bài viết trong chuyên mục "ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy 2022 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ. Hiển thị tất cả bài đăng

Xem cho biết :
* Coi tuổi năm sanh thuộc vào CUNG, TRỰC, MẠNG con vị ĐẾ nào ?
* Khắc hay hạp, giàu hay ngèo.
BẢNG TÍN­HTUỔI TỬ VI TỪ 1 ĐẾN 90 TUỔI LẬP THÀNH VÀO NĂM ẤT MẸO, NHẰM NĂM 1975 DƯƠNG LỊCH RỒI QUA MỖI NĂM SAU QUÝ VỊ TÍNH LÊN MỘT TUỔI NỮA LÀ ĐÚNG
1975 1 tuổi Ất Mẹo : Cung Ly, Trực Bế, mạng Đại Khê Thủy, khắc Sơn Hạ
Hỏa, con nhà Hắc Đế, phú quý, xương con mèo, tướng tinh tinh con dơi. Nam: Oâng
Quan Đế độ mạng. Nữ: Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1974 2 tuổi Giáp Dần : Cung Cấn, Trực Khai, mạng Đại Khê Thủy, khắc
Sơn Hạ Hỏa, con Nhà Hắc Đế, phú quý, xương con cọp, tướng tinh con trâu. Nam :
Oâng Quan Đế độ mạng, Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1973 3 tuổi Quý Sửu : Cung Tốn, Trực Phá, mạng Tang Đố Mộc, khắc Oác
Thượng Thổ, con nhà Thanh Đế, quan lộc, tận khổ, xương con trâu, tướng tinh con
cua bể, Nam: Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1972 4 tuổi Nhâm Tý : Cung Cấn, Trực Chấp, mạng Tang Đố Mộc, khắc
Oác Thượng Thổ, con nhà Thanh Đế, quan lộc, tân khổ. Xương con chuột tướng tinh
con beo, Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1971 5 tuổi Tân Hợi : Cung Khôn, Trực Khai, mạng Xoa Xuyến Kim, khắc
Đại Lâm Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý, xương con heo tướng tinh con cọp. Nam :
Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1970 6 tuổi Canh Tuất : Cung Khảm, Trực Trâu, mạng Xoa Xuyến Kim,
khắc Đại Lâm Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý, xương con chó tướng tinh cáo. Nam
: Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1969 7 tuổi Kỷ Dậu : Cung Ly, Trực Chấp, mạng Đại Trạch Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc, xương con gà, tướng tinh con thỏ.
Nam và Nữ Phật Quan Âm độ mạng .
1968 8 tuổi Mậu Thân : Cung Cấn, Trực Định, mạng Đại Trạch Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy, con nhà Huỳnh Đế, quan lộc. Xương con khỉ, tướng tinh con
lạc đà. Nam và Nữ Phật Quan Aâm độ mạng.
1967 9 tuổi Đinh Mùi : Cung Đoài, Trực Bình, mạng Thiên Hà Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa, con nhà Hắc Đế, tận khổ, xương con dê, tướng tinh con rồng.
Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1966 10 tuổi Bính Ngọ : Cung Cấn, Trực Mãn, mạng Thiên Hà Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa, con nhà Hắc Đế, tận khổ, xương con ngựa tướng tinh con
thuồng luồng. Nam và Nữ : Phật Quan Âm độ mạng .
1965 11 tuổi Aát Tỵ : Cung Đoài, Trực Ngụy, mạng Phúc Đăng Hỏa, khắc
Xoa Xuyến Kim con nhà Xích Đế, tận khổ. Xương con rắn tướng tinh con trâu Nam
: Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1964 12 tuổi Giáp Thìn : Cung Tốn, Trực Phá, mạng Phúc Đăng Hỏa, khắc
Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Đế, tận khổ, xương con rồng, tướng tinh con rắn.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1963 13 tuổi Quý Mẹo : Cung Ly, Trực Mãn, mạng Kim Bạch Kim, khắc
Lư Trung Hỏa con nhà Bạch Đế, phú quý, xương con mèo, tướng tinh con hươu.
Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1962 14 tuổi Nhâm Dần : Cung Cấn, Trực Trừ, mạng Kim Bạch Kim, khắc
Lư Trung Hỏa con nhà Bạch Đế, phú quý, xương con cọp,tướng tinh con ngựa. Nam
: Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng .
1961 15 tuổi Tân Sửu : Cung Đoài, Trực Thâu, mạng Bích Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc, cô quạnh, xương con trâu,
tướng tinh con đười ươi. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ
mạng.
1960 16 tuổi Canh Tý : Cung Cấn, Trực Thành, mạng Bích Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc, cô quạnh, xương con chuột,
tướng tinh con rắn. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ
mạng .
1959 17 tuổi Kỷ Hợi : Cung Cấn, Trực Định, mạng Bình Địa Mộc, khắc Sa
Trung Kim con nhà Thanh Đế, phú quý. Xương con heo, tướng tinh con gấu. Nam
và Nữ :Phật Quan Âm độ mạng .
1958 18 tuổi Mậu Tuất : Cung Tốn, Trực Bình, mạng Bình Địa Mộc, khắc
Sa Trung Kim con nhà Thanh Đế, phú quý, xương con chó, tướng tinh con vượn.
Nam và Nữ : Phật Quan Aâm độ mạng.
1957 19 tuổi Đinh Dậu : Cung Chấn, Trực Bế, mạng Sơn Hạ Hỏa, khắc
Thích Lịch Hỏa, con nhà Xích Đế, cô quạnh, xương con gà tướng tinh con khỉ. Nam
và Nữ : Phật Quan Aâm độ mạng.
1956 20 tuổi bính thân : cung khôn, trực khai, mạng sơn hạ hỏa, khắc thịch
lịch hỏa, con nhà xích đế, cô quạnh, xương con khỉ tướng tinh con quạ. Nam và nữ :
phật quan âm độ mạng.
1955 21 tuổi Aát Mùi: Cung Khảm, Trực Phá, mạng Sa Trung Kim, khắc
Thạch Lưu Mộc con nhà Bách Đế, an mạng, phú quí. Xương con dê, tướng tinh con
gà. Nam : Oâng Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng .
1954 22 tuổi Giáp Ngọ : Cung Ly, Trực Chấp, mạng Sa Trung Kim, khắc
