bài viết trong chuyên mục "đạo mẫu"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy 2022 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn đạo mẫu. Hiển thị tất cả bài đăng

GD&TĐ - Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ đã được UNESCO vinh danh. Đây thực sự là niềm tự hào của người dân Việt Nam tuy nhiên nỗi lo biến tướng hậu vinh danh luôn thường trực trong giới nghiên cứu khoa học cũng như những người đang hoạt động thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.

[​IMG]

Mới đây Bộ VHTTDL đã có Công văn gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ về việc triển khai Chương trình hành động Quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt.

Nỗi lo hiện hữu

Rất nhiều nhà khoa học cùng lo ngại cho rằng: Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ sau khi được vinh danh di sản nhiều người sẽ lạm dụng để mở Phủ, lên đồng và coi việc được UNESCO vinh danh di sản để “bảo hiểm” cho việc này. Và hệ lụy của nó về vấn đề này sẽ là không phân biệt được đâu những giá trị thật và giả của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Từ đây đòi hỏi vai trò quản lý không chỉ của Bộ VHTT&DL mà của tất cả các cấp. Đặc biệt là các cấp địa phương, vùng sâu, vùng xa.

Có thể nói, hậu vinh danh Tín ngưỡng thờ Mẫu đang đưa ra những thách thức và nếu không kiểm soát tốt sẽ bị phản tác dụng. Việc vinh danh di sản để rồi không được thực hành tốt thì chắc chắn sẽ làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam. Ngành văn hóa nói chung và xã hội nói riêng cần có sự cảnh giác cao độ bởi song hành với sự tự hào là những nguy cơ bị bóp méo, thực hành sai.

Sau vinh danh, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt cũng phải đối diện với nỗi lo “buôn thần bán thánh” hay “thương mại hóa hầu đồng”. Những năm gần đây, hầu đồng diễn ra sôi nổi ở khắp các di tích lịch sử văn hóa. Các canh hầu không chỉ tổ chức ở những đền thờ thánh nữa mà mở rộng cả ở đình, chùa, tư gia…

Điều này gióng lên hồi chuông về những “biến tướng” của nghi lễ hầu đồng. Trong các giá hầu, nhiều người lợi dụng việc hầu đồng để buôn thần, bán thánh hay việc người hầu sử dụng quá nhiều vàng mã, đồ lễ hay tiền bạc… Tất cả đã làm mất đi giá trị đích thực của tín ngưỡng này. Với những vấn hầu tiêu tốn đến tiền trăm triệu, thậm chí cả tiền tỷ thì cần phải xem xét.

GS.TS. Ngô Đức Thịnh từng chỉ ra sự biến đổi của tín ngưỡng thờ Mẫu Tham phủ: nếu ngày xưa, chỉ cần một cái khăn là có thể lên đồng, quà phát lộc chỉ vài quả táo tượng trưng... thì ngày nay, mỗi giá đồng một bộ quần áo, mỗi ông đồng bà cốt mỗi lần lên đồng có hàng chục bộ trang phục cầu kì đẹp mắt và đắt đỏ hay đồ lễ cái gì cũng phải to, phải lớn, ngay như ngựa, voi làm bằng mã cũng phải đúng kích cỡ như thật, tiền phát lộc không còn là “bạc lẻ” gọi là tượng trưng nữa mà mệnh giá tiền phải lớn. Lễ vật phải nhiều…

Hoặc trong nghi lễ hầu đồng, vai trò của cung văn đặc biệt quan trọng. Họ là những người dâng cung đàn, tiếng hát cho Thánh hưởng. Ở mỗi giá đồng, lời văn lại có ý nghĩa riêng, mang đậm chất thơ, chất tình. Chính Cung văn đã tạo thêm dòng cảm hứng cho các ghế đồng.

Ngày nay, vào thời buổi kinh tế thị trường, đất nước có sự hội nhập, nhiều dòng nhạc phương Tây du nhập vào nước ta, phần nào làm mất đi chất nhạc truyền thống trong bài diễn tấu của Cung văn, những giai điệu sập sình của nhạc Rock xuất hiện, hỗ trợ cho điệu nhảy khác lạ trên chiếu hầu. Những câu hát văn cổ xưa bị pha tạp bởi những câu hát hiện đại. Tiêu biểu nhất là khi hát văn hầu giá Cô bé điệu Cô múa ô, cung văn có pha thêm lời bài ca Đi học của nhạc sỹ Bùi Đình Thảo.

Các cung văn trong thời buổi nền kinh tế phát triển, cũng không tránh khỏi cám dỗ của đồng tiền nên học hát văn một cách cẩu thả, không bài bản, đi hát cho các buổi lễ Thánh thì kén Đồng. Thậm chí nhiều Cung văn đề ra tiêu chí với Đồng: Đồng nghèo không hát, chỉ hát cho Đồng giàu. Có những người đang hát cho Đồng, nhưng hầu đến giá Thánh không đủ tiền phát lộc, sẵn sàng dẹp đồ nghề đi về.

Ở một khía cạnh nào đó, nếu chúng ta suy nghĩ sâu xa mới thấy hết cái cách ứng xử của con người vì đồng tiền mà tính toán vụ lợi ngay trong cả việc Thánh. Song hành với nghi lễ hầu đồng là sự xuất hiện của vô số những dịch vụ ăn theo nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng là những tín đồ đạo Mẫu.

Hiện nay, trên nhiều trang website quảng bá rầm rộ các dịch vụ tư vấn, mua sắm, trang trí, phục vụ trọn gói vấn hầu đồng từ A đến Z, chân đồng chỉ việc đi không đến hầu; dịch vụ đi phụ giúp đồng với giá khoảng 500 nghìn/1 người; dịch vụ thuê múa phụ họa… muôn hình muôn vẻ.

Bảo vệ và phát huy giá trị di sản

Bộ VHTTDL đã công bố Chương trình hành động Quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt giai đoạn 2017 - 2022 với 5 nội dung cơ bản.

Trong đó nhấn mạnh tới việc tiếp tục nhận diện giá trị, nghiên cứu, kiểm kê, tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt và các tập quán, nghi lễ, lễ hội truyền thống tốt đẹp gắn với di sản; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, uống nước nhớ nguồn, tinh thần hòa hợp dân tộc và trân trọng vai trò của người phụ nữ trong cộng đồng.

Tạo điều kiện cho việc thực hành, sáng tạo và truyền dạy di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt trong cộng đồng; khuyến khích những nghệ nhân hát văn cao tuổi truyền dạy những bài bản cổ cho thế hệ trẻ; tăng cường các hình thức giáo dục phù hợp trong và ngoài trường học.

Tôn vinh các cá nhân, cộng đồng có nhiều đóng góp trong việc gìn giữ, thực hành, truyền dạy, bảo vệ và phát huy giá trị di sản; có chính sách, khen thưởng và phong tặng danh hiệu vinh dự nhà nước cho các nghệ nhân có nhiều đóng góp trong hoạt động bảo vệ, trao truyền những giá trị văn hóa của di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt.

Thực hiện các biện pháp quản lý nhà nước nhằm gìn giữ, bảo vệ và phát huy những giá trị tốt đẹp của di sản, đồng thời ngăn ngừa, loại bỏ các hủ tục và xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng di sản để trục lợi, làm sai lệch di sản và có tác động tiêu cực tới đời sống cộng đồng, xã hội.

Phối hợp với các cơ quan truyền thông, hội nghề nghiệp tổ chức các chương trình giới thiệu, quảng bá về giá trị di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt dưới nhiều hình thức tới công chúng trong và ngoài nước, gắn bảo tồn di sản văn hóa với phát triển du lịch bền vững.

Để chương trình hành động Quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đi vào thực tiễn đời sống, trước hết cần sự chủ động, tích cực triển khai của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan ở các địa phương có di sản này.

Một tay bán dầu tên Bùi Độ (đời vua Hán cảnh Đế) nghèo khổ lang thang, được thầy tướng số cho biết sẽ chết đói vì có hai đường chỉ chạy xéo từ cằm lên mép miệng. Ngày kia Bùi Độ gặp một thiếu nữ ngồi khóc bên giếng sâu. Hỏi ra sự tình mới biết thiếu nữ mang vàng đi để chuộc tội oan của cha, chẳng may bị đánh rơi xuống giếng. Ai cũng nói dưới giếng có con trăn to. Thiếu nữ đang tuyệt vọng muốn quyên sinh.

Bùi Độ thương tình, nghĩ mình trước sau cũng chết đói nên liều mạng leo xuống tìm được vàng cho thiếu nữ. Nhờ đó gia đình thiếu nữ được phục hồi danh dự và quyền thế.

Một lần gặp lại, nhà tướng số kinh ngạc nói rằng tướng chết đói của Bùi Độ đã biến mất mà thay vào đó là tướng công khanh phú quý rực rỡ.

