bài viết trong chuyên mục "địa lí phong thủy"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn địa lí phong thủy. Hiển thị tất cả bài đăng

Sơn – hướng và trạch trong Phong thủy?

  Xét riêng môn Bát Trạch, ta thấy các khái niệm chính được đưa ra không kèm theo một định nghĩa nhất quán và do đó đã đưa đến những quan niệm trái ngược về Tả, Hữu, Sơn, Hướng, Trạch mệnh…
   Sau khi căn cứ vào biến quái và quan hệ sinh khắc để định Bát Trạch du niên, người ta căn cứ vào vị trí các cung cát hung để quy ra Đông Tứ Trạch và Tây Tứ Trạch phối hợp với Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh từ 8 Quái mệnh. Cách định danh Trạch không được quy định chặt chẽ nên sách này theo Hướng, sách kia theo Sơn. Người học theo sách phối hợp Trạch và Mệnh quái không biết thế nào là đúng.
   Với quan điểm Âm trạch có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ cháu con trong khi Dương trạch chẳng qua chỉ thích nghi với một chủ gia đình, Khoa Phong Thủy Dương trạch hẳn chỉ là phần ngọn của trái núi băng mà thôi. Vì người ta cho rằng khoa Âm Trạch dựa trên những đặc tính đảo chiều của Dương Trạch, nên khó tin rằng Phong Thủy Âm Trạch có mức độ lý luận hoàn hảo hơn Phong Thủy của Dương Trạch.
   Có lẽ Phong Thủy – như nhiều người đã khẳng định – là một thuật quý tộc, ban đầu chỉ dành cho vua chúa và giới thượng lưu sử dụng. Những tầng lớp này dùng Phong Thủy  để chọn đất làm kinh đô, xây thành lũy, đền đài, cung điện và dinh thự. Những công trình này bao giờ cũng có hình dáng có thể quy về hình vuông, có tỷ lệ diện tích xây dựng trên chiều dài tường bao thuận lợi hơn cả. Những công trình này đặc biệt thích hợp cho việc áp dụng các quan hệ Bát quái đơn thuần hoặc các quy tắc của thuật Bát Trạch.
   Những tác giả sau này của giới Phong Thủy Hồng Kông cũng nhận thấy những nhược điểm trong hệ thống lý thuyết của Phong Thủy, nhất là của Bát Trạch nên họ cố gắng đưa ra những định nghĩa cho các khái niệm chủ yếu của Phong Thủy nói chung và Bát Trạch nói riêng như Eva Wong, Joey Yap… Sau tham khảo những tư liệu của họ. Ta cần nghiên cứu suy luận, chỉnh lý.
Xuất sứ của Sơn và Hướng
   Có tác giả đưa ra nhận định rằng, người xưa khi chọn chỗ xây nhà thường dựa trên quan điểm ghế bành, tức là phải có Sơn để tựa lưng và hai bên Tả Hữu che chắn cho an toàn. Chính vì ưu tiên làm nhà tựa lưng vào gò, núi nên mới có từ Sơn chỉ lưng nhà, chứng tỏ những người lập ra môn Phong Thủy vốn sinh sống ở vùng nhiều núi, như Nam Hồng Kông ngày nay. Quan điểm tìm chỗ dựa lưng này cũng thể hiện trong thuật tác chiến, tự vệ. Như Hồ Dzếnh đã nói đến trong tác phẩm của ông, cho đến giữa thế kỷ trước HK có hai loại người chính, một loại làm lụng kiếm ăn còn loại kia chuyên đi ăn cướp. Nếu lập một gia trang có ba mặt được thiên nhiên bảo vệ trừ mặt trước, chắc chắn việc phòng vệ sẽ dễ dàng hơn cho người trong nhà. Như vậy, chắc chắn sẽ có những học giả hoặc những người ứng dụng Phong Thủy xuất phát từ thực tế đi chọn đất làm nhà mà xem Sơn quan trọng hơn Hướng.
   Nếu những dân tộc du mục trên thảo nguyên lập ra môn Phong Thủy, chắc sẽ không có danh từ Sơn. Ta có thể tin rằng họ sẽ xem Hướngquan trọng hơn vì phải bố trí cửa lều thích hợp tránh ảnh hưởng gió mạnh. Nếu Phong Thủy là một học thuật ứng dụng được trên toàn cầu, nó sẽ phải trút bỏ những giới hạn gây ra bởi ngôn ngữ như từ Sơn… hoặc những ảnh hưởng mang tính thực dụng phụ thuộc vào địa phương, khu vực văn hóa…
   Thực ra, để tránh những xung đột của hai cách định danh hai dạng cư xá theo Hướng hoặc theo Sơn ta chỉ cần hiểu các khái niệm Đông Tứ Gia, Tây Tứ Gia căn cứ vào hai nhóm chính phân bố các cung Cát, Hung của Nhà ở và của Mệnh để phối hợp sao cho hợp lý là đủ.
   Điều quan trọng ở đây là phải xác định được Hướng hậu (Sơn) hay Hướng tiền (Hướng), yếu tố nào có tác dụng mạnh hơn đối với con người cư ngụ trong căn nhà hay căn hộ đó.
Xác định Hướng
   Theo nhiều tác giả và hợp với suy luận, Hướng hậu và Hướng tiền gọi chung là Hướng nhà phải nằm trên một đường thẳng đi qua tâm nhà. Xác định được Hướng tiền sẽ biết Hướng hậu.
   Xuất phát từ một căn nhà tiêu chuẩn hình vuông, Hướng nhà sẽ đi qua điểm giữa cạnh trước và cạnh sau của nhà.
   Ở đây lại nẩy ra một khái niệm mới: Trước (và Sau), thế nào là Trước.
   Nếu ta quan niệm một người ngồi mặt, ngực, bụng bao giờ cũng hướng về phía trước thì một cái nhà chắc cũng không thể khác. Nếu Hướng chính là phía mắt ta nhìn tới thì một căn nhà có chiều dài áp sát một minh đường rộng rãi như bãi đá bóng chẳng hạn, ta cũng không thể theo “Thẩm thị Huyền Không học“ mà quyết định rằng đó chính là mặt trước của nhà nếu như bờ tường nhà phía này không có cửa sổ hoặc ít hơn hẳn so với các bờ tường phía khác. Đó là vì căn nhà ấy đang hướng về phía khác thông qua những cặp mắt cửa sổ của nó. Một cửa ra vào có thể thường xuyên đóng kín, nhưng các cửa sổ đưa ánh sáng, không khí vào nhà không mấy khi bị bịt kín.
   Phong Thủy quan tâm đến Khí, phía tường có nhiều cửa sổ có lẽ là phía tiếp nhận Khí chính của căn nhà. Người ta nói nhiều về thuộc tính của Khí. Kinh nghiệm cũng ít nhiều chứng minh là khi một vật nhọn (tập trung ác khí) chĩa thẳng vào cửa sổ nguy hiểm với người trong nhà hơn là khi nó chĩa vào một bờ tường kín. Ngược lại, một cái cửa ra vào trổ rất đúng cát hướng nhưng nhìn vào bờ tường hàng xóm ở cự ly 1,5 thước thì cái Cát ấy cũng bằng không.
   Các ngôi nhà, căn hộ trong thực tế có nhiều hình nhiều dạng, có lẽ trực quan người làm Phong Thủy có kinh nghiệm sẽ nhận ra được đâu là Hướng nhà thực sự. Cũng theo quan điểm đã trình bầy trên, Hướng tiền sẽ có ảnh hưởng chính yếu.
Trạch là gì
   Theo Tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh từ Trạch có nhiều nghĩa trong đó có một cách viết chữ Trạch mang nghĩa là nhà ở, mồ mả. Từ đó có các từ ghép như trạch-khoán là khế ước bán nhà, trạch-ưu là nỗi buồn trong nhà. Danh từ đặc trưng cho nhà ở chắc phải ra đời ít nhất là khi người ta thôi ở hang và biết cất lều để cư trú. Do đó, nếu người Tàu không có từ nào thông dụng hơn từ Trạch để chỉ nhà ở bình thường (TP không sành Hán tự ) thì chắc khó thể chứng minh từ Trạch xuất xứ từ tiếng Việt cổ.
   Phong Thủy LạcViệt đưa ra khái niệm Trạch – như anh Thiên Sứ đã giải thích – khái niệm này không thể lẫn lộn với khái niệm Trạch trong từ Bát Trạch nói trên, vì khái niệm Bát Trạch này được xác định dựa vào Hướng hậu (Sơn) hoặc Hướng tiền (Hướng) của một ngôi nhà.
   Vì khái niệm Trạch trong Phong Thủy Lạc Việt có tương quan với long mạch, tức là mang yếu tố đường truyền dẫn Khí.Nên ta có thể có nhận xét là:

Trạch của một căn nhà là phần nối tiếp của một chi (nhánh) dẫn Khí xuất phát từ một nguồn Khí nhất định.
   Do Khí tồn tại trong Hình, có những hình thể hiện Khí tụ, ngược lại những con đường là mạch khí vận hành định hướng. Ngõ vào nhà xuất phát từ một con đường xa lộ chắc chắn không thu được Khí tốt như khi xuất phát từ một khu vực tụ Khí. Với suy luận như vậy, Trạch sẽ là một thứ Khí mạch từ xa tới đi qua cửa chính của ngôi nhà và ra khỏi cửa thoái khí trở về với tự nhiên – như anh Thiên Sứ cho rằng:
   Thiết kế nhà nên tránh hiện tượng bế khí. Nếu vậy Trạch sẽ là con đường thuận tiện nhất để Khí sau khi qua cửa vào trong nhà tìm cửa Thoái khí mà ra ngoài.   Nếu nhận xét này là hợp lý ta sẽ thấy nên bố trí nội thất sao cho Khí qua cửa chính đi vào trong nhà có thể qua hết các khu vực sinh hoạt chính để trục hết tà khí đi rồi mới ra ngoài trời. Nhận xét này ít nhất cũng hợp lý ở kinh nghiệm phong thủy, tránh không để cửa ra vào cùng các cửa trong và cửa sổ tường hậu hay cửa hậu thông nhau trên một đường thẳng là đường Khí đi ngắn nhất (Những tai hại xẩy ra không phải chỉ thuần túy vì gió lồng).
   Trong một cuốn sách Phong Thủy, tác giả tuy không nên khái niệm Trạch, nhưng nhấn mạnh việc phải bố trí Khí khẩu sao cho Khí vào nhà không lưu thông với tốc độ quá cao không chỉ gây gió lồng ảnh hưởng đến sức khoẻ mà còn gây các thiệt hại tài lộc khác. Tác giả đề nghị nên bố trí để dòng khí lưu thông được dễ dàng lần lượt qua các khu vực chính trong nhà. Một cuốn sách khác nhấn mạnh rằng , đối với một tòa nhà thì xét Hướng tiền là quan trọng, nhưng trong nhà phải xét Khí khẩu theo Bát quái du niên, vì phải chú ý đến đường khí lưu chuyển.

   Nhiều nhà tuy có cửa chính, nhưng phần lớn thời gian trong ngày chỉ dùng cửa phụ. Như vậy Trạch của họ chỉ mang tính lý thuyết. Khi xét cụ thể có lẽ phải xét Trạch của cửa phụ. Cũng qua cách suy luận trên đây ta phải đi đến kết luận là dù Trạch được bố trí tốt đẹp đến đâu, nhưng nếu nó không có nguồn Khí dồi dào nuôi cho thì cũng chỉ là Trạch giả. Thí dụ một căn nhà nhà cao cửa lớn nhưng lối vào phải lách qua mấy cái ngõ nhỏ xuyên qua sân nhà khác. Như vậy ý nghĩa của Trạch theo quan điểm Phong Thủy Lạc Việt không thể tách rời Hình Lý Khí của mội trường kiến trúc

Thế nước và nguyên tắc bố trí nhà ở

    Nói chung, trong một dãy núi, nơi nước chảy đến gọi là Thiên Môn, nếu nước chảy đến mà không nhìn thấy nguồn gọi là Thiên Môn mở, Thiên Môn mở thì nguồn tiền tài sẽ dồi dào. Nơi nước chảy đi gọi là Địa Hộ, không thấy nước chảy đi gọi là Địa Hộ đóng, Địa Hộ đóng lại thì tiền của không bao giờ cạn kiệt. Đây chính là điều mà người xưa đã từng nói: “Nguồn nước chảy đến phải quanh co bao bọc hữu tình, không được chảy thẳng và đóng lại, nơi nước chảy ra nên đóng kín, sợ nhất là nước chảy thẳng một mạch mà không gom lại”.
    Lựa chọn xong thế nước tốt như vậy, bước tiếp theo là phải tìm đất bố trí nhà ở, thông thường nên xây dựng nhà ở “Sầm vị”. Sầm vị chính là mặt có nước bao quanh, thông thường không thể xây nền nhà ở ven sông. Điều này rất phù hợp với nguyên lý lực học của sông nước. Ở nơi khúc khuỷu của dòng sông, do lực quán tính của nước, trải qua thời gian càng dài thì càng được bồi thêm đất, nếu ở bên ngược lại thì lâu dần đất nền nhà có thể sẽ bị nước sông làm xói mòn.