Thạch Lưu Mộc con nhà Bạch Đế, an mạng, phú quí. Xương con ngựa tướng tinh
con chim trĩ. Nam : Oâng Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng
.
1953 23 tuổi Quí Tỵ : Cung Khôn, Trực Trừ, mạng Trường Lưu Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa con nhà hắc đế, trường mạng. Xương con rắn, tướng tinh con
chó. Nam : Oâng Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng .
1952 24 tuổi Nhâm Thìn : Cung Khảm, Trực Kiên, mạng Trường Lưu
Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, trường mạng. Xương con rồng,
tướng tinh con chó sói. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ
độ mạng.
1951 25 tuổi Tân Mẹo : Cung Ly, Trực Thành mạng Tòng Bá Mộc, khắc
Lộ Bàng Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con mèo tướng tinh con rái.
Nam và Nữ : Phật Quan Aâm độ mạng.
1950 26 tuổi Canh Dần : Cung Cấn, Trực Nguy, mạng Tòng Bá Mộc, khắc
Lộ Bàn Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con cọp tướng tinh con heo.
Nam và Nữ Phật Quan Aâm độ mạng.
1949 17 tuổi Kỷ Sửu : Cung Đoài, Trực Bình, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Xích Đế phú quí. Xương con trâu tướng tinh con cú.
Nam và Nữ Phật Quan Aâm độ mạng.
1948 28 tuổi Mậu Tý : Cung Cấn, Trực Mãn, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huynh Đế, phú quí. Xương con chuột tướng tinh con
chó sói. Nam và Nữ Phật Quan Aâm độ mạng.
1947 29 tuổi Đinh Hợi : Cung Cấn, Trực Nguy, mạng Oác Thượng Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, phú quí. Xương con heo tướng tinh con dơi.
Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng . Nữ :Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1946 30 tuổi Bính Tuất : Cung Tốn, Trực Phá, mạng Oác Thượng Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà huỳnh đế, phú quí. Xương con chó tướng tinh con trâu.
Nam Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1945 31 tuổi Aát Dậu : Cung Chấn, Trực Chấp, mạng Truyền Trung Thủy,
khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, từ tánh, phú quí. Xương con gà tướng tinh
con cua biển. Nam : Oâng Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ
mạng.
1944 32 tuổi Giáp Thân : Cung Khôn, Trực Định, mạng Tuyền Trung
Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, từ tánh phú quí. Xương con khỉ
tướng tinh con heo. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ
mạng.
1943 33 tuổi Quí Mùi : Cung Cấn, Trực Thiên, mạng Đại Lâm Mộc, khắc
Lộ Bàn Thổ con nhà thanh đế, trường mạng. Xương con dê tướng tinh con cọp. Nam
: Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1942 34 tuổi Nhâm Ngọ : Cung Ly, Trực Bế, mạng Đạo Lâm Mộc, khắc Lộ
Bàn Thổ con nhà thanh đế, trường mạng. Xương con ngựa tướng tinh con cáo. Nam :
Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1941 35 tuổi Tân Tỵ : Cung Tốn, Trực Định, mạng Bạch Lạp Kim, khắc
Phúc Đăng Hỏa con nhà Bạch Đế, trường mạng. Xương con rắn tướng tinh con thỏ.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1940 36 tuổi Canh Thìn : Cung Chấn, Trực Bình, mạng Bạch Lạp Kim,
khắc Phúc Đăng Hỏa con nhà bạch đế, trường mạng. Xương con rồng tướng tinh con
lặc đà. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1939 37 tuổi Kỷ Mẹo : Cung Khôn, Trực Bế, mạng Thành Đầu Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, phú quí. Xương con mèo, tướng tinh con
rồng. Nam và Nữ : Phật Quan Aâm độ mạng .
1938 38 tuổi mậu dần : cung khảm trực khai, mạng thành đầu thổ, khắc
thiên thượng thủy con nhà huỳn đế, phú quí. Xương con cọp tướng tinh con thuồn
luồng. Nam và nữ Phật độ mạng .
1937 39 tuổi Đinh Sửu : Cung Ly, Trực Thâu, mạng Gi­an Hà Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế cô quạnh. Xương con trâu tướng tinh con trùn.
Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1936 40 tuổi Bính Tý : Cung Cấn, Trực Thành, mạng Gi­ang Hà Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế cô quạnh. Xương con chuột tướng tinh con rắn.
Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1935 41 tuổi Aát Hợi : Cùng Đoài, Trực Trừ, mạng Sơn Đầu Hỏa, khắc Sa
Trung Kim con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con heo tướng tinh con hươu. Nam :
Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1934 42 tuổi Giáp Tuất : Cung Cấn, Trực Kiên, mạng Sơn Đầu Hỏa, khắc
Sa Trung Kim con nhà Hắc Đế, cô quạnh. Xương con chó tướng tinh con ngựa. Nam
: Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1933 43 tuổi Quí Dậu : Cung Chấn, Trực Thành, mạng Kiếm Phong Kim,
khắc Phúc Đăng Hỏa,con nhà Bạch Đế, phú quí. Xương con gà tướng tinh con đười
ươi. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1932 44 tuổi Nhâm Dần : Cung Khôn, Trực Nguy, mạng Kiếm Phong Kim,
khắc Phúc Khắc Đăng Hỏa, con nhà Bạch Đế, phú quí. Xương con khỉ tướng tinh
con dê. Nam : Oâng Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1931 45 tuổi Tân Mùi : Cung Khảm, Trực Bình, mạng Lộ Bàn Thổ, khắc