Đúng vậy, sau này thiếu nữ tên Ngọc Hà đền ơn, đem Bùi Độ về dạy học và giao ước vợ chồng rồi mới thưa với phụ thân. Cha nàng gửi gắm Bùi Độ sang một người bạn khác để nhờ tiến cử. Thời gian xa cách Ngọc hà, Bùi Độ đã lạc lòng với những hình bóng giai nhân khác.

Trên bước đường tiến quan, Bùi Độ ghé vào thăm nhà tướng số cũ để tạ ơn, nhưng ông bảo Bùi Độ đã hiện lại tướng chết đói. Bùi Độ tức giận bỏ đi. 
Sau khi được làm quan, Bùi Độ đánh mất nhân cách, chỉ lục lạo, cưỡng bức các cô gái đẹp, bị triều đình hạ lệnh bắt về kinh trị tội. Bùi Độ sợ hãi trốn vào rừng rồi chết đói cạnh một mỏm đá. Ngọc Hà đau khổ tìm chồng, trông thấy bộ xương và cũng gục chết bên cạnh.

Cái phước của Bùi Độ xuất hiện do tâm niệm liều mạng tìm vàng cứu cô gái. Phước đó quá lớn đến nỗi chuyển hẳn tướng mạo và số mệnh để cho Bùi Độ trở thành quan chức vinh hiển. Nhưng rồi, tư cách tầm thường tham dục đã phá vỡ phước cũ để cho nghiệp chết đói đủ cơ duyên xuất hiện trở lại. 
Như vậy, tướng mạo tùy thuộc vào nghiệp chứ không cố định. Nếu chúng ta thường xuyên biết “liều mạng” cứu giúp mọi người, ắt hẳn tướng mạo và số kiếp chúng ta sẽ thay đổi một cách tốt đẹp lắm.

Em chào các anh chị ạ.

Lâu lắm em không vào diễn đàn nhà mình. Em có việc này muốn hỏi các anh chị.

Trước em bị ốp, gọi ra mở phủ. Bị ốp nặng hơn 1 tháng trời, em hỏi là ai cũng nhận gia tiên/vong linh tinh/ duyên âm/ thánh... Sau em ra mở phủ giữa năm 13 thì đỡ hẳn, nhưng vẫn bị. Lúc đầu em ko để ý, nhưng thỉnh thoảng bị chóng mặt em mới biết vẫn bị, lúc nào e nc với linh hồn này cũng dc, 24/7. 

Bẵng đi 1 tg em đi làm ko để ý. Đợt này e lại bị nhiều. Mặc dù em không nói chuyện được nhiều ( rất hiếm khi nói hẳn ra mồm, trừ khi em xin nói hẳn ra), và bị ốp nhẹ, cuộc sống của em vẫn bt, nhưng em cứ nghĩ đến/ khấn vong ơi còn ở đây ko là lại cười/ gật/ lắc... Và lại là hỏi là ai cũng nhận. Người ốp em cũng ko yêu cầu em phải làm gì hết. Lúc nhận là vong này nọ em bảo là đi cắt duyên/ cầu siêu cho thì đồng ý, sau lại báo lại cho em là ko cần. Nhận là gia tiên cũng thế, tóm lại kết thúc câu chuyện đều báo là ko phải làm gì cả. Và hầu như cũng ko bao giờ gọi em, trừ khi em nghĩ đến, hoặc nói chuyện trước. Lúc chán quá vì ko biết là ai em khóc lóc rồi xin báo cho em biết là ai đi vì em khổ quá rồi thì chỉ cười mỉm rồi lắc đầu. Em càng nói chuyện nhiều với người này càng bị loạn vì hỏi là ai cũng nhận tất. Lúc em nghĩ gì tiêu cực như kiểu chán sống hay chết cho lành thì em sẽ cáu+ lắc đầu. Lúc nghĩ gì xấu thì em sẽ cáu hoặc thở dài, định làm gì tiêu cực thì lắc đầu rất dứt khoát. Lúc em nản quá khóc lóc thì em tự vỗ vỗ vào ng em kiểu an ủi?? Nhưng nhận là ai cũng có xu hướng thích em đi lễ ( bên Mẫu) , có lần nhận là vong còn bảo em là cứ nhất tâm Cha Mẹ vong sẽ tha cho?? 

Về sau em mới nhận ra là hình như trong người em chỉ có 1 người, vì em đã thử, nghĩ đến đàn ông e sẽ có cảm giác như là ng đàn ông, nghĩ đến vong nữ sẽ có cảm giác như vong nữ, nghĩ đến trẻ con thì em lại toét mồm cười/ dỗi kiểu trẻ con, thay đổi ngay lập tức. Cảm giác như em bị Cha Mẹ thử vậy. 

Và lúc em chóng mặt/ người lạnh/ bị nghẹt cổ em vẫn đang nói chuyện với vong đấy thì vong nhận là vong làm, nhưng em khấn đến cha mẹ là con nhất tâm rồi cha mẹ tha cho con là em hết ngay, người em lại ấm ngay lập tức như chưa có gì xảy ra cả??

Sau 1 thời gian em phát rồ vì cố tìm ra em bị bao nhiêu vong/vong gì nhập thì em mới nghĩ ra hay là chả có vong nào theo em cả mà Cha mẹ thử em. Em post bài lên muốn hỏi mọi người có anh chị nào diễn đàn mình đã ra gần hết 3 năm như em mà vẫn bị như này không ạ :) Hix em cảm ơn mọi người nhiều.

Trong tâm thức dân gian, Hưng Đạo đại vương thường được vinh danh là đức Thánh Trần và đồng nhất Ngài với Ngọc Hoàng thượng đế, từ đó tạo nên một dòng đạo Nội - đạo Thanh đồng, mà đức Thánh Trần là giáo chủ.

Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (1228? - 1300) là con của An Sinh vương Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông). Trí tưởng tượng của dân gian đã thêu dệt cho Ngài một lý lịch đượm màu huyền bí, siêu nhiên. Tương truyền: Đoan Thục phu nhân Lý Thị Nguyệt (Trần Liễu phu nhân) là người hiền thục, say mê Tam giáo. Một đêm, phu nhân mơ thấy nước nhà sắp có đại loạn, lại thấy vị thần râu tóc bạc phơ tay cầm hốt ngọc có chữ đề "sắc giáng", xưng là Thái Bạch Kim Tinh, vâng mệnh Ngọc Hoàng thượng đế cho Thanh y Đồng tử (cậu bé mặc quần áo xanh) giáng sinh làm con (bà) để trừ giặc cứu nước. Thế rồi bà mang thai lâu hơn người thường và sinh ra một cậu bé mặt mũi khôi ngô tuấn tú, được đặt tên là Quốc Tuấn.

Mới một tuổi, cậu bé Trần Quốc Tuấn đã biết nói, 6 tuổi học hành rất giỏi và đã biết bầy ra nhiều thế trận lạ. Ngoài tài năng bẩm sinh, ông lại được sự chăm sóc của người cha, được cha mời thầy giỏi để đào tạo thành người tài kiêm văn võ.

Vào thế kỷ XIII, nhân dân Đại Việt đã phải đương đầu với 3 lần đại quân Nguyên - Mông tràn sang xâm lược đất nước. Trong hoàn cảnh ấy, Trần Hưng Đạo nổi lên như một trụ cột của triều đình. Câu trả lời đanh thép của Ông: "Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã!" có tác dụng củng cố niềm tin cho vua tôi nhà Trần. Để xoá bỏ hiềm khích, Ông đã tự tay dội nước tắm cho Thái sư Trần Quang Khải; để xoá bỏ nghi ngờ, Ông bỏ gậy bịt sắt nhọn (1); với tư cách người làm tướng, Ông đã quy tụ xung quanh mình những tướng lĩnh tài ba và tận trung như Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô... Là vị tướng có tài, dụng binh như thần, "lấy đoản chế trường", "tránh mạnh đánh yếu", xây dựng một đội quân "tình nghĩa như cha con" với phương châm "quân cốt tinh không cốt nhiều" đã để lại cho đời những tác phẩm bất hủ: Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư...Trần Quốc Tuấn đã thực sự hội đủ những phẩm chất: Đại nhân, đại nghĩa, đại trí, đại dũng.

Đất nước thanh bình, Ông về sống lại thái ấp Vạn Kiếp. Vua Trần Thánh Tông làm bài văn bia, gọi là Sinh bia, sánh Ông với bậc thượng phụ và cho xây Sinh từ để thờ sống Ông.