1/. Nơi có nhiều dòng nước hội tụ thì khí ngưng tụ
    Các con sông lớn bắt nguồn từ trong hàng vạn khe núi, chảy quanh co ngoằn ngoèo về phía này, sau khi hợp lưu lại ở đây thì đổ vào một con sông lớn, một hồ nước lớn. Theo quyển sách Phong Thủy nổi tiếng Thủy Long Kinh  thì nơi đây là một “ tụ thủy cách” hiếm có.

2/. Nơi có núi bao quanh chắn gió, khí không phát tán, có nước ngăn lại thì khí ngưng tụ
    VD: Phía Tây Bắc của vùng đất quý về Phong Thủy có ngọn núi hình vành khuyên che chăn gió Tây Bắc, phù hợp với định luật Phong Thủy “sông núi bao bọc ắt có khí”, “sông núi bao bọc ắt đại phát”. Phía Bắc có tầng tầng lớp lớp bao quanh như: Cửu Linh Sơn, Liên Vân Sơn, Mạc Phụ Sơn v.v., hình dáng và phương hướng đều tốt cả.
    “Khí gặp nước thì ngưng tụ” Phía Bắc vùng đất quý về Phong Thủy là khu vực trung du của các con sông lớn, còn có những ngọn núi lớn và hồ nước nổi tiếng, chúng lưu khí ở khu vực này một cách hiệu quả, làm cho khí không phát tán được.

3/. Phía Nam là miệng khí, sinh khí ùn ùn không dứt
    Ở phía Nam và phía Tây Nam khá xa của vùng đất quý về Phong Thủy có Viễn Sơn, Vu Sơn, v.v. trải dọc hình thành vùng núi sông và tạo ra miệng khí. Trên những con sông này, nếu hướng núi chuyển sang hướng chạy ngang thì sinh khí sẽ không đến được, khí trường cũng sẽ xấu đi.
    “Hồ lớn, sông lớn thu nạp nhiều khí, dòng nước nhỏ lặng lờ trôi không thể chắn được gió, nếu chảy hổn loạn như dệt tơ, không phân nguyên vận cũng vẫn suôn sẻ thuận lợi”
    Sự lựa chọn địa điểm xây dựng kinh đô cổ ngày xưa và thành phố lớn thời cận đại cũng đã chứng minh sự xét đoán của người xưa. Lật bản đồ thế giới ra xem thì sẽ biết, hễ những nơi khúc khuỷu, nơi đổ ra biển của những con sông lớn ắt sẽ có thành phố lớn, hơn nữa nơi đó thường là thủ đô hoặc trung tâm thương mại lớn. Song những người không hiểu học thuyết Phong Thủy chỉ nhìn thấy mặt tiện lợi về giao thông ở nơi đó như vậy là không toàn diện.

4/. Chọn lựa nhánh sông, nước chảy chậm rãi thì khí sẽ ngưng tụ
    Mấu chốt của vấn đề này nằm ở chỗ: tốc độ di chuyển của ngoại khí có trùng khớp với tốc độ lưu thông khi huyết trong cơ thể người hay không. Điều này cũng giống như tốc độ vẽ bùa của ông trời phải phù hợp với tốc độ khí huyết lưu thông nhanh chậm của cậu ấm con trời.
    Những con sông lớn, nhất định có tốc độ chảy nhanh. Đương nhiên, nơi có khúc ngoặc thì khí trường tốt, tức cái gọi là “chỗ lượn ắt hữu tình”. Nhưng vì tốc độ chảy tương đối nhanh nên khiến cho khí bị phân tán hay còn gọi là khi xung. Giống như những gì mà người xưa đã nói trong Thủy Long Kinh: “Những con sông lớn tuy có khúc ngoặc nhưng khí của chúng rất mênh mông”. Vì vậy người xưa cũng nói: “Bên cạnh những con sông lớn cần có thêm sông nhánh làm Nguyên Thần (nguồn nước nuôi dưỡng sinh mệnh) bao bọc thành phôi thai, nhờ thế thất khí nội sinh, đồng thời hợp chung với khí mạch của dòng sông lớn thu gom tất cả lại”, Nghĩa là, trên các sông nhánh của dòng sông lớn, có thể lựa chọn được khí trường tốt, nguyên nhân là bởi sông nhánh có lưu lượng nhỏ, tốc độ chảy chậm, khá gần với tốc độ lưu thông khí huyết của con người. Do vậy không nên lựa chọn địa diểm xây nhà ở bên cạnh những dòng sông chính.
    Đương nhiên, những điều này chỉ áp dụng cho việc lựa chọn nhà ở của người dân. Nếu như xây dựng một thành trấn thì khu vực ở gần những con sông lớn vẫn là nơi đáng quý. Do sự che chắn của tường thành, tường nhà, v.v. và cách chọn lựa phương vị cửa thích hợp, cũng có thể thu nạp luồng khí mênh mông đó lại, làm cho tốc độ lưu chuyển của khí gần giống với tốc độ lưu thông của khí huyết trong cơ thể con người.

5/. Chỗ nước quanh co thì thu nạp khí
    Nguyên tắc “nước bao quanh” rất quan trọng, nó chiếm phần lớn nội dung của Phong Thủy học. Đặc biệt là ở vùng đồng bằng không có núi, nhất định phải biết nguyên tắc này.
    Trong Thủy Long Kinh có nói: “Long ở đồng bằng như chiếu trải ra, một khoảng mênh mông khó lần tìm, đồng bằng chỉ xem nước là Long, nơi có nước bao quanh chính là nơi Long dừng lại, cho nên khi tìm kiếm Long, phải tìm nơi có nước quanh co uốn lượn”.
    Nghĩa là, được gọi là Long trong Phong Thủy học không thể nhìn thấy ở vùng đồng bằng, do đó phải lấy nước để làm chuẩn mực, nhưng khí trường tốt lại thường xuất hiện ở những nơi quanh co uốn khúc.


    Như phần trên đã nói, khí gặp nước thì ngưng lại, điều này có vẻ khó lý giải. Song mọi người đều biết rằng, khứu giác của chó săn rất nhạy, nhưng nếu như kẻ chạy trốn vượt qua sông thì chó săn sẽ không đánh hơi được.

Phong thủy: Luận giải 8 hướng nhà, cửa vượng - suy

Theo kinh nghiệm phong thủy, việc chọn hướng nhà theo phong thủy truyền thống không phụ thuộc vào bạn là  Đông mệnh hay Tây mệnh. 

Qua chương trình tư vấn phong thủy miễn phí vừa qua của báo,, hợp tác với nhà phong thủy Quý Hải, một chuyên gia phong thủy truyền thống (cổ điển), tuy đã trả lời và tư vấn cho rất nhiều bạn đọc nhưng có rất nhiều câu hỏi có cùng nội dung chưa trả lời kịp như: “Chọn hướng nhà nào là tốt với tuổi (năm sinh)?”, “Cách mở cửa hợp phong thủy?” vì thế, hôm nay, chúng tôi dành riêng bài viết Chọn hướng nhà theo phong thủy: 8 hướng nhà, cửa ảnh hưởng đến vượng suy ở để trả lời cho tất cả bạn đọc nói chung và những bạn đọc mà chúng tôi chưa trả lời riêng.
Theo kinh nghiệm phong thủy, việc chọn hướng nhà theo phong thủy truyền thống không phụ thuộc vào bạn là đông mệnh (chọn Đông trạch: Đông, Đông Nam, Nam, Bắc) hay Tây mệnh (chọn Tây trạch: Tây, Tây Nam, Tây Bắc, Đông Bắc), mà phụ thuộc vào phương hướng (phương vị) chúng ta chọn có vượng khí hay không?. Sự thịnh suy của phương hướng (phương vị) của 8 hướng phụ thuộc vào vận khí (cách cục, trạch vận), bố cục bên trong (thiết kế nội thất, công năng) và bố cục bên ngoài (môi trường xung quanh) của nơi ở mà chúng ta đang xem xét.
Ví dụ: chúng ta đang ở vào năm 2014, tức thuộc vận 8 (từ năm 2004 đến 2023), ở vào vận 8 thì hướng Đông Bắc đắc vượng khí, vì thế, hướng Đông Bắc (8) là hướng (phương vị) tốt, tiếp đến là hướng Nam (9), đến nữa là hướng Bắc (1), đây là một căn cứ đểtuyển chọn, nói nhưvậy không có nghĩa các phương hướng (phương vị) khác là xấu, mà chúng ta cần xem xét thêm trạch vận (cách cục) của từng hướng nhà để suy xét, tuyển chọn. Nếu bạn có hướng vượng và trạch vận tốt mà bố cục bên trong và bên ngoài không tương ứng, đúng cách thì cũng được xem là không tốt. Bên dưới chúng tôi đã trình bày sẵn những chỉ dấu để bạn kiểm tra phong thủy nơi ở của bạn nó vượng hay suy, căn cứ vào đó để điều chỉnh.
Còn về việc mở cửa thế nào cho đúng phong thủy thì các bạn cũng theo nguyên tắc nếu Vượng thì ta mở cửa, còn nếu không vượng (suy) thì ta hạn chế mở. Các bạn nên nhớ rằng, cửa chính là nơi nạp khí, dẫn khí vào nhà nếu mở không đúng chỗ vượng khí thì dù bạn có mảnh đất tốt, trạch vận tốt thì cũng như không có (do lỗi bố cục phong thủy).
Còn việc kích thước cửa theo thước lỗ ban là việc rất nhỏ trong phong thủy, nếu vị trí cửa chính bạn đã đặt đúng vịtrí vượng khí thì dù có theo thước hay không theo thước thì vẫn là tốt, việc theo kích thước lỗ ban chỉ là phụ thêm để hoàn mỹ.
Ví dụ bên dưới để dẫn chứng việc mở cửa chính (cửa đi) vào cung Tây Nam (Mùi – Khôn – Thân) của nhà tọa Đông Bắc, hướng Tây Nam sẽ tốt hơn mở tại cung Nam (Bính – Ngọ- Đinh), vì vượng tinh đắc lệnh (8) nằm ở cung Tây Nam. Cũng qua ví dụ này, chúng tôi cũng muốn cho các bạn hiểu rằng, hướng Tây Nam tuy không nằm ở hướng vượng giới thiêu trên nhưng có trạch vận vượng, vì thế, khu đất và căn nhà này vẫn là tốt, do đó ai vào ở cũng tốt không ảnh hưởng bạn là Đông mệnh hay Tây mệnh.

 Sơ đồ mặt bằng nhà tọa Đông Bắc hướng Tây Nam.