Tuyền Trung Thủy con nhà Huỳnh Đế, cô quạnh. Xương con dê tướng tinh con gấu.
Nam và Nữ : Phật độ mạng.
1930 46 tuổi Canh Ngọ : Cung Ly, Trực Mãn, mạng Lộ Bàn Thổ, khắc
Tuyền Trung Thủy con nhà Huỳnh Đế, cô quạnh. Xương con ngựa tướng tinh con
gấu. Nam và Nữ : Phật độ mạng.
1929 47 tuổi Kỷ Tỵ : Cung Cấn, Trực Khai, mạng Đại Lâm Mộc, khắc Đại
Trạch Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con rắn tướng tinh con khỉ. Nam
và Nữ :Phật độ mạng
1928 48 tuổi Mậu Thìn : Cung Đoài, Trực Thâu, mạng Đại Lâm Mộc, khắc
Đại Trạch Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con rồng tướng tinh con
quạ. Na :Phật độ mạng. Nữ Phật Quan Âm độ mạng
1927 49 tuổi Đinh Mẹo : Cung Càn, Trực Chấp, mạng Lư Trung Hỏa, khắc
Kim Phong Kim con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con mèo tướng tinh con gà.
Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1926 50 tuổi Bính Dần : Cung Khảm, Trực Định, mạng Lư Trung Hỏa,
khắc Kim Phong Kim con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con cọp tướng tinh con
chim trĩ. Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ :Bà Chúa NGỌc độ mạng.
1925 51 tuổi Aát Sửu : Cung Tốn, Trực Kiên, mạng Hải Trung Kim, khắc
Bình Địa Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con trâu tướng tinh con chó. Nam :
Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1924 52 tuổi Giáp Tý : Cung Chấn, Trực Bế, mạng Hải Trung Kim, khắc
Bình Địa Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con chuột tướng tinh con chó sói.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1923 53 tuổi Quý Hợi : Cung Cấn, Trực Nguy, mạng Đại Hải Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, quan lộc, tận khổ. Xương con heo tướng tinh
con gà. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1922 54 tuổi Nhâm Tuất : Cung Đoài, Trực Phá, mạng Đại Hải Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, quan lộc, tận khổ. Xương con chó tướng tinh
con chim trĩ. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ
mạng.
1921 55 tuổi Tân Dậu :Cung Càn, Trực Mãn, mạng Thạch Lưu Mộc, khắc
Bímh Thượng Thổ con nhà Thanh Đế, cô quạnh. Xương con gà tướng tinh con chó.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1920 56 tuổi Canh Thân : Cung Khôn, Trực Trừ, mạng Thạch Lưu Mộc,
khắc Bímh Thượng Thổ con nhà Thanh Đế, cô quạnh. Xương con khỉ tướng tinh con
chó sói. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1919 57 tuổi kỷ Mùi : Cung Tốn, Trực Thâu, mạng Thiên Thượng Hỏa,
khắc Sa Trung Kim con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con dê tướng tinh con rái.
Nam và Nữ : Phật Quan Âm độ mạng.
1918 58 tuổi Mậu Ngọ : Cung Chấn, Trực Thành, mạng Thiên Thượng
Hỏa, khắc Sa Trung Kim con nhà Xích Đế, phú quý. Xương con ngựa tướng tinh con
heo. Nam và Nữ : Phật Quan Âm độ mạng.
1917 59 tuổi Đinh Tỵ : Cung Khôn, Trực Trừ, mạng Sa Trung Thổ, khắc
Đại Lâm Mộc con nhà Huỳnh Đế, phú quý. Xương con rắn tướng tinh con cú. Nam
và Nữ :Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1916 60 tuổi Bính Thìn : Cung Khảm, Trực Bế, mạng Sa Trung Thổ, khắc
Đại Lâm Mộc con nhà Huỳnh Đế, phú quý. Xương con rắn tướng tinh con cú. Nam
và Nữ :Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1915 61 tuổi Aát Mẹo : Cung Ly, Trực Bế, mạng Đại Khê Thủy, khắc Sơn
Hạ Hỏa con nhà Hắc Đế, phú quý. Xương con mèo tướng tinh con dơi. Nam : Ông
Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1914 62 tuổi Giáp Dần : Cung Cấn, Trực Khai, mạng Đại Khê Thủy, khắc
Sơn Hạ Hỏa con nhà hắc đế, phú quý. Xương con cọp tướng tinh con trâu. Nam :
Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1913 63 tuổi Quý Sửu : Cung Tốn, Trực Phá, mạng Tang Đố Mộc, khắc Oác
Thượng Thổ con nhà Thanh Đế, quan lộc, tận khổ. Xương con trâu tướng tinh con
cua biển. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1912 64 tuổi Nhâm Tý : Cung Chấn, Trực Chấp, mạng Tang Đố Mộc, khắc
Oác Thượng Thổ con nhà Thanh Đế, quan lộc, tận khổ. Xương con chuột tướng tinh
con beo. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1911 65 tuổi Tân Hợi : Cung Khôn, Trực Khai, mạng Xoa Xuyến Kim,
khắc Đại Lâm Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con heo tướng tinh con cọp.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1910 66 tuổi Canh Tuất : Cung Khảm, Trực Thâu, mạng Xoa Xuyến Kim,
khắc Đại Lâm Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con chó tướng tinh con cáo.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nư : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1909 67 tuổi Kỷ Dậu : Cung Ly, Trực Chấp, mạng Đại Trạch Thổ,khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc. Xương con gà tướng tinh con thỏ.
Nam và Nữ : Phật Quan Âm độ mạng.
1908 68 tuổi Mậu Thân : Cung Cấn, Trực Định, mạng Đại Trạch Thổ,khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc. Xương con khỉ tướng con lạc đà.