Ngày 20 tháng 8 (Âm lịch) năm 1300, Hưng Đạo đại vương mất tại Tư dinh Vạn Kiếp. Ông được vua Trần phong là Thái sư Thượng phụ, Thượng quốc công Bình Bắc đại vương nguyên suý, Võ liệt Hồng huân Nhân Vũ Hưng Đạo đại vương và cho lập đền thờ Ông trên nền vương phủ xưa, gọi là đền Kiếp Bạc, hai bên có hai đền Nam Tào và Bắc Đẩu chầu vào.

Trong tâm thức dân gian, Hưng Đạo đại vương thường được vinh danh là đức Thánh Trần và đồng nhất Ngài với Ngọc Hoàng thượng đế, từ đó tạo nên một dòng đạo Nội - đạo Thanh đồng, mà đức Thánh Trần là giáo chủ.

"Sinh vị tướng, tử vi thần" (sống là tướng giỏi, chết là phúc thần), suốt mấy trăm năm qua, Đức Thánh Trần đã thực sự có ảnh hưởng sâu đậm tới đời sống tâm linh của người dân Việt.

1. Một nhu cầu được hầu Thánh (hầu bóng, hầu đồng, lên đồng) và thưởng thức hầu Thánh.

Từ xưa, hội đền Kiếp Bạc không thể thiếu nghi lễ hầu Thánh. Để đưa hoạt động này đi đúng với "thuần phong, mỹ tục", lần đầu tiên, vào ngày 17 tháng 8 (Âm lịch) năm 2006, liên hoan diễn xướng hầu Thánh ở đền Kiếp Bạc đã được Viện Văn Hoá - Thông tin và Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Hải Dương thử nghiệm tổ chức, đã thu hút sự chú ý đặc biệt của một bộ phận dân cư. Hầu Thánh là một loại hình múa hát thiêng trong một không gian thiêng liêng có một sức hấp dẫn kỳ lạ. Người diễn - lên đồng, thâu đêm người xem cũng thức thâu đêm không biết mệt, Hầu bóng - một nghi lễ đã ăn sâu vào tâm thức dân gian. Trong quá trình phát triển của lịch sử, lúc đậm lúc nhạt, nhưng diễn xướng hầu Thánh bao giờ cũng được người dân đón nhận một cách nhiệt tình. Đi xem hầu Thánh là để được xem múa hát, là để, dù chỉ được "ban" một ít lộc, nhưng đối với mọi người, thì điều đó rất thiêng liêng - "Một miếng lộc Thánh bằng một gánh lộc trần".

Trong việc hầu Thánh ở đền Kiếp Bạc, ngoài các giá hầu đức Thánh Trần, còn có "văn chầu Nhị vị công chúa", "văn ông đệ Tam cửa Suốt" (con trai thứ 3 của Hưng Đạo Vương), "văn đức Thánh Phạm" (tướng quân Phạm Ngũ Lão) và các giá chầu ông, chầu bà, chầu cô, chầu cậu.

Trong các bài hát chầu văn ấy, vẫn thấy nổi lên những lời ca ca ngợi các vị thần thánh. Chẳng hạn, trong giá chầu "văn Thánh Trần triều" có những câu ca tụng đức Thánh:

Dung ghi tướng mạo đường đường
Khuê trương vĩ vọng đống lương đại tài
Võ thao lược hùng oai quán cố
Văn kinh luân khí độ Việt nhân (2)


Cùng với chiến công:

Bạch Đằng nhất trận thuỷ công
Tặc Nguyên đại phá huyết hồng mãn giang (3).


Để cho cửa Thánh oai nghiêm, trong các hoạt động của "đạo" Thanh đồng, có những hoạt động mang đầy tính ma thuật như: Xiên lình vào má, rạch lưỡi phun lửa, xỏ chân vào lưỡi cày nung đỏ, và ma thuật chữa bệnh như: Dùng roi dâu đánh vào người, đánh áo đau người - những phép thuật được người xưa coi là cực kỳ cao siêu...

2. Tin tưởng cậy nhờ đức Thánh trừ là sát quỷ

Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí Phan Huy Chú có viết: "Trong nước hễ có đàn bà bị Bá Linh ám ảnh, gọi là ma Phạm Nhan, người ta thường đem chiếu đổi lấy chiếu của Đền (Kiếp Bạc – tác giả) về trải giường cho bệnh nhân nằm thì khỏi ngay” (4). Trong ngày hội, những người đàn bà vô sinh, hiếm muộn hoặc là mắc các chứng bệnh đàn bà..., người ta đến Đền cúng bái. Thầy cúng (có thể là thầy phù thuỷ) dùng roi dâu đánh vào người đàn bà, người ấy lăn lộn, thậm chí lăn xuống sông, thì coi như tà ma đã được trừ (xuất phát từ chuyện Đại vương chém Phạm Nhan). Và, ở khúc sông Lục Đầu, gần núi Dược Sơn, có một dải đất dài nổi lên hình thanh gươm. Tương truyền, đấy là thanh kiếm thần của đức Thánh Trần - sau khi chém Phạm Nhan, Ngài thả thanh kiếm xuống dòng sông nhờ nước Lục Đầu giang rửa sạch tanh hôi, cũng ngầm ý không bao giờ phải dùng đến thanh gươm nữa. Vì vậy, xưa kia trong lễ hội đền Kiếp Bạc còn có nghi lễ chém Phạm Nhan cùng bài ca diễn xướng có những câu:

Đầu này vừa chém cho rơi
Đầu kia ở cổ đã chồi mọc ra
Thế mới biết yêu ma quái lạ
Dã Tượng về tâu với Đại vương
Ngài thân ra chốn pháp trường
Bá Linh 5 trông thấy mặt nhường tái xanh
Hưng Đạo vương tuốt thanh thần kiếm
Đưa gươm hầu thử chém xem sao
Ai ngờ Ngài mới khai đao
Đầu kia ở cổ đã nhào chết tươi.


Người ta tin rằng, với uy danh của đức Thánh Trần trừ diệt được Phạm Nhan thì mọi tà ma đều được trừ diệt. Không chỉ có thế, mọi người còn tin rằng, "mỗi khi có giặc, làm lễ cáo ở Đền, nếu kiếm trong hòm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng trận”(6).

Ngoài ra, trong hội đền Kiếp Bạc, nhân dân còn đến Đền mua thuốc ở Nam Tào (Dược Sơn) về uống rất là hiệu nghiệm.

3. Niềm tin trong việc cầu phúc, tránh hoạ

Nhân dân trong vùng có tục lệ đầu năm đến Đền làm lễ cầu an, cuối năm lễ tạ; những năm gặp hạn hán, người dân còn đến Đền "tế đảo cầu mưa". Từ xưa đến nay, tục ấy vẫn được duy trì. Mọi người đến đền Kiếp Bạc mang theo niềm ước vọng của mình: Cầu được bình an, học hành hiển đạt, làm ăn phát tài, tránh được mọi điều xui xẻo và, phổ biến nhất, là việc cầu tự (cầu được có con). Những đứa trẻ ra đời được gọi là "Con cầu tự". Tương truyền, người đến cầu con khi đến Đền, nếu "Vào cửa cha, ra cửa mẹ" (Dưới pho tượng đồng của đức Thánh Trần và đức Quốc mẫu có cửa chui qua) hay xin một ít đất ở mô cao sau Đền thì thế nào cũng sẽ được thoả nguyện. Ngoài việc cầu con, trong dân gian, nhà nào "hữu sinh vô dưỡng" thì họ làm lễ bán khoán vào Đền. Đến năm đứa trẻ 12 tuổi thì gia đình biện lễ chuộc con về. Họ tin rằng, làm như thế đứa trẻ mới được bình yên vô sự.

4. Niềm tin trong việc xin ấn.

Ở đền Kiếp Bạc hiện có 4 chiếc ấn bằng đồng. Các cụ già địa phương thì cho rằng, những ấn này có từ khi mới lập Đền. Theo lệ cổ, trước ngày đại kỵ của Ngài (ngày giỗ đức Thánh Trần) chính quyền sở tại cùng với thủ từ làm lễ đóng ấn vào một tấm lụa màu vàng để đến hội ban cho thập phương.

- Ấn thứ nhất, có hình vuông, kích thước 10 cm x 10cm. Trên có khắc chữ Triều triều Hưng Đạo vương chi ấn (ấn của Hưng Đạo vương triều Trần).
- Ấn thứ hai, có hình vuông, kích thước 5,5cm x 5,5cm. Trên ấn có khắc 4 chữ Quốc pháp Đại vương (Đại vương nắm (giữ) phép nước);
- Ấn thứ ba, cũng có hình vuông, kích thước 4,3cm x 4,3cm. Trên ấn khắc 4 chữ Vạn Dược linh phù (Bùa thiêng Vạn Dược);
- Ấn thứ tư, hình chữ nhật, kích thước 5,2cm x 7,8cm, khắc 6 chữ Phi thiên thần kiếm linh phù (Bùa thiêng phi thiên thần kiếm).
Dân gian tin rằng, muốn cầu được thăng quan tiến chức thì xin ấn Triều triều Hưng Đạo vương chi ấn, hoặc Quốc pháp Đại vương; cầu được sinh con, cầu xin việc trừ tà sát quỷ, diệt giặc dã, giữa bệnh, thì xin ấn Phi thiên thần kiếm linh phù.