  Trạch vận 8 nhà tọa Đông Bắc hướng Tây Nam.
- Biểu trưng phong thủy hướng Đông: là hướng mặt trời mọc, bình minh xua tan đêm tối, có ánh nắng thì vạn vật mới sinh trưởng, phát triển, cho nên nó là tượng trưng cho sự sinh tồn, niềm hy vọng, tiềm lực, sáng sủa, tiến triển, hưng vượng, lý tưởng,…tác dụng đối với tuổi trẻ càng rõ rệt hơn. Ngoài ra, về nhân sự đại diện cho trưởng nam trong gia đình, về bệnh tật: là gan, mật, vai và hai tay.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Đông vượng (tốt): Khoẻ mạnh, tinh lực dồi dào, có tài ăn nói, nắm bắt cơ hội, con trai trưởng dễ thành đạt, có quan hệbạn bè tốt.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Đông suy (xấu): Khổ sởvì bệnh tật, đặc biệt là bệnh gan và chứng đau thần kinh, tinh thần uể oải, do dự, không quyết đoán, hay cải vã, tranh chấp với người khác, dễ bị người khác lợi dụng, lừa gạt. Con trai trưởng dễ phải xa nhà, không sống chung với người nhà.
- Biểu trưng phong thủy hướng Tây: Mặt trời lặn ở hướng Tây, là nơi mặt trời dần đi vào đường chân trời, kết thúc một ngày. Đó cũng là lúc trở về nhà, cả nhà đoàn tụ. Hướng Tây có xu hướng ổn định, bảo thủ, chậm chạp, giữ vững cái đã có. Đối với sự việc mới khó tiếp thu, khó đổi mới, không xác định mục đích, thiếu chủ ý, những điều trên đều là ảnh hưởng tiềm tàng của hướng Tây.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Tây vượng (tốt): Kinh tế sung túc ổn định; Giỏi kinh doanh; Có tài ăn nói, giỏi giao tiếp; Cuộc sống gia đình hoà thuận, ổn định; Thích sống nhàn; Bạn gái tràn đầy sức thu hút.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Tây suy (xấu): Biếng nhác, chậm chạp, ham cuộc sống sung sướng mà đi vào con đường tà đạo; Khổ vì tiền của; Thường xuyên thay đổi việc làm, cuộc sống không ổn định; Dễ mắc bệnh về vòm họng, miệng, lưỡi, thắt lưng; Luôn có xích mích trong gia đình dù là việc nhỏ.
- Biểu trưng phong thủy hướng Nam: là hướng mặt trời lên cao, ở giữa cực dương, cũng chính là thời kỳ hoàng kim mạnh mẽ của cuộc đời con người. Địa vịxã hội, tiền tài, quyền thế, năng lực lãnh đạo, trí tuệ, tài năng …đều có liên quan đến hướng Nam, đây cũng là phương vị để những khả năng phát huy sức mạnh. Ngoài ra, về nhân sự đại diện cho thứ nữ trong gia đình, về sức khỏe: phần đầu, mắt, tim, đều sẽ chịu ảnh hưởng.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Nam vượng (tốt): Trẻ nhỏ đầu óc linh hoạt, hiếu động. Có ý chí cầu tiến, hành động quả quyết, có phán đoán tốt. Người có sức khỏe tốt, đặc biệt là tim và mắt, tinh thần. Đối với thứ nữ trong gia đình (hoặc phụ nữ trung niên) rất tốt.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Nam suy (xấu): Thích phô trương bề ngoài, hay suy nghĩ tiêu cực nên làm việc khó thành công. Thích đầu cơ trục lợi dẫn đến tán tài, hay bịbạn bè kiện tụng tranh chấp. Dễ mắc bệnh ở phần đầu, tim, huyết áp, mắt. Thành viên dễ ly tán nhất là thứ nữ.
- Biểu trưng phong thủy hướng Bắc: tượng trưng màn đêm buông xuống trên mặt đất, là phương vị cực âm, có hàm nghĩa nghỉ ngơi. Đồng thời, nó còn ẩn dụ cho sự đoàn tụ gia đình, củng cố tình yêu nam nữ,…thảy đều có ảnh hưởng rất lớn.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Bắc vượng: Giao du rộng rãi, mọi việc thường được như ý, làm ăn phát triển dần lên, cuộc sống nhiều thú vị, vợ hiền, con ngoan, gia đình hạnh phúc, gia vận hưng thịnh, sự nghiệp ngày càng tốt.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Bắc suy: Thường xuyên phiền não vì công việc, dễ xảy ra quan hệ nam nữ bất chính, thường xuyên có người nhà mắc bệnh, cơ hội làn ăn tốt thường chấm dứt một cách vô cớ.
- Biểu trưng phong thủy hướng Tây Bắc: nhân vật: cha, người trưởng. Mặt trời dần dần lăn ở hướng Tây, khi màn đêm sắp buông xuống thì hướng Tây Bắc là đường chân trời trước khi mặt trời lặn hẳn. Đây là tượng trưng cho sự vật đều đã hoàn thành, tất cả điều đến tận cùng, mọi kết quảvà thu hoạch bày ra, đồng thời bao hàm ý tàn giữ.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Tây Bắc vượng: mọi việc điều kiên trì tới cùng; Có danh tiếng tốt và địa vị trong xã hội; Biết sử dụng người tài, dễ thành công trong sự nghiệp kinh doanh; Tư chất thông minh; Hành vi chính trực nghiêm túc.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Tây Bắc suy: Dễ tin nhằm tà giáo mà tán tận gia sản; Công việc thường gặp trở ngại; Có khuynh hướng thô bạo; Dễ gặp sự cố giao thông; Có khuynh hướng tin thần không bình thường.
- Biểu trưng phong thủy hướng Đông Nam: Do ánh nắng buổi sáng chiếu từhướng Đông Nam, tuy không mạnh bằng hướng chính Đông, nhưng vì mặt trời mọc lên, ngầm bao hàm ý nghĩa các sự vật đang từ từ phát triển, dần dần định hình, tràn đầy lòng hăng hái và sức sống, dễ được sự tin tưởng của người nên có rất nhiều cơ hội thành công.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Đông Nam vượng: Trạng thái tinh thần ổn định, Sức khỏe tốt, thể lực dồi dào.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Đông Nam suy: Quan hệ với người xấu, đam mê rượu chè, cuộc sống phóng túng, vận may kém, dễ gặp tai nạn.
- Biểu trưng phong thuỷ hướng Đông Bắc: nhân vật: út nam. Tượng trưng cho sự giao thoa hoán đổi giữa ban đêm và ban ngày, giữa âm và dương. Bắt đầu cho những biến hóa mới, nó vừa có ý nghĩa gợi ý, tiến lên, đồng thời cũng biểu thị cho sự kết thúc và dừng lại.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Đông Bắc vượng: Cuộc sống gia đình hạnh phúc, được cha mẹ, anh em và họ hàng giúp đỡ, có lợi tức từ bất động sản, quan niệm tiền bạc đúng đắn, không lãng phí, khi gặp trở ngại đều có thểvượt qua thuận lợi, được hưởng thụ thành quả mỹ mãn.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Đông Bắc suy: Người nhà bất hòa, ít qua lại với họ hàng thân thuộc, gia vận ngày càng sa sút, tổn thất tiền của lớn một cách bất ngờ, làm ăn nhiều thất bại đến phá sản, bị người khác lừa gạt bất động sản.
Biểu trưng phong thủy hướng Tây Nam: nhân vât: Mẹ. Là hướng thời khắc buổi trưa, không những là thời điểm mà còn là lúc bắt đầu xuống dốc. Đây là tượng trưng vạn vật ở trang thái chín mùi, đầy đủ, không ngừng cố gắng và bắt đầu phát huy công hiệu của chúng.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị) Tây Nam vượng: Khỏe mạnh, dồi dào tinh lực, đam mê công việc, thái độ khiêm tốn, gây được cảm tình nơi người khác, dễ được lợi từ bất động sản, có nhiều bạn bè.
* Các chỉ dấu hướng (phương vị)Tây Nam suy: khó làm chủ hay đứng đầu; dễ mắc bệnh đường ruột, tiêu hóa, nữgiới sức khỏe yếu, thường xuyên ốm đau; gia đình hay bị liên luỵ, gây phiền phức không ngừng; tổn thất từ bất động sản.
Chúng tôi hy vọng với bài viết này giải tỏa phần nào những lo lắng của quý đọc giả khi chọn hướng nhà, cũng như việc mở cửa thế nào cho đúng và hợp phong thủy, thông qua bài viết này quý độc giả cũng có thể tự kiểm tra và kiểm nghiệm phong thủy trong nhà mình có chỗ nào chưa phù hợp qua những sự ứng nghiệm như trên diễn tả thì có thể bổ cứu, chỉnh lý.

Núi ngũ tinh có ý nghĩa gì


Núi ngũ tinh chỉ 5 loại hình núi: Kim tinh, Mộc tinh, Thủy tinh, Hỏa tinh,Thổ tinh.
- Kim tinh (Kim sơn): dáng núi, đầu núi tròn, chân thoai thoải.
- Mộc tinh (Mộc sơn): dáng thẳng, núi cao, tù đầu.
- Thủy tinh (Thủy sơn): dáng uốn, núi thấp, đầu hình sin.
- Hỏa tinh (Hỏa sơn): dáng nhọn, núi cao, đầu nhọn.
- Thổ tinh (Thổ sơn): dáng vuông, đầu bằng.

Hình thái núi ngũ tinh

Bốc Tắc Ngụy trong sách “Tuyết Tâm Phú” nói: “Phải xét kỹ ngũ tinh biến hóa”. Sách chú giải thêm rằng: "Ngũ tinh tức Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vậy. Núi tròn gọi là Kim sơn, núi vuông gọi là Thổ sơn, đầu tròn thân dài gọi là Mộc sơn, nhọn hoắt gọi là Hỏa sơn".

Ngũ hành tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.

Ngũ hành tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

Táng nhờ vào sinh khí nghĩa là sinh khí vượng thì chủ kết huyệt đại phú quý. Trong sách “Địa lý nhân tử nên biết”, chương “Long Pháp” của Từ Thiện Kế nói: “Các thầy địa lý ngũ tinh tụ giảng, giống như ngũ tinh tương tụ trong thiên văn. Nếu long mạch có cách này (loại hình này), đó mới là đất kết huyệt đại quý ”.

Nhận dạng 5 hành trong môi trường địa lý


Việc nhận diện các hành trong môi trường địa lý giúp bạn có thêm 1 số kiến thức cơ bản bổ sung vào sổ tay phong thủy của mình.

Âm dương trong địa hình

Nói chung, cảnh thành thị nặng dương tính hơn cảnh thiên nhiên như núi và biển ở cao nguyên và miền duyên hải. Tuy nhiên, mức cao thấp của đặc tính âm - dương còn tùy thuộc vào cường độ ánh sáng, hướng nắng vì nguồn sinh lực chính của vạn vật là ánh nắng mặt trời.

Nhà lầu cao và dài có tính âm hơn là những nhà thấp hình vuông, tròn và đa giác.

Ngũ hành trong địa hình

5 dạng đất đai trong sách địa lý cổ xưa được phân loại theo ngũ hành như sau:

1. Thổ hình

Thế đất hình Thổ

Thế đất thấp, bằng phẳng, thường thấy ở đồng bằng hay những bình nguyên với ruộng đất “thẳng cánh cò bay”. Nếu có đồi núi thì bóng dáng nhìn chung là song song với đường chân trời.

Thế đất này không có nét cong vòng, không có đỉnh nhọn hoặc thon cao. Núi đồi trông như mặt bàn. Áp dụng vào không gian kiến trúc hiện đại thì nó là khu vực nhà hình hộp mái bằng ở các thành thị.

2. Kim hình

Thế đất hình Kim

Dạng đồi đất trông như hình bát úp. Áp dụng vào kiến trúc hiện đại có thể thấy sự hiện hình của nó qua khu nhà mái vòm của kiến trúc Ấn Độ, Hồi giáo.

3. Thủy hình

Thế đất hình Thủy

Dáng uốn, núi thấp, đầu hình sin. Có thể ví thế Thủy hình uốn lượn như sóng nước hoặc nhấp nhô, bất định như nước tràn lan.

4. Mộc hình

Thế đất hình Mộc

Là dạng vùng núi non cao chót vót nhưng không có đỉnh nhọn như đồi núi vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Áp dụng vào kiến trúc hiện đại là những bóng nhà đền đài, cột cao, nhà chọc trời ở Mỹ và nhiều đô thị hiện đại.

5. Hỏa hình

Thế đất hình Hỏa

Dạng núi có đầu núi non nhọn như ngọn lửa. Áp dụng vào kiến trúc hiện đại là các nóc nhà tam giác, tháp nhà thờ, đền chùa ở Thái Lan và các nước Đông Nam Á.