Nam và nữ : Phật Quan Âm độ mạng.
1907 69 tuổi Đinh Mùi : Cung Đoài, Trực Bình, mạng Thiên Thượng Thủy,
khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, tận khổ. Xương con dê tướng tinh con
rồng. Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1906 70 tuổi Bính Ngọ : Cung Cấn, Trực Mãn, mạng Thiên Thượng Thủy,
khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, tận khổ. Xương con ngựa tướng tinh con
thuồng luồng. Nam và nữ Phật Quan Âm độ mạng.
1905 71 tuổi Aát Tỵ : Cung Đoài, Trực Nguy, mạng Phúc Đăng Hỏa, khắc
Xoa Xuyến Kim con nhà Xích Đế, tận khổ. Xương con rắn tướng tinh con trâu. Nam
: Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1904 72 tuổi Giáp Thìn : Cung Tốn, Trực Phá, mạng Phúc Đăng Hỏa, khắc
Xoa Xuyến Kim con nhà Xích Đế, tận khổ. Xương con rồng tướng tinh con rắn.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1903 73 tuổi Quý Mẹo : Cung Ly, Trực Mãn, mạng Kim Bạch Kim, khắc
Lư Trung Hỏa con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con mèo tướng tinh con hươu.
Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ độ mạng.
1902 74 tuổi Nhâm Dần : Cung Cấn, Trực Trừ, mạng Kim Bạch Kim, khắc
Lư Trung Hỏa con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con cọp tướng tinh con ngựa. Nam
: Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ độ mạng.
1901 75 tuổi Tân Sửu : Cung Đoài, Trực Thâu, mạng Bích Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc, cô quạnh. Xương con trâu
tướng tinh con đười ươi. Nam Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1900 76 tuổi Canh Tý : Cung Càn, Trực Thành, mạng bích Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc, cô quạnh. Xương con Chuột
tướng tinh con Rắn. Nam Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : bà chúa tiên độ mạng.
1899 77 tuổi Kỷ Hợi : Cung Cấn, Trực Thành, mạng Bích Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Thanh Đế, phú quý. Xương con Chó tướng tinh
con Vượn. Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1898 78 tuổi Kỷ Hợi : Cung Tốn, Trực Bình, mạng Bình Địa Mộc, khắc Sa
Trung Kim con nhà Thanh Đế, phú quý. Xương con Chó tướng tinh con Vượn. Nam
và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1897 79 tuổi Đinh Dậu : Cung Chấn, Trực Bế, mạng Sơn Hạ Hỏa, khắc
Thích Lịch Hỏa con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con Gà tướng tinh con Khỉ. Nam
và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng .
1896 80 tuổi Bính Thân : Cung Khôn, Trực Khai, mạng Sơn Hạ Hỏa, khắc
Thích Lịch Hỏa con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con Khỉ tướng tinh con Quạ.
Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng .
1895 81 tuổi Aát Mùi : Cung Khảm, Trực Phá, mạng Sa Trung Kim khắc
Thạch Lựu Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý, an mạng. Xương con Dê tướng tinh con
Gà. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ độ mạng.
1894 82 tuổi Aát Mùi : Cung Ly, Trực Chấp, mạng Sa Trung Kim khắc
Thạch Lựu Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý, an mạng. Xương con Ngựa tướng tinh
con Chim Trĩ. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ độ
mạng.
1893 83 tuổi Quý Tỵ : Cung Khôn, Trực Trừ, mạng Trường Lưu Thủy,
khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Huỳnh Đế, trường mạng. Xương con Rắn tướng
tinh con Chó. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ độ mạng.
1892 84 tuổi Nhâm Thìn : Cung Khảm, Trực Kiên, mạng Trường Lưu
Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Huỳnh Đế, trường mạng. Xương con Rồng
tướng tinh con chó Sói. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ
độ mạng.
1891 85 tuổi Tân Mẹo : Cung Ly, Trực Thành, mạng Tòng Bá Mộc, khắc
Lộ Bàn Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con Mèo tướng tinh con Rái.
Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1890 86 tuổi Canh Dần : Cung Cấn, Trực Nguy, mạng Tòng Bá Mộc, khắc
Lộ Bàn Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con Cọp tướng tinh con Heo.
Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1889 87 tuổi Kỷ Sửu : Cung Đoài, Trực Bình, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Xích Đế, phú quý. Xương con Trâu tướng tinh con Cú.
Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1888 88 tuổi Mậu Tý : cung càn, Trực Nguy, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Xích Đế, phú quý. Xương con Chuột tướng tinh con
chó Sói. Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1887 89 tuổi Đinh Hợi : Cung Cấn, Trực Nguy, mạng Oác Thượng Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Hắc Đế, từ tánh, phú quý. Xương con Heo tướng tinh
con Dơi. Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1886 90 tuổi Bính Tuất : Cung Tốn, Trực Nguy, Mạng Oác Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Hắc Đế, từ tánh, phú quý. Xương con Chó tướng