Theo Hán - Việt từ điển của Thiều Chửu, chữ "Phù" có nghĩa:
- Là điểm tốt lành,
- Là cái bùa, các thầy cúng vẽ son mực vào giấy để trừ ma gọi là phù.

Vì vậy, những ấn ở đền Kiếp Bạc thiên về nghĩa là điểm tốt lành và là bùa dùng để phù chú chữa bệnh trừ tà...

Sau khi làm lễ ban ấn, nhân dân xin ấn về treo ở nhà và tin rằng sẽ gặp được nhiều may mắn - Tuy vậy, mấy chục năm qua, nghi lễ ban ấn không còn phổ biến vì người ta cho rằng, việc này mang nhiều yếu tố mê tín dị đoan. Nhờ những nhận thức mới, đúng đắn về vấn đề tín ngưỡng, trong năm 2006 vừa qua, Sở văn hoá - Thông tin Hải Dương phối hợp với Viện Văn hoá - Thông tin đã thử nghiệm tổ chức lễ ban ấn theo bài bản mới: Đêm 18 tháng 8 (Âm lịch) năm 2006, lễ ban ấn được tổ chức. Hàng ngàn người dân đã tham dự buổi lễ này. Qua đó ta thấy tín ngưỡng đối với anh hùng dân tộc Hưng Đạo đại vương thật thiêng liêng.

Có thể khẳng định rằng, trong hệ thống nhân thần được thờ tại Việt Nam, không có vị thần nào được nhiều nơi thờ như đức Thánh Trần, nhưng nơi được coi là thiêng liêng nhất là đền Kiếp Bạc. Hàng năm, cứ đến ngày 20 tháng 8 (Âm lịch) - " tháng Tám giỗ Cha", nhân dân ở mọi miền đất nước vẫn luôn hướng về đền Kiếp Bạc như hướng về nguồn cội của mình:

Nghi ngút khói hương không dứt
Đền thiêng Vạn Kiếp trang nghiêm
Thiêng liêng thờ phụng tôn sùng
Sánh với thập phương Bồ Tát.


(Nguyễn Bỉnh Khiêm)./.

Bích Sâm

Chú thích:

1 - Khi đi hộ giá, Hưng Đạo vương cầm chiếc gậy đầu có bịt sắt nhọn, mọi người đền sợ. Ông liền vứt bỏ đầu nhọn, chỉ cầm gậy không, để mọi người yên lòng.
2,3 - Ngô Đức Thịnh (chủ biên): Đạo Mẫu ở ViệtNam, Nxb. VHTT, H.1996, Tr. 83 và tr. 85.
4 - Phan Huy Chú: Lịch triền hiến chương loại chí, Nxb. Sử học, H. 1961, tr. 250.
5 - Bá Linh là tướng giặc Nguyên, có mẹ là người Việt, cha người Trung Quốc. Vì phạm vào nhan sắc phụ nữ nên gọi là giặc Phạm Nhan.
6 - Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, tr.250.

* Bài đăng trên tạp chí Di sản văn hoá, số 1(18), năm 2007, tr:60

Mười hai giá đồng hầu Mẫu  
Từ những đời rất xa xưa , người Việt chúng ta tôn thờ các Mẫu . Mẫu điạ phủ mặc áo vàng cai quản miền đất . Mẫu Thượng Ngàn mặc áo xanh cai quản miền núi rừng. Mẫu Thoải mặc áo trắng cai quản các miền sông nước. Về sau, Mẫu địa hóa thân vào Mẫu Liễu Hạnh mặc áo đỏ. Đó là đạo thờ Tứ phủ. Dưới các Mẫu là các hàng quan, chầu, các ông hoàng, các cô và các cậu. Họ là những vị vừa là người, vừa là thần thánh giúp việc cho các Mẫu để phù hộ, giúp đỡ và săn sóc cuộc sống trần gian.
Người ta ngưỡng mộ, đặt niềm tin vào các Mẫu và những vị giúp việc cho Mẫu, khẩn cầu xin Mẫu vạn năng che trở, giúp đỡ mỗi khi gặp những điều không may hoặc khó khăn. Người ta đặt những bàn thờ, xây dựng đền, phủ, miếu để tôn vinh, thờ các Mẫu ở khắp nơi.

Tục thờ Mẫu đã trở thành một nét văn hóa giầu giá trị nhân văn và độc đáo trong nền văn hóa Việt. Từ đó, người ta sáng tác ra điệu hát chầu văn kèm với nhạc, múa và nghi lễ lên đồng nhập hồn để thể hiện niềm tôn kính với các Mẫu. Họ trình bày nguyện vọng của họ với các Mẫu như kiểu người xon xin điều gì với mẹ mình. Lễ lên đồng, chầu văn được tiến hành qua sự nhập hồn của thần linh vào người ngồi đồng với nhiều yếu tố tổng hợp trợ giúp như: âm nhạc, phục trang, diễn tấu, ánh sáng, hương khói, trang hoàng rực rỡ, những lời khấn cầu của cung văn và các đệ tử v.v… Tất cả, cộng lại dâng trào lên một sự thăng hoa, thoát tục.

Giá ông Hoàng  Bơ bắt đầu. Ông Hoàng ngồi giữa xung quanh là sáu cô gái hầu hạ ăn mặc thướt tha. Bốn cô múa quạt (múa trang trí phía ngoài) để hai cô chỉnh lý trang phục đúng vai ông Hoàng. Các cô lại phủ lên mặt ngài bằng một tấn khăn đỏ. Lúc này, hai bên nổi nhạc (mõ, phách, cảnh, đàn nguyệt, thanh la, trống con…). Các cô hầu và đệ tử xung quanh khấn vái, xin Ngài Hoàng Bơ về răn dậy và ban phước cho các con công đệ tử. Trong khói hương nghi ngút và đền nến lung linh, đầu ông Hoàng đảo mấy vòng. Đó là lúc Ngài đã về nhập đồng. 
Ngài Hoàng chít khăn thêu, mặc áo trăng đai vàng, chân đi hài võ, vai khoác cung, tay cầm kiếm. Ngài Hoàng cầm lấy 3 nén hương từ tay một cô hầu, đi mấy bước lên cắm vào bát hương để kính các Mẫu. Trong lúc này, cung văn hát chầu, ca ngợi tài năng và công lao to lớn của Ngài đã dẹp giặc, giữ quê hương, giúp đỡ dân lành. Ngài là vị thánh văn võ kiêm toàn, tài hoa rất mực. Ban nhạc đi làm điệu lưu thủy, phá rồn. Ngài Hoàng đi một vài đường kiếm hào hoa với những nét múa rất đẹp. Rồi Ngài được các cô gái hầu mời uống rượu, ăn trầu, hút thuốc lá. Các cô gái hầu và các đệ tử xung quanh xin Ngài Hoàng Bơ phù hộ độ trì cho mọi người. Ngài Hoàng cũng phán bảo đôi điều. Ngài nhìn ra xung quanh với dáng vẻ yên lòng và lắng nghe mọi lời thỉnh cầu. Ngài sai cô hầu mang đến cho Ngài một cái tráp đổ đựng nhiều quà tặng và tiền để Ngài tự tay phát lộc cho các cô hầu, các cung văn và các đệ tử xung quanh. Dĩ nhiên Ngài đi vòng quanh để ban lộc cho mọi người bằng những bước đi như múa. Cuối cùng, Ngài ngồi nghỉ, ngả người về phía sau một chút, giang hai tay ra tỏ ý Ngài muốn trở về cung của Ngài. Cung văn hát bài “xa giá hồi cung”… Như vậy là kết thúc một giá đồng. Tiếp theo là giá đồng thứ hai, giá này là giá cô Chín đền Sòng. Để đón cô và hoan nghênh cô, dàn nhạc nhỏ và cung văn có những làn điệu riêng để ca ngợi cô cùng những lời thơ kèm nhạc tả về cô và tả cảnh, tả tình. Trước tiên, cô là một trong nhan sắc lớn. Cô hay đi rong chơi mọi nẻo hái thuốc chữa bệnh cho mọi người. Cô ăn bận rực rỡ với bộ trang phục màu xanh núi rừng, thắt lưng hoa đào, tết khăn thêu và luôn có nụ cười hoa nở. Cô là tiên nữ giáng trần, có phép thần thông và thương người trần thế. Các đệ tử và cung văn nguyện cầu, xin cô ban cho sức khỏe dồi dào, buôn may bán đắt. Cô còn múa hái hoa, múa khăn, múa quạt. Lúc này, cung văn chầu điệu xá thượng, xá lệnh rất sôi nổi, lôi cuốn mà xa vắng, tâm linh. Có lúc cô tỏ vẻ chưa hài lòng về một điều gì đó thì các đệ tử xin cô tha thứ và hứa sẽ tuân theo những lời khuyên bảo của cô. Cô liền tỏ ra hài lòng, khoan dung và sai ban lộc và thuốc men cho các đệ tử và mọi người xung quanh. Lời ca và tiếng nhạc không hề rứt, rất đa dạng và phong phú.