Tứ đại thiên vương bảo vệ nhà bạn


Có 4 biểu tượng bảo vệ mà người Trung Quốc rất thích để trong nhà. Đó là tứ đại thiên vương trong truyền thuyết, tương tự như 4 vị hộ pháp trong Phật giáo Tây Tạng. Những vị này thu tóm những cám dỗ và nguy hiểm của các thực thể tâm linh đến từ 4 hướng. Vì vậy, để biểu tượng của 4 vị này trong nhà sẽ giúp bạn tránh được những tổn hại về bệnh tật, tai nạn do những thực thể đến từ các hướng khác nhau.

Tứ đại thiên vương

Tứ đại thiên vương bảo vệ chúng ta khỏi những tổn hại mà chúng ta có thể tự gây ra cho bản thân. Đó thường là kết quả của những hành động vô đạo đức như giết người, trộm cắp và các hành động xấu xa khác... Đây là lý do tại sao 4 bị này còn được gọi là hộ pháp. Họ bảo vệ chúng ta thoát khỏi sự cám dỗ của phần xấu xa trong con người chúng ta. Bốn vị này sử dụng mỗi loại vũ khí riêng và án ngữ ở 4 góc trời.

Đông Thiên Vương cầm kiếm thần có khắc chữ Địa, Thủy, Hỏa và Phong. Kiếm thần bằng kim loại để chế ngự khí Mộc từ hướng Đông. Nên đặt biểu tượng này quay về hướng Đông.

Tây Thiên Vương cầm đàn tỳ bà 4 dây sẽ khiến cho những quả cầu lửa từ trên trời rơi xuống, vì vậy tiêu diệt năng lượng Kim ở hướng Tây. Nên đặt biểu tượng này ở hướng Tây.

Nam Thiên Vương cầm dù thần, khi mở dù ra sẽ tạo ra bóng tối làm dập tắt năng lượng Hỏa ở hướng Nam. Dù có thể tạo ra nhiều sóng biển và động đất để hủy diệt tất cả lực lượng âm. Nên đặt biểu tượng này quay về hướng Nam.

Bắc Thiên Vương một tay cầm ngọc trai, tay kia cầm con rắn. Nên đặt biểu tượng này quay về hướng Bắc.

Ba yếu tố Chủ, Môn, Táo trong phong thủy nhà ở

Chủ - Môn - Táo trong Phong thủy học chính là phòng ngủ chủ nhà, bếp, cửa ra vào. Với một căn nhà, đây là ba yếu tố đặc biệt cần coi trọng.

Ảnh minh họa.

Phong thủy cũng như những bộ môn khoa học khác đều có những quy luật được đúc kết qua thời gian dài của cuộc sống. Vì thế, có những yếu tố dù đã lâu đời nhưng vẫn được chú trọng trong thời hiện đại, cụ thể ở đây là ba yếu tố Chủ - Môn - Táo, tức phòng ngủ chủ nhà, bếp và cửa ra vào.
Những yếu tố này không chỉ được thừa nhận như những yếu tố tiên quyết trong trường phái Dương Trạch Tam Yếu mà trong Huyền không học hay Bát trạch phong thủy đều dựa vào và coi đó là yếu tố then chốt để luận đoán cát hung trong một căn nhà, hay một đối tượng xem xét của khoa phong thủy.

Trong kiến trúc hiện đại, Chủ - Môn - Táo đã có nhiều thay đổi khác trước. Vì vậy mà những quan niệm về Chủ - Môn - Táo trong Phong thủy xưa cũng nên  nhìn nhận thấu đáo hơn trước khi ứng dụng cụ thể vào thực tiễn cuộc sống.

Cụ thể, đối với phòng ngủ chủ nhà được xem xét là có mối quan hệ mật thiết đến sức khoẻ của chủ nhân. Bởi một phần ba cuộc đời của con người là ở trong phòng ngủ. Do vậy, việc sắp đặt không gian phòng ngủ luôn được coi trọng để tạo nên một môi trường cho sự thư giãn tối ưu.
Bếp trong phong thủy tượng trưng cho tài lộc và cũng là nơi mang dưỡng khí cho gia đình. Vì thế, hướng bếp và vị trí bếp là những yếu tố then chốt để cấu thành nên tính phong thủy của một gian bếp.

Cửa nhà có vai trò dẫn khí phân bổ tới từng khu vực của ngôi nhà đó, là nơi giao tiếp đầu tiên, giữ liên hệ giữa hai yếu tố nội và ngoại... Ngoài cửa chính, các hành lang cầu thang và các cửa phòng, cửa hậu chính cũng là những nơi có nhiệm vụ giúp điều tiết luồng năng lượng trong căn nhà. Vì thế, không thể xem xét một yếu tố cửa trong căn nhà. Ngoài ra, cửa là một trong những yếu tố giúp định vị hướng nhà, một yếu tố tối quan trọng theo phong thủy cổ truyền.

Cầm tinh trong phong thủy là gì?


Cầm tinh là những núi, gò, tảng đá lớn nổi lên trong thủy khẩu. 

Cầm tinh ngăn dòng nước
không chảy xiết, giúp huyệt mộ tụ khí

Từ Kế Thiện trong sách Địa lý nhân tử nên biết nói: “Cầm tinh là đá trong thủy khẩu, còn gọi là “lạc hà hỏa tinh”. Khi vào thôn làng, đến cửa sông thường thấy những tảng đá kỳ dị ở giữa dòng. Đất ở đó kết huyệt đại quý”.

Các nhà phong thủy cho rằng, Cầm tinh do dư khí huyệt mộ sinh ra, là tiêu chí để xác định sinh khí tụ kết huyệt. Đây là căn cứ tìm đất đặt mộ.

Cầm tinh có tác dụng ngăn dòng nước chảy xiết, khiến sinh khí không bị tán theo dòng nước.

Cầm tinh là đại diện cho sự vinh hoa phú quý. Nếu Cầm tinh cao mấy trượng như cây măng, như chim phượng thì gia chủ ở đây đời đời vinh hiển. Nếu Cầm tinh quay lưng về huyệt mộ thì vô dụng.

Điều này cũng được Hoàng Diệu Ứng nói trong chương Luận sa sách Bác sơn thiên: “Cầm tinh hướng về huyệt mộ là chân, quay lưng về huyệt mộ chẳng cần để ý”.

Vận dụng phong thủy vào tử vi


Muốn vận dụng phong thủy vào việc xem tử vi, bạn phải nắm được lịch Trung Quốc (âm lịch). Lịch này có chu kỳ 12 năm - một giáp, tuần hoàn 5 lần và tạo thành một chu kỳ lớn hơn gồm 60 năm. Trong chu kỳ lớn 60 năm có 10 thiên can và 12 địa chi. Thiên can dương hoặc âm kết hợp với 12 địa chi (12 con giáp). Sự tương tác giữa thiên can và địa chi tượng trưng cho sự tác động qua lại giữa năng lượng của trời và đất, từ đó chi phối đến số mệnh của con người. Đó là lí do tại sao tất cả các phương pháp tiên đoán của Trung Quốc đều dựa trên sự kết hợp giữa thiên can và địa chi.

12 con giáp và chữ "Phúc"

Bạn có thể vận dụng thiên can và địa chi để cải thiện tình trạng phong thủy của mình. Phương pháp thông dụng là dựa trên la bàn, từ đó cung cấp năng lượng cho hướng tương ứng với con giáp (năm sinh) của bạn. Mỗi con giáp đều có một hướng la bàn nhất định. Hướng này cho biết "điểm may mắn" trong nhà và khu vực nào có thể đưa lại may mắn cho bạn. Ngoài ra, bạn cũng cần kiểm tra sự tương tác giữa các con giáp với nhau để hóa giải những ảnh hưởng xấu nảy sinh từ tình trạng xung khắc. Khi đã xác định được hướng của từng con giáp, bạn sẽ biết được khu vực nào trong nhà có thể đưa đến nguy hiểm trong năm. Vì vậy, trước khi đặt biểu tượng may mắn tại khu vực tương ứng với con giáp của bạn, hãy kiểm tra những hướng có thể ảnh hưởng xấu đến bạn trong năm.

Tại sao nhà ở thường phải chọn tọa bắc hướng nam?

   Nhà ở tọa bắc hướng nam là một trong những nguyên tắc trong lý luận Phong Thủy truyền thống. Trong “Dịch chiêm học” nói, phương nam thảo mộc sinh sôi nhiều, dương khí đầy đủ, hướng nam được xem là hướng thịnh vượng nhất.

   Người xưa cho rằng bắc là âm, nam là dương, nơi có Phong Thủy tốt là âm dương phải hài hòa. Thời nguyên thủy, tổ tiên đã xây dựng thôn xóm tọa bắc hướng nam. Khảo cổ học hiện đại phát hiện đa số các ngôi nhà cổ đều có cửa chính hướng nam.

   Cho đến ngày nay, nhà ở tọa bắc hướng nam cũng là điều đầu tiên để chọn mua nhà ở. Sau đây là 3 lý do để chọn nhà ở tọa bắc hướng nam:

a) Ánh sáng tốt. Trong “Trạch kinh” nói, phàm cửa sổ hướng nam, đông nam hoặc tây nam, ánh sáng trong nhà sẽ tốt. Nhà ở tọa bắc hướng nam lợi dụng được triệt để ánh sáng mặt trời, giữ không khí ấm khi mùa đông, mát mẻ khi mùa hè.

b) Sự thông gió tốt. Tọa bắc hướng nam sẽ khiển không khí nhà ở được lưu thông một cách đầy đủ.

c) Tránh gió bắc. Tọa bắc hướng nam không chỉ vì ánh sáng, thông gió mà là còn để tránh gió bắc.

   Từ ngày xưa con người đã có nhận thức về sự thay đổi của thời tiết, phân gió ra thành gió âm và gió dương. “Địa học chỉ chính” viết “Dương yên ổn vốn không sợ gió, tự nhiên có sự khác nhau về âm dương, hướng nam hướng đông là gió ấm, gió chậm, gọi là gió dương. Hướng tây hướng bắc là gió lạnh, gió hàn, gọi là gió âm, nên có bình phong chắn gió, nếu không sẽ bị gió thổi nhiễm lạnh”. Cách nói này chính là cần phải tránh sự xâm hại của gió bắc.

   Nói chung, nhà ở tọa tây nam hướng đông bắc, không phải là sự lựa chọn lý tưởng. Vì ngoài điều kiện ánh sáng không tốt ra còn dễ hấp thu những vật chất âm và ẩm trong không khí, có hại cho sức khỏe cơ thể con người.

   Trên thực tế, phương vị hướng nam không dễ tìm, vì thế dùng hướng chính nam làm nguyên tắc, hơi nghiêng về hướng đông hoặc hướng tây cũng không có trở ngại gì. Nếu nhà ở không có cách nào xây dựng theo hướng nam, thì cần phải mở nhiều cửa sổ ở hướng nam hoặc xây giếng trời, tăng thêm ánh sáng, khí ấm, hoặc trồng nhiều cây ở hướng bắc để bù đắp.


   Nếu bạn thuộc nhóm tuổi hợp “Đông tứ trạch” và có được nhà hướng Nam, vừa hợp hướng vừa hợp môi trường nhà ở, thì thật là lý tưởng.



Long mạch và điều cấm kị trong xây dựng


    Thuận long: Loại long mạch này thế thuận mà xuất, phân nhánh đều bài bố thuận, thế đi đoàn tụ, tôn ty có trật tự cùng tiến tới, trên dưới chiếu cố nhau, phải trái ôm vào, đều là hữu tình mà không quên. Loại long mạch này rất quý. Nghịch long: Thế long mạch đang đi tới bỗng quay ra sau, cao thấp loạn xạ, ngọn núi nghiêng lệch, phân nhánh đều theo hướng nghịch lại, thanh long bạch hổ đều không hộ vệ thế đi trái khuấy. Loại long mạch này cũng rất xấu....