tinh con Trâu. Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.

Tứ vị Vương tử






Tứ vị Vương tử là bốn con trai của đức Thánh Trần, các Ngài đều là danh tướng của vương triều Trần.

 
Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn:

Ngài là con trai thứ nhất của Hưng Đạo Vương. Tháng 4 năm 1289, sau khi cùng cha chiến thắng quân Nguyên Mông, Ngài được phong là Khai Quốc công. Ngài cưới công chúa Thiên thụy, là phò mã của Trần Thánh Tông.
Hưng Vũ vương còn được gọi là đức Thánh cả, khi ngự đồng ngại ngự áo màu đỏ, buộc khăn áp đầu, lên đai thượng đeo cờ kiếm, múa kiếm. Phù thủy xưa có tục, khi hầu Ngài xuyên lình, cắt lưỡi lấy màu viết bùa. Ngài ra phép trừ bệnh vô sinh và trẻ con khóc.
Đền thờ Ngài ở Hạ Long Quảng Ninh ngay bên cạnh núi Bài Thơ. Ngài hoá ngày 24 tháng 4.

 
Hưng Hiến Đại vương Trần Quốc Uất (Uy)

Ngài là con thứ hai của Hưng Đạo Vương, còn gọi là đức Thánh phó. Sau khi có công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông ngài được vua sắc cho

chấn thủ đất Cao Bằng, phong là Hưng Hiến Vương. Khi ngự đồng, Ngài ngự áo đỏ, khăn đỏ, mùa cờ
kiếm lệnh, chuyên trừ tà ma, tìm hài cốt trị trùng quỷ. Ngài hóa ngày mùng 3 tháng 8.

 
Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng:

Còn được gọi là Đức Ông Cửa Suốt, Thánh ông Cửa Đông, Đông Hải Hưng Nhượng Vương là con trai thứ 3 của đức Thánh Trần, 
khi xét công ông được làm Tiết độ sứ. Con gái ông gả cho Trần Anh Tông tức là Thuận Thánh Hoàng hậu.
Trong một lần hỏi ý kiến về di ngôn của An Sinh 
vương Trần Liễu, đức Vương ông (Hưng Đạo Vương) đã hiểu lầm ý của Ngài nên nghĩ là Ngài muốn phản nghịch, Vương ông bắt đày ra chấn thủ Vân Đồn. Nhưng ở đây, Ngài vẫn một lòng vì dân nước và lập được nhiều công trạng lớn lao.

Người đời suy tôn ông là: Đệ tam Phó súy Đông hải Đại vương Trần Quốc Tảng. Khi hầu đồng, Ngài ngự áo khăn đai đỏ, múa cờ kiếm, cầm lình ra uy. Ngài ngự đồng cứu dân, trừ tà sát quỷ.
Ngày lễ của Ngài là mùng 3 tháng 2. Đền thờ Ngài là đền Cửa Ông – Quảng Ninh.

 
Hưng Trí Đại vương Trần Quốc Hiện:

Con trai út của Vương Ông, Ngài ít giáng ngự, nhưng khi giáng thì mặc áo đỏ và đi cờ kiếm. Lịch sử cũng dành ít giấy mực về Ngài. Ngày lễ của Ngài mùng 7 tháng 5

Trần Triều Hưng Đạo Đại Vương

 