Trên đây là giá đồng thứ hai. Tiếp sau là giá thứ ba, thứ tư đến giá thứ 12 hoặc 15. Còn có giá ông Hoàng Mười, Hoàng Bảy, cậy Hoàng Bơ, cô Ba Thoải, cô Thượng, cô Cam Đường v.v... Mỗi giá đồng ứng vào một vị thần thánh với những thành tích, tính cách, sở thích, phục trang, dáng điệu khác nhau.

Trong nghi lễ chầu văn lên đồng, hát văn là hát chầu văn giữ một địa vị quan trọng. Có chừng 70 làn điệu và biến thể của chúng để phục vụ riêng cho từng giá đồng cho những điệu Bỉ, Riều, Dọc, Còn, Xá, Thổng, Sai v.v…

Trong âm nhạc hát văn và chầu văn, tính chất dân gian được thể hiện rất rõ. Loại âm nhạc này thu hút vào mình nhiều âm hưởng của các loại dân ca ở rất nhiều địa phương trong cả nước. Nhịp điệu và tiết tấu của nó rất độc đáo, phong phú, hấp dẫn, đầy kịch tính.

Trong chầu văn lên đồng có cả kịch, cả nghệ thuật múa. Đó là một loại sân khấu tâm linh, có sự giao lưu giữa người với đấng thần linh. Đây là một hình thức diễn xướng tổng hợp có nhiều nét nguyên sơ của sinh hoạt tín ngưỡng. Nhưng người ta lại thấy các vị thần linh huyền thoại lại được ứng vào với các vị anh hùng dân tộc có công lớn với đất nước và cũng được thờ phungj như các vị thánh thần có lòng yêu đất nước, yêu nhân dân và khẳng định sự trường tồn của dân tộc. Ở đây, chủ nghĩa yêu nước được tín ngưỡng hóa. Các giá đồng như Chầu Bát Nàn được là hóa thêm của nữ tướng đời bà Trưng, chầu Mười được gán vào ông tướng trấn thủ Nghệ An. Ông Hoàng Bơ ứng với Ngài Trần Hưng Đạo. Ông Hoàng Năm ứng với đức Phạm Ngũ Lão. Ông Hoàng Mười ứng với tướng quân Lê Sỹ. Cô Cam Đường ứng với bà Ỷ Lan khi còn nhỏ v.v…

Chầu văn lên đồng là bảo tàng văn hóa Việt Nam. Nó có mặt tín ngưỡng tôn thờ Mẫu (mẹ) quyền năng cội nguồn, gắn bố với quê hương, đất nước, tôn thờ những vị anh hùng có công với đất nước. Riêng về văn hóa, nó là hình thức ca, múa, nhạc, kịch tổng hợp mà dân gian. Nó làm giầu cho vốn văn hóa truyền thống của Việt Nam và đóng góp vào vườn hoa sân khấu thế giới.

Hầu nhà Trần  
Hầu nhà Trần rất rõ ràng nhưng hiện nay do thiếu hiểu biết và sự hỗn độn của đồng bóng nên hầu nhà Trần bị những kẻ buôn thần bán thánh bóp méo và được biến hiện theo dáng dấp của Tứ phủ.

Khi hầu ở Kiếp Bạc, Trần Thương, Bảo Lộc thì không được hầu Đức ông đệ tam vì Đức ông đệ tam đã bị Đức đại vương từ và đầy ra Cửa Ông.

Hầu Đức đại vương không được lên đai thượng nhưng hiện nay những kẻ ngu và không hiểu biết cứ cho là làm đúng. Hầu Đức đại vương lên đai thượng, ra oai ầm ầm nhưng đâu biết rằng mình đang diễn trò lố bịch bất kính với thánh. Chỉ có Đức ông đệ tam mới lên đai thượng để tái hiện lại hình ảnh Ngài thác hóa nguyện lấy linh khí để trấn an vùng biển Đông Bắc.

Ta không nên nhầm cái nhầm của các vị rất đơn giản nhưng lại thể hiện bất kính. Đức ông đệ tam ngự áo đỏ nếu các vị đã cho rằng đệ tam phải mặc áo trắng nhưng Ngài là đệ tam trong nhà Trần không phải trong Tứ phủ.

1. Đức thánh cả

Đức thánh cả Ngài về ngự đồng mặc áo đỏ, xuyên hai lình vào má, cắm hai quả cau non trong mồm, vắt chéo lình lên trên, buộc khăn áp vào đầu. Ngài ngự đồng đeo cờ kiếm, múa cờ kiếm. Ngài lấy dấu máu làm bùa trừ tà sát quỷ chữa bệnh (theo tiêu chí chuẩn ngài dùng tay đập vỡ đĩa sành, lấy mảnh sành cắ lưỡi rỏ máu vào giấy bản, vặn lại làm bùa hình người). Trước đây phụ nữ và trẻ con thường đeo bùa sau dải yếm. Khi bị chạm vía, bắt vía thì lấy ra đốt lên hòa vào nước cho uống.

Hiện nay người ta không hầu Đức thánh cả mà Đức đại vương về cũng xuyên lình lấy dấu máu. Thật là không phải đạo. Tại sao lại có cái nhầm đó? Bởi trước đây chư tổ của họ hầu mặc áo đỏ nhà Trần gần như giá nào cũng được phong tước và ngự áo đỏ. Vì lẽ đó rất hay nhầm nên chú ý các thày pháp và cung văn hát.

2. Đức thánh đệ nhị

Đức thánh đệ nhị hiện là Đức ông phó tằng ???? trấn Cao Bằng. Ngài ngự áo đỏ, khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm, múa cờ kiếm lệnh, chuyên việc bắt tà ma, cắm đất tìm cốt và trị trùng.

3. Đức ông đệ tam

Ngài ngự áo đỏ, khăn đỏ, đai đỏ, lưng đeo cờ kiếm, múa cờ kiếm, xuyên một lình vào má, căm ột quả cau non trong mồm, một tay đỡ lình ra oai. Sau đó Ngài cởi bỏ đai thượng, dùng hai tay tóm hai đầu đai siết chặt vào cổ. Ngài ngự đồng sát quỷ trừ tà, chữa bệnh.

4. Đức ông đệ tứ
Ít khi giá đồng. Ngài ngự áo đỏ, khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm

5. Đệ nhất Khuyên Thanh quốc mẫu
Ít khi ngự đồng. Ngài đi tu ngự áo đỏ

6. Đệ nhị Đại Hoàng công chúa

Tiên cô ngự đồng áo vàng, khăn vàng, lưng đeo cờ kiếm, múa cờ kiếm. Cô về đồng làm lễ khai quang theo phương nghi nữ giới. Cô về chữa bệnh trừ tà sát quỷ.
Hiện nay có một số đồng khi ngự cô về mặc áo màu xanh, nét xanh với lý luận cho rằng cô ở thiên thượng hay hàng đệ nhị thì mặc áo màu xanh. Nhưng cô là con gái thứ hai Đức đại vương thuộc nhà Trần chứ không phải thuộc hàng đệ nhị trong Tứ phủ.

7. Đệ tam Thái Bình công chúa

Một số nơi vùng duyên hải Thái Bình hầu cô Thái Bình công chúa, con nuôi của Đức thánh Trần, cho là ý trung nhân của tướng Trần Bình Trọng. Sự nhầm lẫn đã rất rõ ràng, vì vậy bằng lòng kính thánh và tôn trọng di chỉ tâm linh, các vị nên thay đổi tư duy của mình.

8. Đức ông phò mã

Ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, múa chấp kích hoặc giáo xuyên vào đùi hoặc thanh long đao. Ngài về tiễn đàn nhà Trần.
Sau đó hầu đến hàng lục bộ, đều mặc áo đỏ. Các hàng lục bộ về bắt tà, đi trên than lửa, trên lưỡi cày nung nóng …

Cuối cùng là hầu đến hạ ban Ngũ hổ đại tướng. Bốn ông Xích, Thanh, Bạch, Hoàng ngự về tá khẩu được, riêng ông Hắc Hổ, Ngài hách quá nên không tá khẩu được, phải lấy mâm gạo ra viết chữ. Ngài ngự đồng hiến hương, hiến tửu, hiến đĩa sành, đập đĩa ??? gầm rú khám xét bản đền từ trong ra ngoài, thường được hầu bắt tà và tạ bản đền đóng cửa phong ấn.