LONG MẠCH


     Phong thủy là một học thuyết dựa vào việc lựa chọn hoàn cảnh môi trường được phát triển trong thực tiễn cuộc sống trong suốt thời cổ đại ở Trung Quốc. Nó được sinh ra và phát triển dưới tiền đề của thực tế cuộc sống, là một hệ thống tri thức có tính ứng dụng rất cao, có những phương pháp thao tác ứng dụng đặc biệt. Qua một thời gian dài, do sự truyền bá của phong thủy có tính thần bí, phương pháp thao tác của phong thủybị người ta coi là điều cao sâu khó nắm bắt, vì vậy người hiểu biết phong thủy thường chỉ biết điều tất nhiên mà không biết nguyên nhân. Ngày nay, chúng ta nghiên cứu về phong thủy phải bắt đầu từ việc nghiên cứu phương pháp thao tác của phong thủy, có như vậy mới có thể hiểu được chính xác toàn bộ quá trình hình thành của môn phong thủy. Dù là phong thủy phái hình thế hay phong thủy phái lý khí, "Tướng địa" (xem hình dạng cuộc đất) đều phải tuân theo một trình tự là: trước tiên lựa chọn hình thế lớn của . núi sông, sau đó lựa chọn hoàn cảnh môi trường nhỏ của cuộc đất, tức là từ lựa chọn vĩ mô đến lựa chọn vi mô. Sự lựa chọn hoàn cảnh môi trường vĩ mô và hoàn cảnh môi trường vi mô đều không thể tách rời la kinh phongthủy.    Lựa chọn mô hình núi sông chủ yếu là việc lựa chọn hoàn cảnh môi trường lớn bên ngoài nơi ở, như long mạch, sa thủy, huyệt hình, tọa hướng, v.v... tức là tương đương với 5 yếu tố lớn là "long, huyệt, sa, thủy, hướng" ở trong "Địa lý ngũ quyết". LONG MẠCH LÀ GÌ     Long mạch là địa mạch mạnh mẽ, mềm mại, thoắt ẩn thoắt hiện như rồng. Địa mạch lấy hướng núi sông làm tiêu chí. Vì vậy, các nhà phong thủy gọi địa mạch là long mạch, là khí mạch đi theo mạch núi.    Nói về long mạch phải phân biệt mạch chính và mạch nhánh. Tìm được mạch chính mà lại đặt huyệt ở mạch nhánh là không cát.     Long mạch có quan hệ mật thiết với các núi, gò của huyệt mộ. Nếu chân long (long mạch chính) thì cần có nhiều gò núi bảo vệ. Nếu có nhiều gò núi hộ vệ, chủ về sự phú quý. Nhưng nếu mất khí của long mạch là đại hung. Nhận đúng long mạch sau đó phải quan sát thủy khẩu (gò, núi xung quanh hoặc ở giữa cửa sông), Án Sơn (núi che chắn phía trước huyệt mộ), Triều Sơn (núi ở phía trước nhưng xa huyệt mộ hơn Án Sơn), minh đường (khoảng trống phía trước huyệt mộ), Thanh Long (gò, núi ở bên trái huyệt mộ), Bạch Hổ (gò, núi ở bên phải huyệt mộ).    Thế của long mạch lấy mềm mại, linh hoạt làm quý. Long mạch lên xuống trùng trùng, uốn lượn như cá nhảy chim bay gọi là sinh long, là địa huyệt cát. Nếu long mạch thô thiển, ngang, ngược, cồng kềnh, uể oải như cây khô, cá chết là tử long, là địa huyệt hung.    Nhà phong thủy chia long mạch thành các loại: cường long, nhược long, phì long, thuận long, nghịch long, tiến long, thoái long, bệnh long, kiếp long, sát long, chân long, giả long, quý long, tiện long…    Long mạch được núi vây quanh dày đặc là sự bao bọc, hộ vệ tốt hay còn gọi là có tình - không lệch, không đi ngược. Hình thế long mạch được xem là cát thì phải đoan trang, nho nhã, tú lệ. Nếu chủ (long mạch chính) và khách (long mạch nhánh) không phân biệt được rõ ràng, núi mọc lung tung, đá núi lộn xộn, hình thù kỳ quái là ác hình. Nơi đây an táng rất hung, là đại kỵ.TẦM LONG     Công việc thứ nhất trong thao tác xem phong thủy là phải xác định hình thế của lai long (rồng đến, tức hướng long mạch đến) trên phạm vi vĩ mô. Liên quan đến khái niệm "long mạch", rất nhiều sách phong thủy đã bàn tới, tác giả Diệp Cửu Thăng trong tác phẩm "Địa lý đại thành, sơn pháp toàn thư" có ghi: "Long là gì? Chính là sơn mạch... đất là thịt của rồng, đá là xương của rồng, cỏ cây là râu tóc của rồng". Một tác phẩm phongthủy khác là "Âm Dương nhị trạch toàn thư" cũng có ghi: "Địa mạch đi đứng nhấp nhô là rồng". Thật ra, long mạch trong phong thủy là chỉ tình trạng mặt đất nhấp nhô (xét về ngoại hình, sơn mạch liên quan đến sinh khi ở trong đất).    Nhìn thế đi của núi non để tìm long mạch, trong phong thủy là nghiên cứu về nguồn gốc của long mạch đến, cũng tức là liên quan đến sinh khí. Hoàng Diệu ứng đời Tống đã viết trong tác phẩm "Bát sơn thiên": "Phương pháp tìm long, tìm tổ tông, tìm nơi ở của tổ tông, phụ mậu là phương pháp cao siêu". Tức ý nói là tìm long trước tiên phải tìm núi tổ tông, sau đó tìm núi phụ mẫu. Núi tổ tông là. nơi quần sơn phát mạch, núi phụ mẫu là đầu vào của sơn. mạch ở huyệt trường. Thông thường bắt đầu từ nơi quần sơn phát mạch, sự sắp xếp của các núi là: "Trước tiên đỉnh nhô cao là tổ, đỉnh thứ đến là tông, sau đó hai đỉnh bên trái bên phải là phụ mẫu", "Bắt đầu từ tổ tông mà thấy thai tức dựng dục của phụ mẫu", cuối cùng "xem xét hình thế mà tìm huyệt". Sở dĩ nhấn mạnh long mạch phải ở xa xôi đến là vì "Ở xa thì long mạch dài, đắc thủy nhiều, ở gần thì long mạch ngắn, đắc thủy ít". Trong phong thủy lấy đắc thủy làm ưu tiên, tàng phong là kế đến, vì vậy long mạch từ xa đến thường là nước chảy dài mà đến, cho nên mới nói "Nguồn xa chảy dài".    Long lớn thế lớn, đó là điều trong phong thủy thường yêu cầu.     Người ta đã dựa vào hình thái của dãy núi để chia long mạch ra làm 9 hình thức là:- Hồi long - Hình thế uốn lượn, hướng về tổ tông giống như rồng khoanh hổ ngồi.- Xuất dương long - Hình thế uốn lượn vươn tới giống như con thú ra khỏi rừng, con thuyền vượt biển.- Giáng long - Hình thế sừng sững uy nghi, núi cao dốc đứng, giống như nhập triều đại tọa, phi ngựa phất cờ- Sinh long - Hình thế cong lượn, tầng tầng lớp lớp, như con rết dương chân, như chuỗi ngọc, như dây leo.- Phi long - Hình thế bay lượn, trầm bổng nhanh nhẹn, như con nhạn vút lên, như chim ưng sải cánh, hai cánh mở rộng như phượng múa loan bay.- Ngọa long - Hình thế vững vàng chắc chắn như hổ ngồi, như voi đứng, như trâu ngủ, như tê giác nằm.- Ẩn long - Hình thế bàng bạc, mạch lý tiềm tàng, hiện lên như tấm thảm trải dài ra.- Đằng long - Hình thế cao xa, to lớn hiểm trở như vút lên trời cao, mây mù giăng tỏa.- Lãnh quần long - Hình thế dựa theo, thưa dầy tụ hợp như bầy hươu, bầy cừu chạy, như bầy cá bơi, như bầy chim bay.Ngoài ra, trong "Bát sơn thiên" còn đưa ra khái niệm "Ngũ thế" như sau:- Chính thế - Long mạch phát xuất từ phương Bắc hướng về phương Nam. .- Trắc thế - Long mạch phát xuất từ phía tây, kết huyệt ở phía bắc, mà hướng về phương Nam.- Nghịch thế - Long mạch ngược với thủy mà hướng lên, thủy thuận chảy xuống.- Thuận thế - Long mạch thuận theo thủy mà hướng xuống, thủy nghịch mà chảy lên.- Hồi thế - Thân long mạch quay về sơn tổ làm hướngVì long mạch biến hóa đa đoan, cho nên chủng loại của nó trong thực tế cũng rất nhiều. Nhưng khái quát lại, còn có một phương pháp phân loại khác là: sinh long, tử long, cường long, nhược long, thuận long, nghịch long, tiến long, thoái long, phúc long, bệnh long, kiếp long, sát long. Trong số đó, sinh long, cường long, thuận long, tiến long, phúc long là cát long (tức long mạch tốt) tử long, nghịch long, thoái long, bệnh long, kiếp long, sát long là các long mạch xấu.

Sinh long:


    Thế núi hùng vĩ, tinh phong tú bạt, thế đi lỗi lạc, phải trái có vây cánh, các chi hoạt bát mà hướng tới trước, đều có sinh khí. Cho nên loại long mạch đến này rất tốt.Tử long:    Thế núi cứng nhắc như rắn chết, thiếu tay chân, loại long mạch này không hiển linh.Cường long:    Thế núi hùng vĩ, thế đi ngang tàng, sức mạnh cực lớn như vạn mã phi nước đại. Cho nên, đây là loại long mạch rất tốt.Nhược long:    Thế núi đến ốm yếu, giống như bộ xương khô, phân nhánh co rút, lực của sơn thể cũng vậy. Loại long mạch đến này không tốt.Thuận long:    Loại long mạch này thế thuận mà xuất, phân nhánh đều bài bố thuận, thế đi đoàn tụ, tôn ty có trật tự cùng tiến tới, trên dưới chiếu cố nhau, phải trái ôm vào, đều là hữu tình mà không quên. Loại long mạch này rất quý.Nghịch long:    Thế long mạch đang đi tới bỗng quay ra sau, cao thấp loạn xạ, ngọn núi nghiêng lệch, phân nhánh đều theo hướng nghịch lại, thanh long bạch hổ đều không hộ vệ thế đi trái khuấy. Loại long mạch này cũng rất xấu.Tiến long:    Thế núi đế nhau dư, phân nhánh đều nhau giống như ôm xuống, hình thế hậu long từng đoạn tăng cao dần. Loại long mạch này cũng rất tốt.Thoái long:    Thế núi mất trật tự, tay chân ngắn dần, thế long mạch lùi về sau, thế đi gắng gượng, bắt đầu nhỏ về sau càng lớn. Loại long mạch này rất xấu.Phúc long:    Long mạch lấy tổ tông làm tôn quý, bản thân long mạch đến hai bên đều kín kẽ, trước sau chiếu cố nhau, chân tay tuy không lớn nhưng cồ kho có lẫm, sơn minh thủy tú, ngọn núi không không cao chót vót .nhưng không thô không xấu. Đây là long mạch chủ về phát phúc lâu dài.Bệnh long :    Bản thân long mạch bất toàn, có đẹp có xấu, phân nhánh bên có bên không, bên sinh tử, bên đẹp bên xấu, hoặc một bên thì kín kẽ, một bên thì khuyết hảm. Loại long mạch này thuộc về long mạch xấu.Đồng bệnh long:    Long mạch đến tinh phong tú bạt, hẻm núi kín kẽ, phân nhánh thuận nhiều trông rất ưu mỹ. Nhưng vì chỗ trọng yếu của long mạch đến: hoặc gãy khúc, hoặc nát vụn, hoặc lẫn lộn đất đá, nên không tốt.Kiếp long:    Loại long mạch đến này phân nhánh rất nhiều, nhưng lại không đoan chính, đông tây loạn xạ khiến chân khí phân tán, long mạch không tụ, không tốt.Sát long:    Long mạch đến mang theo sát khí, vì bản thân rời sơn tổ mà đến nên đá núi hiểm trở, lởm chởm. Loại long mạch này rất xấu."Cửu long", "Ngũ thế" và cách phân loại trên đều là những cách phân biệt long mạch trong quá trình xem cuộc đất trong phong thủy. Tên gọi của chúng bắt nguồn từ "Phái hình pháp", là một cách phân loại địa thế, địa thể theo hình dạng thế núi dựa vào địa hình địa thế. Nhưng những người đi tiên phong của phái Ly khí còn tiến hành phân loại những hình thế tổng quát của hình dạng núi, đã đưa ra thuyết "Ngũ tinh" và thuyết "Cửu tinh" .    Thuyết "Ngũ tinh" chủ yếu chịu ảnh hưởng của thuyết ngũ hành, đã phân chia hình thái của các đỉnh núi ra thành 5 loại kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Kim đầu tròn mà chân rộng, mộc đầu tròn mà thân thẳng, thủy đầu bằng mà có sóng giống như rắn bơi trong nước, hỏa đầu nhọn mà chân rộng, thổ đầu bằng mà chân thanh tú đẹp đẽ.Trong phong thủy cho rằng nếu như trong môi trường có đủ cả năm hình thế núi thì khí vận hành là tốt nhất, trong đó cũng có vẽ đính kèm rất nhiều những hình đồ của thuyết Mệnh lý tinh quái.    Vì chịu ảnh hưởng của Lạ thư cửu cung, trong phong thủy lại chia thế núi ra thành 9 loại hình, gọi là "Cửu tinh". Cửu tinh bao gồm: Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật.    Cửu tinh thông thường liên hệ với quái vị, cát hung và ngũ hành sinh khắc hàm ý cơ bản của chúng đều theo thuộc tính của ý nghĩa tên tinh tú, ngũ hành và thứ tự cát hung như sau:- Tham Lang, Sinh Khí, thuộc mộc - thượng cát.- Vũ Khúc, Diên Niên, thuộc kim - thượng cát.- Cự Môn, Thiên Y, thuộc thổ - trung cát.- Tả Phụ, Phục Vị, thuộc mộc- tiểu cát.- Phá Quân, Tuyệt Mệnh, thuộc kim - đại hung.- Liêm Trinh, Ngũ Quỷ, thuộc hỏa - đại hung.- Lộc Tồn, Họa Hại, thuộc thổ - thứ hung.- Văn Khúc, Lục Sát, thuộc thủy - thứ hung.- Hữu Bật - Bất Định.Quan niệm cát hung của cửu tinh chủ yếu là dùng vào việc xem dương trạch (xem nhà ở).Khi phân biệt về hình thế của long mạch, còn phải chú ý đến hoàn cảnh chung quanh chủ long, phải có che chắn bảo vệ, hai bên long mạch phải có tiền hô hậu ủng mới có thể cho là khí thế to lớn hùng tráng.