 
An Sinh Vương Trần Liễu lấy bà Lý Thị Thuận Thiên, một hôm bà mơ thấy có người mặc áo bào xanh tự xưng là người trời xuống đầu thai, giật mình tỉnh giấc, từ hôm đó bà mang thai, đủ ngày đủ tháng hạ sinh được một con trai, trong nhà ngào ngạt hương thơm và hào quang, thấy thế nên đặt tên con là Tuấn. Hôm đó vào ngày 10 tháng 12.
Sống trong một gia đình thân vương, được chăm nom, dạy dỗ học hành tử tế, lớn lên trở thành một trang tuấn kiệt xuất sắc, văn võ kiêm toàn, tài năng cái thế, trung trinh nhất mực.
Sau này Ngài giúp vua Trần 2 lần chiến thắng giặc Nguyên Mông, ngài lấy Trần Thị Anh Công chúa sinh hạ được 4 vương tử và 2 vương nữ. Các con của Ngài cùng các gia thân gia tướng đều anh dũng phi thường có công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.
Cuộc đời Ngài là tấm gương sáng về tinh thần trung hiếu nghĩa chí tín. Muôn đời về sau mãi mãi tôn vinh, các triều đại đều dùng những mĩ từ bậc nhất để tuyên tụng.
Vua Trần phong “Quốc công Tiết chế Nhân vũ Hưng Đạo Đại vương” hay đức Thượng từ. Trần Anh Tông phong ông là “Thượng phụ Thượng Quốc công Bắc Bình Đại nguyên soái Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương”
Những năm tháng đất nước thái bình, Ngài lại về sống cuộc sống thanh đạm ở Vạn Kiếp và qua đời ở đó. Ngài mất 20 tháng 8.
Đền thờ Ngài rất nhiều nhưng có thể kể đến là Đền Kiếp Bạc (Hải Dương), Cố Trạch, Bảo Lộc (Nam Định), Trần Thương (Hà Nam)...
Đức Thánh Trần được các Thanh đồng có căn bên Trần triều hầu, nhưng thường đồng cao đức trọng mới hầu được Ngài, hầu đức Thánh Trần không lên đai thượng (một số người hầu đai thượng là đi ngược lại lối xưa). Ngài ngự đồng mặc áo mà đỏ, thêu hổ phù, thắt nét dài trên khăn xếp, chân mang hia, Ngài có thể múa kiếm hoặc cờ, cờ có thể bằng khăn tấu. Đức Thánh Trần ngự đồng thường chứng giáng cho Thanh đồng đội lệnh, trừ tà sát quỷ, chữa bệnh vô sinh ... 

CĂN ĐỒNG VÀ CÁC BIỂU HIỆN CỦA NGƯỜI CÓ CĂN ĐỒNG


Căn đồng là một trong những hiện tượng được nhiều người chú ý tới, nhưng không phải ai cũng có hiểu biết về bản thân thuật ngữ này một cách căn bản và thấu đáo. Ngay cả những Tín đồ theo Tín ngưỡng Mẫu lâu năm, có thâm niên, vẫn thường được người trong cùng Tín ngưỡng gọi là Đồng cựu cũng chưa hiểu một cách rành rẽ.
Và cũng chính vì không hiểu một cách rõ ràng như vậy nên mới phát sinh những hiện tượng mê tín dị đoan, nhiều người vẫn là đối tượng cho những kẻ buôn Thánh bán Thần lừa đảo, làm cho các Tín đồ mê muội về tâm linh, dẫn tới các việc hao tiền tốn của, tốn thời gian cũng như công sức, gia đình bất hòa vì lí do tôn giáo và đặc biệt là lầm đường lạc lối trong Thánh đạo.
Chính vì thế, những Tín đồ theo đạo Mẫu Việt Nam nói chung và HTTTG nói riêng cần hiểu biết về vấn đề một cách chính xác, để làm bước tiền đề cho con đường Thánh đạo, chúng ta có cái nhìn đúng đắn và phương thức hành xử hợp lí trong đời sống đạo hạnh và tâm linh, chúng ta tuyên dương Thánh đức một cách đúng đắn và cần thiết, giữ được những bản sắc văn hóa của đạo Mẫu cũng như gia phong nếp nhà, ứng dụng văn hóa của đức Mẹ vào nếp sống gia đình nhằm tạo cuộc sống an hòa, hạnh phúc, ai ai cũng được thấm nhuần ơn phúc của đức Mẹ và Tiên Thánh trong Công đồng Đình thần Tam Tứ phủ, và để con đường đến với Mẹ - Chân Thiện Mĩ mà mình đang đi là công chính và tốt đẹp.
 Căn đồng, căn quả, căn số đều là những danh từ cùng chung ý nghĩa, ý nghĩa đó là gì? Nội dung sau đây sẽ chỉ ra điều đó.
Căn là gốc cây, là rễ cây, còn có nghĩa là nguyên nhân, căn do của sự vật, sự việc, hiện tượng.
Số là những biểu hiện, những tác động của các sự vật, sự việc, hiện tượng bên ngoài vào một chủ thể sự sống bao gồm cả con người và các sinh vật có sự sống khác, chủ thể này có thể là một cá thể, hay một nhóm cá thể, hoặc là cả một cả cộng đồng, đôi khi là cả trái đất và vũ trụ.
Quả là kết quả của tất cả những sự tác động bên ngoài đó lên một chủ thể sự sống kia. Quả là cái sẽ đến tất yếu nếu có “căn” kia.
Đồng có nghĩ là đứa trẻ, trong trắng ngây thơ không vết nhơ bẩn.
Tựu chung lại, căn đồng để chỉ con người có những nghiệp duyên, nghiệp chướng, hay nói khác đi là những tội lỗi, đã gây ra từ trước có thể kiếp trước, hoặc kiếp này, tới khi vận đến phải chịu hậu quả, phải đón nhận cái kết quả xấu mà mình đã tạo ra, phải chịu kiếp khổ sở. Những con người đó may mắn được các Thánh đức đoái thương, nên đã chấm chọn để các Thánh cứu vớt, cũng như thay mặt các Thánh làm việc cứu độ thế gian, làm phúc làm thiện bằng nhiều cách, để hòng chuộc lỗi lại cho bản thân, để đạt được an nhiên thanh thản trong đời sống hiện tại và viên mãn sau khi thoát sinh. Họ sẽ là những con người trong trắng giống như trẻ con, để cho các Thánh dẫn dẵn đi theo lí trí, lẽ phải, tình thương yêu cùng sự hiểu biết của các Ngài, bởi chỉ có sự xót thương, tình yêu thương của các Ngài cho bản thân người có căn đồng đó mới có thể thanh tẩy tâm hồn, thể xác, biến đổi cuộc sống của người đó, mới có thể cho họ có được phúc thiện một cách hoàn hảo để nhằm chuộc lại lỗi lầm của chính họ đã gây ra trong quá khứ.