Thời xưa,vài nghìn người mới có một người được Nhà Thánh chọn, vì vậy mà chữ ĐỒNG trân trọng lắm. ĐỒNG ở đây nghĩa là cái ghế cho nhà Thánh ngự, từ CỐT nghĩa là xác, người ngồi đồng tựa như đứa trẻ con trong sáng, quên đi cái tôi của mình mà hóa nhập vào bóng thần thánh.



Là người mang theo mình chữ ĐỒNG thì việc giữ TÂM càng quan trọng và khó khăn hơn những người khác, Tâm sáng thể hiện ở việc rèn luyện thân, miệng, ý trở nên đoan chánh ngay thẳng. Tất cả mọi hành vi thiện hay ác, tốt hay xấu của con người đều xuất phát từ ba cửa ngõ là thân, miệng, ý. Do đó, nếu một người mà thân, miệng, ý không được uốn nắn cho ngay thẳng thì mọi hành vi của người ấy sẽ rơi vào khiếm khuyết xấu ác, đưa đến hại mình hại người. Trái lại, người nào có thân tu tập, có lời tu tập, có tâm tu tập thì mọi hành động của người ấy sẽ trở nên hiền thiện tốt đẹp, đưa đến lợi mình lợi người.

Là Thanh đồng phải biết giữ gìn lời ăn tiếng nói của mình, không để cho miệng lưỡi rơi vào những lời nói sai trái xấu ác gây tổn hại cho tự thân và phương hại đến người khác như nói láo, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm vô ích. Thay vào đó, chỉ nên nói những điều chân thật, đúng đắn; những điều đưa đến đoàn kết, hòa hợp; những điều tao nhã, hiền hòa; những điều có ý nghĩa, lợi lạc.

Muốn thực hiên được điều này, trước hết là tập dứt bỏ nói dối, chỉ chuyên tâm nói đúng sự thật; dứt bỏ nói lời gây chia rẽ người này người khác, chỉ nói những lời đưa đến hòa hợp; dứt bỏ nói những lời thô ác, chỉ nói những lời nhẹ nhàng hiền hòa; dứt bỏ nói những điều phù phiếm vô ích, chỉ nói những điều có ý nghĩa, khiến tâm tư được tịnh lạc. Phải cân nhắc lời nói của mình, xem điều mình nói ra có đúng thời hay không, có chân thật hay không, có lợi ích hay không và có từ tâm hay không, lời nói ra phải xuất phát từ động cơ thương quý người khác, mong muốn cho người nghe được lợi ích an lạc, không phải vì ghét bỏ hay do sân hận bực phiền mà “trút lên đầu người ta” những lời báng bổ.

Thanh Lam

Phò ở đây là Phò tá phò trợ, trợ giúp cho thanh đồng trong việc hầu thánh. Đây là từ nguyên bản các cụ dùng để gọi cho những hầu dâng. Sau có thể còn được gọi thêm tên nữa là Phụ Đồng.


Còn từ Tay quỳnh - Tay quế là mới sử dụng trong khoảng 10 năm gần đây. Tay Quỳnh - Tay Quế có lẽ được lấy nguyên bản từ danh từ để gọi hai vị Chầu hầu cận Mẫu Liễu đó là Chầu Quỳnh và Chầu Quế.

Với tính chất là hầu cận phò tá thanh đồng trong hầu thánh với việc Hầu hạ Thánh Mẫu Liễu Hạnh của nhị vị thánh chầu nên hầu dâng được gọi là Tay Quỳnh - Tay Quế.

Dùng hai từ Quỳnh Quế nghe thì hoa văn hơn và đẹp hơn so với từ Đồng Phò.

Tu hiểu đơn giản là sửa đổi bản thân.

Tu phải bao gồm Tu Tâm, Tu Tính.

Tu tâm chính là nâng cao nhận thức và hiểu biết về thế giới tâm linh hay thường gọi là giác ngộ tâm linh. Tin có Trời Phật - Nhân Quả, đức tin thuần khiết không có ô tạp, không vụ lợi và không có bất cứ điều kiện trao đổi nào hết. Tự tin, tự nguyện làm theo điều mà mình tin tưởng, điều mình cảm nhận được sự đúng đắn mà không thể có tác động nào khiến ta lay chuyển tư tưởng và mục đích.


Tu tính là hoàn thiện bản thân dựa trên những nguyên tắc cuộc sống, quy luật của muôn đời. Những đạo lý bắt buộc phải tuân theo như đạo làm người, đạo làm cha, đạo làm mẹ, đạo vợ chồng, đạo làm con, đạo thầy trò, ...Biết nghe điều hay, làm điều phải, tránh sự sa ngã trong dục vọng, khiêm tốn học hỏi, dẹp bỏ kiêu căng, nóng nảy... Người tu thì luôn nhận thức rằng đời là bể khổ nên khi mới sinh ra đã phải cất tiếng khóc để chào đời (chưa thấy có ai cười khi mới sinh ra cả!), rằng cuộc sống này chỉ là khởi điểm cho một hành trình dài kiếp sau. Cái ta đã, đang và sẽ đón nhận chính là kết quả việc ta được trả nghiệp kiếp trước. Điều đó giúp ta tìm hiểu để khắc phục, sửa chữa, đền bù những hậu quả lớn nhỏ của tiền kiếp mà ta vốn đã gây ra. Biết được rằng cái gì xảy ra cũng phải có nguyên nhân của nó, tìm hiểu và tháo gỡ hay an phận và thuận theo hay cay cú tìm mọi cách đáp trả? Muốn biết cách làm thì phải chịu khó học hỏi. "Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học", rồi dần dần thông hiểu, hiểu rồi thì không kêu ca, phàn nàn, đau khổ, trầm uất,...

Như vậy đó chính là tu. Người tu như thế thì chẳng cần phải nhất định theo một tôn giáo nào cả cũng vẫn đắc đạo. Trong cuộc sống luôn được người đời kính nể, tôn trọng, tin tưởng.

Nghe thì tưởng đơn giản, nhưng thực hành nó thì không có dễ chút nào.

Bây giờ người người hô hào theo phật pháp, lớn tiếng nói rằng tu phải thế này, thế nọ, học thì ít nói thì lắm mà chữ giác ngộ vẫn còn xa lắc xa lơ. Đúng là buồn cười !

Phúc Tâm Pháp Sư

Tất cả đều do chữ Nhân - Quả mà ra.

Chả cứ người làm thầy phải bạc phước mà tất thảy con người trên thế gian này đều phước bạc. Bởi vậy khi sinh ra chẳng có ai là không cất tiếng khóc chào đời.

Không có gia đình nào được hạnh phúc mỹ mãn đến cảnh đầu bạc răng long. Sinh Lão Bệnh Tử vốn là quy luật tự nhiên chi phối. Người này giàu sang thì phải bị bệnh tật hiểm nghèo vô phương cứu chữa hoặc có khi đến giai đoạn nào đó còn phải chết bất đắc kỳ tử. Người kia cuộc đời tránh được những hạn họa lớn thì phải chấp nhận cảnh nghèo đói khổ sở, bần cùng.

Rồi những cảnh vợ chồng con cái phải ly tán. Những cảnh tang tóc, bi thương xảy ra cho những gia đình được coi là hiền lành tử tế. Những cảnh trùng tang cả nhà phải thiên thu vĩnh biệt mặc dù họ sống cũng rất tốt bụng, ăn ở có trước có sau.…..vv, và còn rất rất nhiều những trường hợp ai oán, buồn lòng khác nữa.

Như thế thì họ bạc phước hay là có phước? Cái đó do nguyên nhân gì? quý vị am hiểu về tâm linh chắc chắn là đã hiểu.

Lại nói về mấy ông Thầy Bà. Tiền kiếp của mỗi người theo cái nhân quả tội phúc báo ứng mà có định nghiệp cho quá trình chuyển nghiệp vào cõi Nhân để tái sanh làm người ở kiếp này.


Tại sao có người số phận phải làm Thầy người ta, vậy phải tìm hiểu coi ra làm sao, mỗi người mỗi phận, vô vàn chướng nghiệp và định nghiệp. Nay chỉ nêu vài trường hợp điển hình:

1- Tiền kiếp nếu là người đã tu tập đắc đạo, kiếp này tiếp tục được định nghiệp là con nhà Phật con nhà ông Thánh, có số làm Thầy. Những người này tu tập đến nơi đến chốn, trình độ thâm sâu, biết lẽ phải trái, biết đường hay dở, nhiệt tình cứu giúp bá tánh. Hiểu người hiểu đời, viết sách, giảng đạo, dạy dỗ cho thế hệ tiếp nối biết đến chánh pháp, xa rời tà đạo. Đối với người theo Phật giáo thì tài danh hoằng dương Phật pháp, công đức vô lượng. Đối với người theo đạo Mẫu thì tư chất siêu phàm, đức cao vọng trọng, danh tiếng truyền đời.