 QUAN SA


    Sa trong phong thủy là chỉ những đồi núi nhỏ xung quanh chủ long, đặc biệt là chỉ những thế núi tầng tầng lớp lớp bao xung quanh huyệt trường. Có loại sa do vị trí sắp xếp và tác dụng khác nhau mà có những tên gọi khác nhau. Trong sách "Bát sơn thiên - Luận sa" có viết "Đứng thẳng hai bên, gọi là thị sa, có thể che chắn ác phong, rất có lực, bao bọc xung quanh long, gọi là vệ sa, có thể làm tán gió bên ngoài, tăng khí thế bên trong, bao bọc phía sau huyệt gọi là nghênh sa, thấp nhỏ như vái chào, nhường nhịn, giống như thị vệ đứng chầu phía trước, gọi là triều sa, bất kể xa gần đều rất quý"    Trong phong thủy còn đặc biệt chú trọng lựa chọn hộ sa bên trái, bên phải. Sa bên trái của huyệt trường gọi là thượng sa, hay còn gọi là Thanh long sa; sa phía bên phải gọi là hạ sa hay còn gọi là Bạch hổ sa. Sở dĩ có phân biệt trái phải trên dưới, ngoài việc liên quan hệ với quan niệm tôn trọng bên trái của người Trung Hoa, có thể còn có quan hệ đến vấn đề chắn gió, vì vậy thượng sa ở bên trái thường nên cao to hơn hạ sa ở bên phải.    Qua đó có thể thấy bất kể một huyệt địa phong thủy lý tưởng nào, cũng đều không thể tách rời sự bảo vệ của cát hộ sa bên trái bên phải, ở phía. trước cũng không được mở ra xa quá, mà phải có án sa, triều sa bảo vệ từ đó hình thành hoàn cảnh môi trường có thể chắn gió tụ khí.    Trong phong thủy cho rằng các tầng lớp của sa càng nhiều càng tốt, "tầng tầng hộ vệ" phải hơi nghiêng và ôm vào phía trong, trông rất hữu tình, vậy mới có thể hình thành “phát phú phát quý chi địa" (đất phát phú quý), còn dưới chân sa phải có nước chảy uốn khúc, chậm rãi, đó mới gọi là phong thủy tốt .    Trong phong thủy còn chú ý đến hình thái bên ngoài của sa, cho rằng sa có ba loại: đầy đặn tròn kín ngay thẳng là dáng phú (giàu); thanh tú nhỏ nhắn đẹp đẽ là dáng quý (sang), nghiêng ngả, phình to là dáng thấp hèn..., vỡ nát, nhọn hoắt, nhỏ hẹp, thấp bé, nghiêng ngả, thô kệch, gầy yếu, ngắn, lệch đầu, quay lưng, gãy quẹo, đều là loại tiềm ẩn mối họa". Nói tóm lại những sa nhìn bên ngoài dễ chịu thoải mái là sa tốt, sa quý nhìn bên ngoài mà cảm thấy khó chịu là sa hung, sa xấu.

 QUAN THỦY


    "Bát sơn thiên" viết: "Phàm khi nhìn núi (sơn, long mạch), đến nơi có núi, trước tiên phải xem nước (thủy)... nơi nước đến là nơi long mạch phát, nơi nước hết cũng là nơi long mạch tận. Vì sao xem núi (sơn) trước tiên phải xem nước (thủy)? Vì sơn và thủy luôn đồng hành với nhau. Biết nguồn gốc của thủy, là cũng biết nơi phát mạch của sơn; biết nơi tận cùng của thủy là cũng biết nơi long mạch chấm dứt).    Khi xem thủy, các thầy phong thủy căn cứ vào hình thái ngũ hành để chia trạng thái vây bọc của thủy ra thành năm loại hình: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Đây gọi là năm loại thủy thành. Thủy thành hình là lấy nước làm khuôn mẫu, thủy thành cố tác dụng giới hạn thủy, làm cho long khí không bị tán thất.    Trong "Ngũ thành" có Kim thành và Thủy thành, nước chảy như dải lụa, quanh co hữu tình cho nên là nơi đất thượng quý (tốt nhất), Mộc thành và Hỏa thành có thế nước như tấn công, vỡ vụn, nhọn nghiêng cho nên không thể cho là cuộc đất tốt; còn thổ thành thì có hung, có cát, dòng chảy nhẹ nhàng, sâu, dâng nhẹ là tốt dòng chảy xiết là xấu. Trong phong thủy người ta căn cứ tình hình nước chảy trên mặt đất để chia ra làm tốt xấu, cho rằng chảy vòng vèo uốn khúc bao quanh hữu tình là đẹp, là cát; chảy xiết, đâm thẳng, cuốn đi là xấu, là hung. Quan điểm về cái đẹp và cái xấu này thoạt nhìn tường như rất hoang đường, nhưng trên thực tế nó là sự kế thừa và phát triển từ kinh nghiệm thực tế của cuộc sống, từ đó hình thành nên nền văn hóa truyền thống với mục tiêu tìm kiếm phong cách kín đáo, sâu sắc trầm lắng.    Vì vậy yêu cầu đối với "Thủy khẩu" là: "Nguồn phải bao quanh hữu tình, không được đâm thẳng, bít kín; cửa ra phải kín kẽ, sợ nhất là đi thẳng ra xa mà không có uẩn khúc quay về.    "Thủy khẩu" là điểm quan trọng nhất trong việc xem thế nước. Thủy khẩu là chỉ nơi nước chảy vào và nơi nước chảy ra của một khu vực nào đó, thông thường là chỉ nơi nước chảy ra. Thủy chủ về tài vận, cho nên tác dụng của thủy khẩu là tụ tài (tập trung tiền tài) Sách "Nhập địa nhãn đồ thuyết - "Thủy khẩu" viết: "Phàm nơi thủy đến gọi là thiên môn, nếu đến mà không thấy nguồn nước thì gọi là thiên môn khai (cửa trời mở); nơi thủy đi gọi là địa hộ, không thấy thủy đi thì gọi là địa hộ bế (cửa đất đóng). Nước chủ về tài, cửa vào mở thì tài đến, cửa đi đóng thì tài dùng bất tận."    Vì vậy trong "Táng thư" mới viết: "Phép xem phong thủy, lấy đắc thủy là ưu tiên, tàng phong là kế đến." Trên thực tế một môi trường phong thủy tốt tuyệt đối không thể thiếu tác dụng của thủy. Thủy một mặt là phản ảnh của khí hậu, mặt khác lại có ảnh hưởng đến thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật của khu vực, cuối cùng là ảnh hưởng đến cảnh quan sinh thái của một khu vực. Đối với cuộc đất để làm nơi ở mà nói, nước lại là thứ không thể thiếu được cho sản xuất và đời sống. Vì vậy các làng xóm thời xưa đều đặc biệt chú trọng việc lựa chọn thủy khẩu, lấy thủy khẩu làm đường giao thông chính, làm tiêu chí cho các vườn cảnh của làng xóm. Nhưng nơi này dân cư thường giàu có hơn những nơi khác, điều này chúng ta có thể thấy rõ trong thực. tế.    Chính vì nước là tiêu chí của tài nguyên, vì vậy ở rất nhiều khu dân cư ở Trung Quốc đều yêu cầu phía trước nhà phải có sông nước, phía trước nhà không có sông nước thì phải đào hồ ao để làm cho tài nguyên phong phú. Thông thường người ta cho rằng: "Trữ nước trong hồ ao đủ để dưỡng địa mạch, dưỡng chân khí". Công dụng của việc đào hồ ao trước nhà còn có lợi cho sản xuất và sinh hoạt.

 ĐIỂM HUYỆT


    Huyệt trong phong thủy cũng gần giống như huyệt vị trong cơ thể con người, là nơi có thể lấy được khí ra, khu được khí về, cũng giống như huyệt vị của cơ thể con người thông với kinh lạc, huyệt vị của phong thủy cũng thông với sinh khí của long mạch. Vì vậy trong phong thủy việc tìm huyệt là một việc hết sức quan trọng, muốn cảm thụ được sinh khí của long mạch, phải tìm được chân huyệt. Các thầy phong thủy cho rằng, huyệt là do trời đất tạo nên, tức là: có long mạch tồn tại thì phải có huyệt, chân long phải kết chân huyệt.    Hình dáng của huyệt phong thủy, thường do sự khác nhau của địa hình cục bộ nên chia ra làm các loại:- Oa huyệt; Kiềm huyệt, Nhũ huyệt, Đột huyệt.Oa huyệt hay còn gọi là khai khẩu huyệt (huyệt mở miệng). Trong Táng thư nói rằng loại huyệt này giống như tổ yến, thường gặp ở nơi núi cao.- Kiềm huyệt, giống cái kềm có hai chân mở ra, còn gọi là khai cước huyệt, ở nơi núi cao hoặc nơi bình địa đều có thể gặp loại huyệt này.- Nhũ huyệt, huyệt mở rộng, ở giữa sinh nhũ (vú), còn gọi là huyền nhũ huyệt, nhũ đầu huyệt, ở nơi đất cao hoặc bình địa đều có thể gặp.- Đột huyệt, huyệt bằng ở giữa nổi gồ lên, còn gọi là bào huyệt. "Táng thư" nói loại huyệt này hình dạng giống như chiếc nồi úp ngược, thường gặp ở nơi bình địa. Hình dạng huyệt trong phong thủy, từ trái sang phải là: oa huyệt, nhũ huyệt, kiềm huyệt, đột huyệt.