Định nghĩa trên dập tắt hết những kẻ tự mãn rằng, Căn đồng là một thứ gì đó hơn người, đáng đem ra để so sánh đẳng cấp, căn đồng đơn giản là chính những quả báo của chúng ta mà thôi, không có gì đáng đem khoe mẽ, đáng lên mặt với người khác cả, không có gì đáng khoe khoang cả. Người có căn đồng là người mang nặng nghiệp duyên, mang nặng số kiếp con người, họ còn phải gánh nặng, tròn việc gia đình xã hội, đủ việc Thánh thần nữa. Do đó ta chớ có cho việc có đồng là cái gì hơn người, những cũng chẳng lấy gì làm hổ thẹn vì ta đang được phụng vụ Thánh đức, đang được Thánh thần thương xót, có khi ưu ái dẫn dắt chúng ta vượt qua những chông gai của cuộc sống đầy nhiễm ô này. Hiểu được cái này, chúng ta chớ có biện lễ to lớn lên Thánh đức làm chi, điều đó ko cần thiết, điều đó chứng tỏ chúng ta càng ngày càng mở rộng cái tâm tham lam của chúng ta, để đua tranh nhau giữa các Tín đồ với nhau, mà càng mở rộng tâm tham chúng ta càng nhiều tội hơn, có nghĩa chúng ta đi ngược lại với sở nguyện mà Đức Thánh đến với chúng ta là làm cho ta vơi bớt tội lỗi.  

Người có căn đồng là người được hưởng ơn phúc rất nhiều, vì họ được chư vị Thánh giá ưu ái xót thương cứu độ, cũng vì bản thân họ có một trường năng lực đặc biệt có khả năng hấp thu Thánh lực sốt sắng và khá đầy đủ (hơn những người bình thường khác) một cách dễ dàng, các Thánh đức đó sẽ dẫn dắt họ đi trên con đường công chính, trong sáng tốt đẹp, vượt qua được những tội lỗi trước kia để được tiếp bước đi trên con đường huy hoàng trở về với đấng Tối cao Liễu Hạnh Công chúa.
Cũng chính bởi họ có một trường năng lực về tâm linh dù ít hoặc nhiều, đó gọi là sự thụ cảm tâm linh mà họ nhận được “sự chấm” của Tiên Thánh, Tiên Thánh thấy rằng bản thân người đó có năng lực và nhờ sự trợ lực của Thánh đức, người đó có thể vượt qua được các chướng ngại trong cuộc đời, để họ vươn lên cứu độ bản thân cùng những người xung quanh mở rộng ra nữa là nhân loài. Người có căn đồng giống như một học trò và Thánh đức giống như thầy dạy và Đấng Tối cao giống như tri thức. Tất cả mọi phương pháp của ông thầy đó đều phải dẫn mình đến với tri thức, tất cả Thánh đức đều phải hướng người mình chọn về với Đức Quốc Mẫu Tối cao.
Theo ý trên, ta có thể suy ngẫm rằng, người có căn đồng khác với người bình thường ở điểm đó là họ có một năng lực tâm linh, có khả năng thụ cảm tâm linh. Khả năng thụ cảm tâm linh có nghĩa là khả năng hấp thu những luồng năng lực tâm linh từ bên ngoài bản thân, biểu hiện là bản thân người đó bị biến đổi về thể chất và tâm thần.
Người có căn đồng thi thoảng hay thường xuyên rơi vào cảm giác mờ ảo, chiêm bao thấy đức Mẹ hoặc Tiên Thánh thần, luôn có cảm giác có Thánh thần bên cạnh mình, ủng hộ và che chở cho bản thân.
Khi nhắc tới Thánh đức bản thân họ cảm thấy phấn chấn, hào hứng và nhiệt thành khi được đề cập tới những câu nói, những mẩu chuyện, những bài giảng về Tiên Thánh thần, họ cảm thấy như có một động lực thôi thúc họ chú ý lắng nghe, chiêm nghiệm, có khi là biểu đạt cảm niệm của bản thân về Thánh đức một cách rất hào hứng.
Khi tới tham gia các Thánh lễ trong Thánh đạo, các cuộc hầu đồng, họ thấy tâm hồn mình lâng lâng, phiêu phiêu, bay bổng, lúc đó họ phấn chấn, tinh thần giống như có một động lực thúc đẩy, tâm họ cảm thấy an lành, dịu mát, cũng có khi là xúc động, họ cảm nhận sự đồng cảm với cuộc đời Thánh đức trước kia qua các lời văn, lời tấu, lời thỉnh.
Khả năng hấp thu cảm thụ tâm linh nơi Thánh đức cò nhiều mức độ, nếu ở mức độ nhẹ thì như trên có những mức độ nặng hơn thì họ có những hành động, cử chỉ, lời nói một cách vô thức trong lúc họ hoàn toàn thấu biết mọi sự xảy ra xung quanh, thấy biết được mình đang hành động như thế nào nhưng không tự chủ được. Cái này gọi là sát căn, có nghĩa là khả năng hấp thu tâm linh của họ rất lớn.
Người có căn đồng có cuộc sống đời thường đa dạng, xuất thân từ nhiều thành phần xã hội, nhưng tất cả đều trải qua một thời gian để rồi mới biết đến Thánh đức của mình, đó là thời gian bị hành.