2- Tiền kiếp nếu là người trong sạch, lương thiện, nhưng chỉ tin theo đạo Phật mà chê bai Thánh Thần. Kiếp này được định nghiệp là con nhà Phật, con nhà ông Thánh để tu tập cho đến nơi đến chốn. Trường hợp này Thầy Bà là những người có lương tâm trong sạch, đường hoàng thẳng thắn, có tài có đức. Đắc quả hay không còn tùy duyên tu tập.

3- Tiền kiếp chuyên làm nghề sát sinh, nhưng lại có tấm lòng hoan hỉ, thường bố thí cúng dường, nhất tâm công đức, làm nhiều việc thiện, phả độ cho gia tiên, phóng sinh tạo phước… Kiếp này được định nghiệp làm con nhà Phật, con nhà ông Thánh hưởng lộc Phật,Thánh. Nhưng trường hợp này làm Thầy Bà thì vẫn còn chưa đắc giác ngộ đạo. Thường tài danh và tham sân si đi liến với nhau, gây nhiều chê bai, ai oán, hiềm khích, khó đắc thành quả.

4- Tiền kiếp là kẻ hay phỉ báng Thánh Thần, chê bai Bồ Tát, làm bẩn chùa chiền, điện, miếu. Kiếp này định nghiệp làm con nhà Phật, con nhà ông Thánh để tu tập cho thêm hiểu biết. Tuy cũng là Thầy Bà nhưng tu tập nửa vời, kiến thức chắp vá không chuyên nhất, gian giảo mưu mẹo, lừa thầy phản bạn, tài danh thực lực không có, thùng rỗng kêu to. Buôn thần bán thánh, tà tâm hại người khó đắc thành quả...vv.

Tóm lại có rất nhiều trường hợp Thầy Bà, tùy đạo hạnh, tùy duyên mà coi bạc phước hay phước đức lớn lao. Người am hiểu về tâm linh thì phải nhìn nhận ở nhiều góc độ khía cạnh khác nhau để phân tích cho rõ ràng.

Con người kiếp trước tu tập tốt, làm nhiều điều phước thiện, kiếp này sẽ có phước, gặp được bạn tốt, gặp được người tốt, gặp được Thầy Bà có tài có tâm có đức.

Con người kiếp trước tu tập chẳng ra làm sao, tà tâm ác độc, kiếp này sẽ vô phước, gặp phải bạn xấu, gặp lũ người bất lương, ma xui quỷ khiến gặp đúng Thầy Bà tâm Ma, trí Quỷ.

Vậy nên trước tiên phải xem thân ta duyên phận thế nào mà gặp được người hay, bạn tốt. Cũng như tại sao lại gặp phải lũ Yêu Quỷ hại người, rồi lầm đường lạc bước để thân kia phải chìm đắm mãi trong đau khổ khôn cùng.

Phúc Tâm Pháp Sư 

1. TRÌNH ĐỒNG MỞ PHỦ

 Người mang căn đồng số lính tới thời điểm nhà ngài chấm đồng bắt lính, duyên phận gặp người thầy chỉ dẫn, giảng giải, nhanh chóng lĩnh hội kiến thức và giác ngộ nhất tâm xin ra trình đồng, thì phải qua một nghi thức lễ bái để trình diện tiên, thánh, chính thức gia nhập vào thế giới tâm linh.

Trong pháp sự khoa nghi theo cổ lệ không cúng lễ Phật và không dâng sớ Phật vì việc này thuộc sự kiện của Tiên, Thánh, không thuộc bên Phật giáo.


Người đồng thầy hầu chứng đàn duyên cho tân đồng (người sau này sẽ trở thành con hương đệ tử), ngoài việc chứng đàn mã dâng tiên thánh thì còn có những thủ tục rất quan trọng khác phải làm như: phê sớ điệp tấu trình tứ phủ, khai hồ, làm thủ tục cắt tóc (cắt tóc làm tôi, nối đời làm con), chải đầu cho tân đồng, soi gương, quạt mát, đến thủ tục cuốn cầu, rồi mặc áo hoặc buộc khăn…, đều là những việc làm với mục đích chứng nhận tân đồng chính thức trở thành con nhà ngài, được đại diện phủ ấy (ví dụ thiên phủ, hoặc nhạc phủ hoặc thủy phủ hoặc địa phủ) chấp thuận, phê chuẩn. Bởi vậy khóa lễ đó gọi là Trình đồng mở phủ, mỗi phủ sẽ được mở để đón nhận thành viên mới trong những nghi thức bắt buộc về tâm linh đối với người đồng thầy và tân đồng.

Như vậy ta hiểu rằng trình đồng mà không mở phủ thì đương nhiên không thể gọi là trình đồng. Đối với người thanh đồng thuộc nhóm soi căn, nối quả phải tôn cất lập thờ (tức là phải lập điện) thì sau khi hầu tạ bách nhật yên vị bản mệnh, người đồng thầy sẽ tiến hành những công việc cần thiết theo quy định, giúp cho tân đồng từng bước tu tập, giúp cho cuộc sống yên ổn vui tươi, từng bước tiến bộ hoặc cao hơn nữa là cứu khổ độ mê cho bá tánh…

2. XUẤT THỦ KHAI CĂN

Người mang căn đồng số lính tới thời điểm nhà ngài chấm đồng bắt lính mà không biết, bị lỗi đồng phạm luật mà không hay, tới khi có duyên gặp thầy chỉ bảo cho, bỗng nhiên giác ngộ thân phận, hiểu rằng có nghiệp tu nên kiếp này làm con nhà thánh, nhất tâm nguyện nhất dạ thành, không nề hà khó khăn, gian khổ, thử thách, không vụ lợi và điều kiện. Tuy nhiên, khổ nỗi trong số ấy, đến lúc ngộ ra thì có người đã khánh kiệt tài sản, đúng là cổ nhân nói không sai: "sạch sành sanh mới được manh áo đỏ", nên phải xin tôn nhang đội lệnh trước khi ra trình đồng (đối với nhóm đồng soi căn, nối quả, gọi hồn) hoặc xin khất đồng (xin hoãn thời gian ra trình đồng trong một khóa là 3 năm hoặc 2 khóa là 6 năm, 3 khóa là 9 năm, 4 khóa là 12 năm đối với nhóm đồng bóng = đồng hầu). Một số người khác mặc dù hoàn cảnh cực kỳ khó khăn gian khổ vẫn cố gắng hết sức vay mượn anh em,bạn bè…không nao núng tinh thần, không mệt mỏi ý chí, với lòng tin tưởng vô hạn, vô biên, nơi tiên thánh, nơi căn mệnh.


“Xuất thủ khai căn” ý nghĩa như : “Mang miệng đến tâu, mang đầu tới bái”. Tức là đã biết mình con nhà thánh thì nguyện tuân thủ theo phép nhà ngài, không dám trễ nải, chống đối, buông xuôi, do dự. Tự nhiên căn mệnh được khai mở, thông xuốt, tư tưởng nhẹ nhàng, tâm trí thanh thoát, trong người không còn nóng bức, nặng nề, lo lắng ưu tư, âu sầu phiền não…con đường tâm linh phía trước đã mở ra, chỉ là đặt bước chân lên đó sớm hay muộn, nhanh hay chậm.

Như thế chúng ta hiểu rằng “xuất thủ khai căn” có một điểm khác với “trình đồng mở phủ”, người trình đồng mở phủ là người đã làm đầy đủ những thủ tục cần thiết để làm lính, làm ghế. Người xuất thủ khai căn là người có thể chưa ra trình đồng mở phủ (mới xin tôn nhang đội lệnh hoặc xin khất đồng) hoặc đã ra trình đồng mở phủ.

Phúc Tâm Pháp Sư 

Các bạn thân mến !

Xin chia sẻ cùng các bạn một nội dung thường gặp trong cuộc sống thường nhật, đó là vấn đề Vong nhập và cách hóa giải. Bài viết này không nhằm quảng cáo cho cá nhân ad mà mong muốn qua những kiến thức dưới đây các bạn sẽ có một cái nhìn đúng đắn về bản chất, sự vật, hiện tượng vong nhập và đưa ra cách lựa chọn phù hợp nhất cho bản thân mình, gia đình và xã hội chung quanh, tránh để bị một số thầy bà lợi dụng tiền mất tật mang các bạn nhé.