 Kiêng kị trong xây dựng nhà cửa


        Kiêng xây nhà, sửa nhà khi trong gia đình có người đang mang thai. Đặc biệt kiêng việc cải tạo bếp nếu không người chửa sẽ bị sảy thai
       Kiêng nền đất trước nhà cao sau thấp, đại hung.


       Kiêng phía tây bắc nhà khuyết một góc (lấy mặt nhà làm chuẩn) sẽ hãm đường con cái, mắc bệnh về đường hô hấp.


       Kiêng phía đông nam nhà khuyết một góc, không lợi cho việc sinh và nuôi dạy con cái.


       Kiêng phía tây nam khu đất của nhà khuyết một góc, sức khỏe sa sút.


       Kiêng khuyết một góc ở phía đông bắc khu nhà, sức khỏe sa sút.


       Kiêng đất ở hình tam giác, trước nhọn sau rộng, hao tổn người và của, bất lợi cho nữ giới. Nếu đất trước rộng sau nhọn gọi là “đuôi sao chổi”, đại hung, trong nhà có người tự sát hoặc gặp tai nạn.


       Kiêng khu đất ở hoặc mái nhà bên trái dài, bên phải ngắn sẽ tổn hại đến vợ con.


       Kiêng khu đất ở hoặc hình nhà bốn góc đều khuyết, đại hung.


       Kiêng đất ở hoặc hình nhà chữ nhật, mặt nhà quay về hướng đông tây, đại hung.


       Kiêng đất ở hoặc hình mái nhà phía nam, bắc đều khuyết, dễ có chuyện thưa kiện, bệnh tật.


       Kiêng khu đất ở hoặc hình mái nhà phía đông khuyết lõm, gia cảnh thiếu thốn.


       Kiêng khu đất ở hoặc hình mái nhà khuyết lõm phía bắc, rất dữ, đại hung.


       Kiêng khu đất ở hoặc hình mái nhà khuyết lõm phía nam, trong nhà thường cãi cọ, không yên.


       Kiêng khu đất ở hoặc hình mái nhà khuyết lõm phía bắc, rất dữ, đại hung.


       Kiêng trồng cây to trong khu đất ở, rất dữ.


       Kiêng giữa sân nhà ở khu đất trống (khu nhà kiểu hình móng ngựa) trồng cây hoặc làm bể nước, rất dữ.


       Kiêng rải sỏi, đá dăm mảng lớn trong sân vườn, sẽ có âm khí, gia cảnh sa sút.


       Kiêng dẫn suối vào khu nhà mình ở, rất dữ.


       Kiêng tường rào vây quanh nhà quá cao, người trong nhà như thú bị nhốt, dẫn đến cùng khốn.


       Kiêng nhà to, người ở ít, rất dữ, vận hạn sẽ nghèo khó.


       Kiêng nhà ở dài ngoẵng, người ở bệnh tật.


       Kiêng chia số phòng trong nhà làm 3, 4, 8 phòng, rất dữ.


       Kiêng nhà ở có phòng chia đôi sàn, rất dữ, con cháu hư hỏng, tiền tài thất tán, hoặc gia cảnh sa sút.


       Kiêng giữa nhà có khoảng không gian không sử dụng, rất dữ.


       Kiêng nhà ở mà cửa chính thành một đường thẳng, không tốt.


       Kiêng nhà ở có cửa hàng mà quay về hướng đông bắc hoặc tây nam, rất dữ, nhà có khí âm, buôn bán kém, địa vị, tiền tài sa sút.


       Kiêng nhà ở độc lập mà không có cửa sau, vợ chồng không sống với nhau dài lâu.


       Kiêng phòng ngủ sát vách bếp, rất dữ, nhất là với trẻ nhỏ.


       Kiêng đặt tủ quần áo quá cũ trong phòng ngủ, đại hung.


       Kiêng đặt nhà bếp quay về hướng tây nam.


       Kiêng bệ bếp quay ra cửa để ngọn lửa ở bếp lộ ra ngoài, làm ăn không thuận lợi, hao tài tốn của.


       Kiêng đặt phòng tắm ở hướng tây nam, đông bắc, rất dữ.


       Kiêng đặt phòng vệ sinh giữa nhà ở, chủ nhà đau ốm, bệnh tật.


       Kiêng bệ xí cùng hướng với cửa chính, rất dữ.


       Kiêng cầu thang đặt chính giữa nhà, đại hung.


       Kiêng nhà ở mở cửa sổ hướng bắc, phụ nữ kinh nguyệt không thuận.


       Kiêng để bàn thờ lộ ra ngoài, người ngoài đi lại nhìn thấy.


       Kiêng hiên nhà có cây to xuyên qua, rất dữ.


       Kiêng trong nhà có bốn cột bốn phía, sát cửa, đại hung, người nhà dễ mắc bệnh.


       Kiêng từ ngoài vào nhìn thấy cột chính lớn nhất của nhà, đại hung, con bất hiếu.


       Kiêng dầm nóc nhà không phải là một cây dài suốt mái, đặc biệt là nhà mái bằng, đại hung.


       Kiêng sàn trong nhà thấp hơn sàn ngoài nhà, dễ bị bệnh, tai họa, cãi cọ.


       Kiêng từ chính diện nhìn vào nhà, mái có hình lồi, chữ sơn có hỏa tai, tán tài, không tốt.


       Kiêng mái nhà ở có hình lồi chữ sơn, dầm nóc giữa cao, trước sau đều thấp dẫn đến hao tài, cô độc.


       Kiêng nền đất nhà tơi mềm, đại hung, người ở thường sa sút.


       Kiêng xây nhà trên ruộng cạn đã lấp, không lành vì ma quỷ thường quấy nhiễu.


       Kiêng xây nhà trên đất cỏ mọc tốt tươi. Phải nhổ cỏ tận gốc nếu không sẽ có tai họa, vận hạn, khổ sở liên miên.


       Kiêng xây nhà từ ngoài vào trong, phát triển không tốt.


       Kiêng sửa nhà cục bộ khi có người đang ở, gia cảnh sa sút, con cháu không thuận, có thể mất giống.


       Kiêng xây thêm tầng của một tầng với móng nhà cũ, đại hung.


       Kiêng nối hai ngôi nhà riêng biệt thành một, nối hai giọt gianh lại, đại hung. Vận nhà sa sút, gia sản khuynh bại. Nếu nối giọt gianh mà dỡ cột thì càng nguy hiểm, có thể dẫn đến chết người.


       Kiêng nhà ở có các khe hở giữa bốn bức tường, đại hung, trong nhà có người ốm, thường có ác mộng.


       Kiêng treo trên tường quá nhiều đồ trang trí, đại hung.


       Kiêng khi cất nhà, quay ngược đầu vật liệu để sử dụng chẳng hạn quay gốc cây (gần rễ) lên trên, ngọn xuống dưới để sử dụng, người trong nhà sẽ gặp bất trắc.


       Kiêng khuôn cửa hoặc trụ cửa cong, người trong nhà sẽ mắc bệnh khó chữa.


       Kiêng nhà nhỏ mà cửa lớn, không tốt.


       Kiêng nhà ở có sân vườn, hệ thống thoát nước đặt ở phía tây nam, không tốt.


       Kiêng rác đổ ở phía tây nam sân vườn, đại hung.


       Kiêng lò bếp gần sát giường, có họa hư hao.


       Kiêng phòng ngủ có dầm bắc qua giữa căn phòng, đại hung.


       Kiêng cửa kính nhà ở chiếu thẳng vào góc nhà của người khác, đại hung.


       Kiêng bắc cây tre để phơi quần áo trên kệ bếp, đại hung, dễ bị tai họa.


       Kiêng mở cửa mái ở phía tây nam, đông bắc, đại hung.


       Kiêng mở cửa mái quá lớn, dưỡng khí quá thịnh, dễ gặp tai họa.


       Kiêng bố trí bếp lò để sưởi ấm ở vùng giữa nhà ở, chủ nhân dễ gặp tai họa.


       Kiêng trổ cửa đi, cửa sổ phần phía nam nhà ở mà không có mái che, tình cảm vợ chồng đổi thay, không cãi cọ.


       Kiêng làm kho chứa dưới giường, đại hung.


       Kiêng kê giường hướng thẳng ra cửa, tối hay nằm mê thấy ma quỷ.


       Kiêng gương soi của bàn trang điểm chiếu thẳng vào giường không tốt.


       Kiêng phía trước bếp có đường cái, phía sau có đường ngang.


       Kiêng sau bếp có giếng, hại cho phụ nữ.


       Kiêng đặt bếp ở quay ra ngoài hai mái, dễ gây thị phi, thất tán tiền của.


       Kiêng phía trên bếp đặt dằm, phụ nữ sẽ sinh lắm bệnh.


       Kiêng mở cửa sổ lớn trên tường rào, thì phi, phiền phức.


       Kiêng tường bao trước rộng, sau hẹp, đại hung, người nhà có thể bị bệnh nặng hoặc tự sát.


       Kiêng tường bao phía trước nhọn, sau rộng dài, gọi là “thái điền bút”, người trong nhà kinh doanh thua lỗ.


       Kiêng tường bao nhà người khác thành hình góc nhọn hoặc góc nhà của người khác chĩa vào nhà mình, bất lợi, góc chĩa bên phải, nữ bị đau, người nhà hao tổn về vật chất và tinh thần.


       Kiêng trên tường bao có mái hiên kiểu cổ quá rộng, thành hình hành lang, sẽ có chuyện kiện tụng.


       Tường bao xung quanh ngoài cửa ra vào kiêng khuyết góc, sẽ ốm đau, kiện tụng.


       Kiêng tường bao quanh nhà cao quá hoặc thấp quá vì sẽ có con gái thọt.


       Kiêng xây nhà, mà xây tường bao trước, sẽ dẫn đến tù tội, hoặc gặp trắc trở.


       Kiêng nhà có cầu chọc thẳng vào nhà, sẽ mất hết tài sản.


       Kiêng trước nhà có rãnh nước mà người ta bắc cầu qua đó, đời sống tinh thần của người trong ngôi nhà đó sẽ bị quấy rầy.


       Kiêng cầu gỗ chọc thẳng vào nhà từ phòng phía tây bắc, chủ nhân ngôi nhà sẽ khuynh gia bại sản, tổn thọ.


       Kiêng trước nhà có đền miếu, gia đình không yên ổn, làm ăn thất tài, phụ nữ bị quỷ thần quấy nhiễu.


       Kiêng nhà xây lọt vào bốn phía xung quanh là núi cao, không tốt.


       Kiêng phía nam nhà có núi cao, học không thành đạt.


       Kiêng trước nhà có núi chạy liên tục từ phải sang trái, có nhà cũ nát, bất yên, hay gặp chuyện kiện tụng.


       Kiêng cổng nhà có đá chắn ngang đối diện với cổng, con cái gặp nạn.


       Kiêng trước nhà ở có đống đá, có thể mắc bệnh hô hấp.


       Kiêng trong cửa hoặc trong nhà có đống đá, sợ người chửa trong nhà bị sảy hoặc mắc bệnh về mắt.


       Kiêng trước nhà có đá mọc, phụ nữ trong nhà mắc bệnh đau tim.


       Kiêng quanh nhà, đặc biệt trước cửa có đá chắn ngang, chó trong nhà hay cắn người, người thường xuyên bị bệnh.


       Kiêng trồng cây cối ở giữa sân vườn, hay bị bệnh tật.


       Kiêng rễ cây trước cửa lộ trồi ra, tổn hại sức khỏe.


       Kiêng trước cửa nhà có bụi trúc, rừng trúc, người trong nhà không vui vẻ.


       Kiêng hướng tây hoặc tây nam gần nhà có cây, sợ trẻ con ngã từ trên cây xuống đất chết.


       Kiêng cây mọc gần nhà quấn nhiều dây leo, sẽ có chuyện thị phi, cãi cọ, tự sát.


       Kiêng hành lang nhà phụ có mái che nối với nhà chính vì sẽ có tai họa, gia đình không yên.