Có người bị hành thì gia đình bất an, tán gia bại sản, kinh tế sụt giảm một cách chóng vánh, xảy ra nhiều chuyện bất hòa, lao đao làm lụng mà chẳng đạt được kết quả gì, cái đáng được hưởng mà không sao có được. Bản thân họ tâm hồn bất an, cứ ngày đêm canh cánh lo lắng, nhiều khi không biết mình lo lắng gì, cảm giác bất ổn luôn thường trực, cảm giác như cái không hay đang sẵn sàng chờ trực mình. Hơn nữa, nếu người nghiệp duyên nặng nề, có thể dẫn đến tâm hồn hoảng loạn, có thể bị điên đảo, nói năng lảm nhảm, hay nói chuyện Thánh thần, chúng ta có thể gọi là “bị điên”, nhưng “điên” này khác với bệnh thần kinh thông thường, khi đến bệnh viện thì lại an nhiên như không, nhưng khi về nhà thì lại hoàn cũ. Cũng cần chú ý là có những trường hợp bị “điên” do hành hoặc bị điên do bị ma quỷ nhập hồn. Nó có những biểu hiện khác nhau mà phải là người có năng lực tâm linh mới thấy biết được. Người do Thánh hành thì thường phát ngôn quan cách, coi người khác là dưới mình, còn ngược lại, người do ma hành thì có hành vi hạ đẳng (tùy mức độ may quỷ đó như thế nào nhưng so với bị hành kém hơn hẳn), không sạch sẽ, bẩn thỉu…, nhưng cũng cần lưu ý là có những thứ ma quỷ khôn khéo tới mức chúng ta để ý không thể thấy. Lúc đó ta cần đến Quan thầy hoặc các thầy về tâm linh mới có thể biết được.  

Cũng có người bị hành thì phát bệnh, những chứng bệnh đó giống như “giả vở”, bác sĩ không giải thích nổi, nhiều khi ở nhà thì ốm đau, ra bệnh viện thì nhẹ như không, lúc thăng lúc giáng, khi mơ khi tỉnh.
Có những người không bị hành bệnh, bên ngoài không có biểu hiện gì bất thường, nhưng trong thân tâm họ cảm thấy có gì đó không ổn, ngày đêm nôn nao, bồn chồn không rõ nguyên nhân, cứ tưởng tượng như có một lực thúc đẩy họ phải đến cầu Mẫu hay Thánh thần.
Chúng ta cần phải phân biệt một cách rõ ràng với những hiện tượng khách quan tự nhiên khác với người có căn số đang trong gian đoạn hành, có xác định được như vậy chúng ta mới có cách giải quyết một cách xác đáng được, và đa số việc này cần phải có sự trợ giúp của một người thầy tâm linh, mà Tín ngưỡng Mẫu gọi là Đồng thầy, ở Giáo hội ta gọi là Quan thầy.
Vậy cho nên, Tìm cho mình một vị Đồng thầy cũng không hề dễ, chính vì lẽ đó, cũng có người nhầm đường lạc lỗi hoặc phúc chưa đến, nên đã gặp phải, hoặc bị người khác xúi dục để tìm đến với những vị “Thầy” sai trái, mê tín tà kiến, buôn Thánh bán Thần, và hậu quả như thế nào? Tự chúng ta mường tượng được. Đồng thầy đúng đắn là người có khả năng tâm linh thấu đáo, thâu suốt được bản mệnh, căn số, liệu tính được các hành vi tâm linh của Đệ tử mình, là người có khả năng gia trì, hỗ trợ Đệ tử mình trong các phương pháp cầu nguyện, lễ bái. Đồng thầy phải là người hướng dẫn các Đệ tử không đi vào con đường mê tín tà kiến, luôn biết hướng dẫn Đệ tử mình tu tập trong Tín ngưỡng một chính tín, sống trong đời sống một cách đạo đức. Thế cho nên, tìm được thầy tốt là vấn đề rất quan trọng, và có thể nói cũng rất khó khăn, nhất là trong thời kì, con người chỉ để ý đến lợi ích cá nhân, chỉ để ý tới vật chất, tiền bạc thì những đạo hạnh bị coi rẻ, những tinh hoa tâm linh, văn hóa đạo đức bị gác ngoài.
Với quyền năng gia hộ của đức Quốc Mẫu cùng sự đào tạo của Hội đồng Công lính, các Quan thầy của Hoàng Thiên Tiên Thánh Giáo ta hội đủ được phần nào những Thánh ý tốt đẹp trên, chúng ta có thể trao phó số phận tâm linh của mình để cho các Quan thầy hướng dẫn, từ đó làm bàn đạp để cho Thánh đức chuyển hóa và tất nhiên khi chúng ta chuyển hóa một cách rốt ráo rồi, chúng ta sẽ trở về bên đức Mẹ một cách nhanh chóng ngay trong cuộc sống này.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.