy
  Người đời lấy đối cung của mỗi vận làm vượng vậy ,biết một mà không biết hai vậy
Kinh nói rằng : trong Số thì có phân biệt , tức là số âm dương
 
Mỗi quái lấy số hào âm dương,mà định giới hạn của 1 vận là dài ngắn, nhất thiết phải rõ ràng Tức là chỉ tại chỗ này, vận hiện tại khởi đầu năm thứ nhất là canh ngọ cùng lúc vào vận thủy vậy
Viết “ quái tọa âm dương hà tất tưởng” Như vận 1 dùng 3 sơn Nhâm Tý Quý mà lập . Vì vậy mà rằng : Cội nguồn Huyền Không là chỉ có 1 quy luật , mà lí luận quái ,đương nhiên lập Tý ngọ kiêm Quý Đinh . Hoặc không lập Tý Ngọ Quý Đinh , mà lại lập Nhâm Bính kiêm Tý Ngọ , hoặc Tý ngọ kiêm Nhâm Bính vậy. Âm dương mà không hợp quy luật của quái ( quái lí ) . Và đại thư hùng , đại phụ mẫu thật không qua lại nhưng có thể đem lại cát .
Do bởi lí quái của vận hiện tại , thích hợp lập Càn sơn Tốn hướng , song lại lập Tuất Thìn hoặc Hợi Tị là đại phụ mẫu vẫn hợp , nhưng có thể đem lại cát , Ấy cũng là một quy định vậy .
Cho đến cái pháp đó là tuyển chọn xếp đặt
,Chỉ tại trong trừu hào hoán tượng đồ》。 Hữu hình đồ tức một sơn một thủy, vô hình đồ tức một âm một dương như khảm quái thì tý thuộc khảm, nhâm thuộc cấn , quý thuộc chấn, là dương là hùng  li quái thì ngọ thuộc li, bính thuộc đoài , đinh thuộc tốn,  là thư là âm càn khôn lui về nghỉ ngơi ( dưỡng lão ) tại trong tý ngọ trong hai quái nam bắc, có thiên địa lôi phong thủy hỏa sơn trạch là tam đại quái tại nội Sao không có thư hùng của cái vô hình vậy ? Thư hùng của vô hình thì có,Hợp với sơn thủy của hữu hình , tức nói là “ âm dương tương kiến”。 
Thôi tức nói là “ tương thừa “ , Phương diện khác quái tương tự tuyển chọn . Khi xem xét 2 hình khí
,Không ngoài 2 chữ Thư hùng ,Cho nên áo ngữ nói rằng:“ thư sánh với hùng, giao hội hợp huyền không; hùng sánh với thư,suy tìm bên trong huyền không quáiTheo Câu trước chỉ thư hùng thuộc về hữu hình , tức 1 sơn 1 thủy vậy. Thư hùng của hữu hình thuộc sơn thủy giao hội,phải hợp huyền không trong tự nhiên
Theo câu sau chỉ rõ thư hùng là vô hình
, tức là giao cấu của huyền không trong tự nhiên vậy, cho nên viết  “ huyền không quái nội thôi ”。 
Như vậy chỉ có 1 điểm , phải lập quyết mà truyền dạy , người xưa rằng đắc ( thông hiểu ) quyết thì tự mình sẽ rõ vậy , tức là 1 điểm
 
  Các hình khí có âm dương, Dương Công rằng: Khán thư hùng , tức là chỉ âm dương của vô hình , cùng với âm dương của hữu hình tương phối vậy  。 

Âm dương của giáp canh nhâm bính ất tân đinh quý , Lấy cục là tọa thật tọa hư mà luận, Vì luận sơn địa bình dương , sơn tọa thật thuận cục là dương, bình dương tọa hư nghịch cục là âm,Đang phía thủy đến đều là nghịch, hướng đắc thủy đi đều là thuận, Như vậy phương pháp là có được âm dương thuận nghịch vậy
  Huyệt tự nhiên là càn khôn cấn tốn ,  thủy đến hướng vào bề mặt là chân long vậy, tứ ngung thuộc số chẵn,cùng với tứ chánh không thống nhất , viết ‘’đương diện” (tình huống tương xứng) vậy, tức là tham cứu cung vậy。 
Tưởng thị viết “ thạch phá thiên kinh ”
, tức là suy xét chỗ này vậy
Không đúng với phương pháp tọa hư tọa thật , thì dùng đại kim long bí chỉ vậy .
 
Dần thân tị hợi thủy đến xa,chỉ theo yêu cầu phú quý mà luận, như vậy trong tứ chi , với thìn tuất sửu mùi là trong tứ chi , đều toàn đầy đủ tam bàn quái ,Không giống như Tý ngọ mão dậu trong tứ chi,đều là phụ mẫu mà không có tử tức quái vậy . Càn khôn là đại phụ mẫu, khảm li là tiểu phụ mẫu , Vì vậy có thể cầu đắc phú quý
“ ngũ hành nhược nhiên phiên trị hướng  ”, Hai câu trước luận long,nếu mà rằng phát đinh,hai câu sau luận thủy,nếu mà rằng phát phú thủy vượng thì sơn cũng vượng , viết“ phiên trị” ( gặp trái lại ) vậy,nên hướng trên sẽ đắc vượng thủy vậy sơn vượng mà không có thủy, thủy vượng mà không có sơn, thì âm dương không thể phối hợp, đinh tài lưỡng bại vậy。 
Ngô Đệ sở luận : thiên quái tức thiên vận
, địa quái tức sơn thủy tương đối, để hợp chí lí。  Nói : dương không giống âm, âm không giống dương, tức sơn thủy tương đối, Bên trong các linh có được tương xứng với cái ý nghĩ (linh hạ các đắc kì nghi chi ý)。 
Thìn tuất sửu mùi là thiên địa tứ phương làm ranh giới, cho nên viết“ ngự nhai”
Thủy từ thìn đến tuất ,thuộc 4 cung tốn li khôn đoài , là giang đông quái,phát đối với thượng
nguyên
。 
Thủy từ mùi đến sửu, thuộc 4 cung khôn đoài càn khảm ; hoặc thủy từ sửu đến mùi, thuộc 4 cung cấn chấn tốn li ,đều có thể phát cả hai thượng hạ nguyên, Nên mùi sửu là ranh giới vậyCho nên rằng “ giang nam giang bắc cộng nhất quái”。 
 Một phương có thủy, một phương tất yếu có sơn, thư hùng phân ra rõ ràng, phương hợp tác pháp ( phương pháp) 。 
Nếu sơn thủy bất tương đối
, thì âm dương bất giao cấu, không thể luận cát hung   “ thư dữ hùng, giao hội hợp  huyền không” , chỗ này thư chỗ này hùng, theo thư hùng của hình cục sơn thủy,không có thư hùng của lí khí。 
Câu sau rằng “ hùng dữ thư
,huyền không quái nội thôi” giả,chỗ này tức thư hùng của lí khí thiên địa , thủy hỏa , sơn trạch , lôi phong

 

Phong Thủy Huyền Không Lục Pháp

Đăng nhận xét

cám ơn bạn đã nhận xét

[blogger]facebook][disqus]

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.