Trước khi đi vào phần nội dung chính ad xin được chia sẻ cùng các bạn về những kỷ niệm khó quên về những ngày đầu ad phụng mệnh cha mẹ sát quỷ trừ tà, cứu độ bách gia trăm họ.

Sinh ra trong một gia đình thuần nông, từ bé ad vốn nghịch ngợm và vốn cũng không biết nhà phật nhà Thánh uy linh như nào, nói ra thì xấu hổ nhưng đó là sự thật. Những ngày cha chấm đồng mẹ bắt lính, đúng là ad không muốn ngoan cũng phải ngoan, vì cứ hư là bị cốc đầu liên tục, đau đầu không thuốc gì chữa nổi. Khi ad cúi đầu đội lệnh làm việc 4 phủ nghi thức cũng chỉ đơn giản chứ không được đàn cao cỗ đầy như bây giờ. Ngày đó ad bị thử tâm liên tục, và việc đầu tiên ad được bề trên chỉ dạy là nhiệm vụ tróc Vong. Cũng không biết từ đâu đưa đến mà những người bị Vong nhập, vong ám tự tìm đến ad. Vốn tính ngay thẳng lại thương người, ad không đắn đo gì nhiều, hỳ hục lôi người bị Vong nhập ra tróc, tróc mãi đến nỗi người dương lả đi mà Vong ngang bướng không chịu khuất phục, sau này ad mới hiểu đó cũng chính là một bài học mà cha mẹ dậy, không phải chuyện gì cũng mang pháp ra để giải quyết được, điều cốt lõi phải tìm ra nguyên nhân, từ đó mới tìm ra cách giải quyết hợp tình hợp lý.

Vậy nguyên nhân vong nhập, cách hóa giải ra sao? Xin mời các bạn cùng đọc nhé.

Thông thường có các loại vong nhâp như sau:

1. VONG NHẬP DO CĂN QUẢ: 

Trường hợp này thường gặp khi ngồi trong đền to phủ lớn mà bị ốp thì 99% là ốp bóng hoặc hành sai nhà thánh đi bắt đồng ốp lên để báo cho biết căn quả. Khi gặp trường hợp này, một người thầy hiểu biết sẽ không mắng chửi họ mà bình tĩnh bảo họ quỳ xuống xin cha mẹ cho họ biết đường mà lội biết lối mà lần, nhất tâm theo sự sắp xếp của cha mẹ. Trường hợp này thầy nào mang pháp ra mà áp chế sẽ gây ra nghiệp cho thầy.

2. VONG NHẬP DO NỢ TIỀN DUYÊN: 

Duyên ở đây chia làm hai dạng: Duyên nghiệp và Duyên nợ

Duyên nghiệp: Tiền kiếp trước đây giết người, gián tiếp giết người, phá hoại trộm cắp ở Đền, Chùa, Miếu..v…vv. Vong nghiệp này thường đói khát, đau đớn

Duyên nợ: Tiền kiếp bạn phụ bạc người khác khiến họ sinh oán hận mà tự sát. Biểu hiện của Vong do nợ duyên là đêm ngủ thấy có người vào nằm cùng, cá biệt có trường hợp thấy quan hệ với vong như vợ chồng và có thể có con âm

Vong nghiệp có lúc ốp ở nhà, nếu ốp tại Đền, Chùa thì cha mẹ và binh tứ phủ cũng không can thiệp, vì đó là quy luật nhân quả, và khi đó vong muốn báo cho con cháu người đó biết mà giải nghiệp đi. Người thầy khi đó cần bình tĩnh hỏi xem Vong đó là ai, muốn gì, sau khi đáp ứng nguyện vọng của vong, thầy sẽ nương nhờ sức mạnh phật pháp khuyên nhủ để Vong buông bỏ sân hận, tu hành để siêu thoát. Biên pháp giải quyết này hợp tình hợp lý phải không các bạn. Đối với Vong do nợ duyên thường thì sẽ nhờ thầy có pháp cắt giải tiền duyên

3. VONG NHẬP DO HỢP DUYÊN: 

Biểu hiện sẽ thường ốp lên nói thích người này, hoặc nhờ đến nhà họ bảo gia đình họ đón vong về, hoặc xin ăn xin uống, quần áo. Đối với Vong này sau khi đáp ứng nguyện vọng mà Vong không đi thì đưa đến gặp thầy nhờ thầy hóa giải.

4. VONG NHẬP DO TIỀN CHỦ NHẬP:

Khi chúng ta khấn thỉnh tuần rằm mùng 1 thường có câu khấn “con cung kính thỉnh mới các vị tiền chủ hậu chủ ở trong nhà này, đất này, đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng”. Đúng vậy, các vị tiền chủ là các vị ở trên đất trước khi gia chủ chuyển đến, các vong tiền chủ này chưa đi đâu, hoặc do gia chủ chưa mua đất âm, chưa lập bát hương tiền chủ nên Vong tiền chủ ốp lên để đòi quyền lợi ( cũng có một số vong Tiền chủ không đòi hỏi gì mà sống hòa thuận với gia chủ)

Biểu hiện của Vong tiền chủ: Gia chủ nuôi con vật gì cứ đến khi gần thịt được thì tự lăn ra chết, hoặc gia chủ khi ngủ vong tiền chủ sẽ báo cho biết đang ở trên đất của họ. Trường hợp này nghiêm cấm dùng pháp mà đuổi họ đi, vì mình đến ở trên đất của người ta, người ta có quyền đòi hỏi. Gặp trường hợp này, hãy hỏi họ muốn gì, cho ăn uống quần áo ngân xuyến rồi lên chùa tu để đầu thai, hoặc sang bên cửa thánh hầu hạ, hoặc lập bát hương tiền chủ thờ cúng, sống chung hòa thuận với gia chủ, vì có trường hợp vong tiền chủ hợp với gia chủ sẽ phù hộ cho họ rất nhiều.

5. VONG NHẬP DO BỊ THẦY KÝ BINH: 

Biểu hiện: Người bị binh ký cơ thể hôi hám, tính tình bất thường, phá phách, đêm gia chủ ngủ hay bị bóng đè, ai sát âm thì thấy vong đó cứ lảm nhảm trong đầu, hoặc thấy nó nhẩy lên người mà nhẩy, ngủ dậy mệt, đau người. Khi gặp trường hợp này khuyên bạn nên gặp ngay thầy cao tay để trục vong

6. VONG NHẬP DO THAM PHÁP:

Một số hành giả tu hành do tham pháp nên tự ý khai mở Luân xa dẫn đến tạo cửa ngõ cho Vong nhập, biểu hiện: Tự xưng thần, giả phật, thánh. Đối với trường hợp tham pháp nếu phúc phần nhà họ tốt sẽ được gia tiên chỉ bảo gặp thầy tốt, bằng không sẽ gặp phải thầy linh tinh tự ý khai mở khi chưa có đầy đủ kiến thức và biện pháp bảo vệ cho mình, dẫn đến vong tà nhập. Lúc này thầy cần khóa huyệt người đó lại, giải vong đi theo, làm sạch cái bóng của họ để không bị loạn nữa

7. VONG NHẬP DO GIA TIÊN NHẬP VÀO CON CHÁU RỒI KHÔNG CHỊU RA: 

Thông thường gia tiên nhập vào con cháu để ăn uống và có cảm giác như người dương, trường hợp này cũng phải đến thầy tróc ra

Các bạn thân mến, người xưa có câu “ Nói dối như Ma”, câu nói hàm ý vong thường nói dối vòng quanh, vì vậy muốn trục Vong cần tìm thầy có pháp lại có tâm đức để tìm ra nguyên nhân thì mới đến biện pháp giải quyết. Tuy vậy ad cũng lưu ý với các bạn, người thầy cũng chỉ hộ trợ một phần, bản thân nguời dương phải thành tâm sám hối về những lỗi lầm mình đã gây ra. Phát tâm làm việc thiện để bồi đắp công đức, khi đã đủ duyên thì thầy sẻ giải quyết theo từng trường hợp, bản thân người thầy tróc Vong cũng phải làm đúng phép, tróc Vong là dùng phép và đòn âm đánh chứ không ai dùng roi hay tích trượng để vụt vào người dương đến thâm tím. Và một điều lưu ý nữa là, đối với Vong nhập lâu ngày thì cần phải có thời gian để tróc, vì Vong làm vía của gia chủ yếu rồi Vong đẩy dần vía ra để Vong chiếm xác, nên phải có thời gian để thầy hồi phục dương khí cho người dương, vội vàng tróc có khi Vong chưa ra người Dương đã không chịu nổi.

Trên đây là những kiến thức nhỏ bé ad thu thập được trong quá trình hành pháp, xin được chia sẻ cùng các bạn, rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của các bạn để cùng học hỏi. Thân chúc các bạn dồi dào sức khỏe và đạt mọi sở nguyện.

Đồng Âm

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.