       Kiêng xây lầu hiệu cao lớn hơn nóc nhà vì sẽ thất tài, hỏa tai, trộm cắp, mất quan lộc.


       Kiêng gần nhà có ngã tư hướng về đông bắc, vợ vô sinh.


       Kiêng trước nhà có đường hình vòng cung vòng ra phía ngoài, sợ đàn ông trong nhà chết, phụ nữ dâm loạn, thua kiện, buôn bán thất bát.


       Kiêng trước cửa nhà có ao hồ hình dáng có góc nhọn chọc thẳng vào cửa nhà, người nhà có bệnh về mắt, phụ nữ mắc nhiều bệnh.


       Kiêng trước cửa nhà bên phải có ngã tư đường, đường ngang qua ngã tư lại là đường cong hướng ra ngoài, sẽ có người tự sát, tổn thất tiền của, kiện tụng.


       Kiêng trước cửa nhà có đường rẽ hai bên, lại có hồ nước, nhà ở rất dữ, bệnh tật, người nhà bị chết.


       Kiêng trước cửa nhà có nhà cũ nát, cửa không đóng được, sẽ có nhiều chuyện không hay, bệnh tật, ma quỷ quấy nhiễu.


       Kiêng nhà ở bốn phía là đường, sẽ rơi vào chữ “tù”, khó phát đạt.


       Kiêng dầm trong nhà là số chẵn, sợ tai họa, bệnh tật, phá sản hoặc chết người.


       Kiêng nhà cao lại nối với một nhà nhỏ thấp, sợ hao tổn tiền của, tai họa, bệnh tật.


       Kiêng phòng ngủ phía trước, phòng khách phía sau, sợ thoái tài, làm ăn sa sút.


       Kiêng cửa ra vào chiếu thẳng ra cổng, dễ ham muốn, dâm dục.


       Kiêng phòng ngủ vuông góc với hành lang hoặc đường qua lại, vợ dễ tư thông với trai.


       Kiêng nhà ở phía tây, có một gian làm thành hai tầng, các gian khác một tầng, người trong nhà ham mê tửu sắc.


       Kiêng tường bao quanh nhà dây leo phủ kín, sợ âm khí, kiện tụng.


       Kiêng nhà có tường và cổng đối diện nhà khác mà lại thấp hơn, sẽ suy thoái.


       Kiêng nước thải từ trong nhà ra chảy từ phải qua trái, đại bại.


       Kiêng đặt thần vị theo hướng thái tuế, tai họa rất nặng.


       Những năm thái tuế, kiêng đặt thần vị lưng quay về hướng nam, mặt nhìn ra hướng bắc, nguy hại đến tính mạng.


       Những năm sửu, kiêng đặt thần vị ngồi ở tây hoặc nam, mặt nhìn ra hướng bắc, bệnh tật hoặc chết người.


       Những năm mão, kiêng đặt thần vị ngồi ở tây, mặt quay về hướng đông, nhà có tang hoặc suy thoái.


       Những năm thìn, kiêng đặt thần vị ngồi ở phía tây hoặc tây bắc, nhìn ra hướng đông hoặc đông nam, con cái không tốt.


       Những năm tỵ, kiêng đặt thần vị ngồi ở bắc hoặc tây bắc, mặt quay về hướng nam hoặc đông nam, nhà không yên.


       Những năm ngọ, kiêng đặt thần vị ngồi ở hướng bắc, quay mặt về hướng nam, sẽ gặp thủy hỏa.


       Những năm mùi, kiêng đặt thần vị ngồi ở hướng bắc hoặc tây bắc, mặt nhìn về hướng nam hoặc tây nam, họa không lường được.


       Những năm thân, kiêng đặt thần vị ngồi ở đông bắc, quay mặt về hướng tây, tây nam, đặc biệt hại cho nam giới.


       Những năm dậu, kiêng đặt thần vị ngồi ở hướng đông, mặt quay sang hướng tây, sợ sẽ khóc quanh năm.


       Những năm tuất, kiêng đặt thần vị ngồi ở hướng đông hoặc đông nam, mặt nhìn ra tây hoặc tây bắc, đàn ông bị tổn hại.


       Những năm hợi, kiêng đặt thần vị ngồi ở hướng nam hoặc đông nam, mặt nhìn về phía hướng bắc hoặc tây bắc, bệnh tật quanh năm.


       Kiêng làm nhà bằng loại gỗ nhiều mắt, sợ mụn nhọt.


       Kiêng dùng gỗ âm khi xây nhà, chẳng hạn kiêng dùng các loại cây như dẻ, hòe.


       Kiêng tường đất hai bên cổng chính to nhỏ, bên trái lớn, sẽ thay đổi vợ, bên phải lớn, sẽ tổn thọ.


       Kiêng làm hai cửa nhỏ ra vào hai bên cổng chính, trong nhà không có trật tự, kỷ cương, lớn bé coi khinh lẫn nhau.


       Kiêng dùng tường bao hoặc lan can ở ngoài trời, sợ bị bệnh tim, đau mắt.


       Kiêng phòng ngủ đặt cạnh kho chứa, sẽ bệnh tật.


       Kiêng các phòng trong nhà hình chữ T hoặc tam giác, sợ bệnh tật, sống phải chạy vạy


       Kiêng mở cửa ra nhìn thấy mồ mả vì mồ mả thuộc âm địa, nên người trong nhà sẽ dễ bị ám ảnh không tốt cho sức khỏe.


       Kiêng lưng nhà dựa vào núi.


       Kiêng tường trắng ngói xanh vì đó là biểu hiện nhà có tang.


       Kiêng hành lang dài chạy xuyên nhà vì không lành.


       Kiêng vị trí lộ xung (hướng đường chĩa thẳng vào nhà)


       Khi động thổ, kiêng tuổi năm thái tuế vì ở trên đầu thái tuế sẽ gặp rất nhiều nguy hiểm, rủi ro.


       Kiêng nhà ở cạnh đường nơi trũng thấp khí hỗn tạp, có hại.


       Kiêng góc mái nhà nhọn uốn lượn chĩa thẳng vào cửa ra vào hoặc cửa sổ vì dễ gặp tai họa nghiêm trọng.


       Kiêng tượng đồng, tượng đá cỡ lớn.


       Kiêng ở chung cư cao tầng gần đường cầu vượt hay đường cao tốc vì nó giống như thanh kiếm dài chém ngang sườn, tinh thần không yên, dễ gặp rủi ro.


       Kiêng nhà ở thấp dưới đường sắt vì vận khí thấp, khó gặp may mắn.


       Kiêng nhà cửa cao đuồn đuỗn sẽ không an toàn, làm ăn bị cản trở.


       Kiêng nhà cao tầng đứng chơ vơ, ở lâu sẽ bị cô lập, khó gặp may.


       Kiêng cỏ và cây cối mọc um tùm vì đó là biểu hiện vận mạt, khó phát triển.


       Kiêng nhà ở chỗ đường giao nhau, dễ gặp chuyện bất ngờ, không yên ổn.


       Kiêng cửa ra vào thấp vì đó là biểu hiện vật mạt, không tốt.


       Kiêng xây nhà trên mảnh đất hình tam giác nhọn vì đó là đại hung do thế đất bị cắt. Cách chống lại vị trí theo hình cái kéo này là chừa chỗ góc nhọn để trồng cây sẽ giải được sự không may mắn.


       Kiêng nhà ở hình tròn vì theo quan niệm của người Trung Quốc, nhà ở phải tĩnh, vì thế mà không được tròn vì tròn là động, dễ xảy ra chuyện biến động, không yên ổn. Kiêng nhà ở có tường che cao ngăn trước mặt vì không may mắn, nhất là khi có đường cao tốc chạy qua.


       Kiêng nhà ở bắt đầu từ đoạn xuống dốc vì khí cũng như nước chảy xuống chỗ thấp nên ở trong ngôi nhà đó sẽ không may mắn.


       Kiêng ở nhà chung cư cao tầng lồi lõm, nhiều góc nhọn vì dễ có điều tiếng, không thể có điều lành.


       Kiêng nhà ở phía sau đền vì đền là đất âm, khó tụ khí, ở sẽ gặp điều chẳng lành.


       Kiêng nhà ở có ao hồ nằm phía đông vì ánh sáng mặt trời chiếu lên mặt nước, phản xạ gây hoa mắt.


       Kiêng nhà ở có ao hồ ở phía tây vì ao hồ ở phía tây tức là “bạch hổ khai khẩu” sẽ gặp chuyện chẳng lành.


       Kiêng xây nhà trên lớp phù sa của dòng sông cạn kiệt vì cửa sông bao giờ cũng là nơi “tán khí”, ở lâu không có lợi.


       Kiêng dỡ mái nhà và xây thêm tường cho cao hơn vì như thế dễ gặp rủi ro.


       Kiêng xây nhà bên vực, trên sườn núi vì dẽ nguy hiểm, tâm lý bất an.


       Kiêng xây nhà mà mở cửa nhìn thấy núi vì khí bị cản trở đại hung.


       Kiêng xây nhà nhìn vào cổng nghĩa trang, không lành.


       Kiêng khung cửa nhà cong vênh, luôn có tai họa, bệnh tật.


       Kiêng xây nhà ở tận cùng ngõ hẻm vì mọi tia xạ như tên bắn xuyên vào nhà, đại kỵ. Người ở trong căn nhà đó dễ bị điều tiếng thị phi, gặp nhiều bất lợi, thậm chí phá tài.


       Kiêng nhà ở có cây leo bò trên tường rào, sẽ có chuyện không lành.


       Kiêng trước nhà có cây cầu chĩa thẳng vào theo hướng tây bắc, gia đình sẽ lụn bại, sức khỏe giảm sút, hao tài, tốn của.


       Kiêng trước cửa rác rưởi chất đống vì sẽ hẩm hiu.


       Kiêng nhà ở gần nhà tang lễ vì đất ở đây âm khí rất nặng, không thể tốt lành.


       Kiêng nhà ở có cửa lớn đối diện với đường thẳng tắp, kiểu nhà này gọi là nhà ở đầu đường chữ T, không tốt, đại hung.


       Kiêng nhà ở ngoài đê, sức khỏe và vận thế không tốt.


       Kiêng nhà hình tàu thuyền, khó ở được lâu.


       Kiêng làm phòng ngủ nếu căn phòng có góc nhà bên cạnh chiếu thẳng vào.


       Kiêng xây nhà trên đất cũ là nhà xưởng vì đại hung.


       Kiêng trước nhà có cây to chắn lối hoặc cây khô vì dễ lụn bại.


       Kiêng tường bao quanh nhà quá cao, nhất là có dây thép gai vì ở lâu sẽ cùng khốn.


       Kiêng trước nhà có đường đi cong như hình cây cung, mặt chính ngôi nhà như có cây cung chĩa vào đe dọa, dễ có sự rủi ro, không có lợi cho mọi người, đặc biệt là phụ nữ.


       Kiêng mở thêm cửa bên cạnh để ra vào vì nhà bị thoát khí, không tốt.


       Kiêng nhà hai đầu cao, giữa thấp, khó an cư, không lành.


       Kiêng sau nhà có tầng đá nằm kê sát, vận nhà khó phát triển, không lợi cho công danh phú quý.


       Kiêng khi tầng dưới làm nhà ở, tầng trên mở cửa hàng, không lành.


       Kiêng nhà ở bên cạnh cầu vượt hoặc đường cao tốc nhất là nằm ngoài vành cung tròn của đường vòng cầu vượt hay đường cao tốc trên cao vì nó giống lưỡi liềm cứa ngang lưng, rất xấu.


       Kiêng nhà ở kiến trúc như bức màn thủy tinh trong suốt, phạm điều kiêng kỵ “tiết” (thoát ra), trong nhà hay cãi cọ, đàn bà dễ sinh ngoại tình.


       Kiêng có cây to che hướng đông, hướng nam nhà, âm khí nặng nề, hại cho sức khỏe.


       Kiêng mở cửa sổ ở tường rào vì người ta gọi kiểu nhà đó là “chim sẻ mở mồm”, ảnh hưởng xấu, dễ sinh điều thị phi, luôn buồn phiền, rầu rĩ, khó chịu.


       Kiêng mở cửa thấy sông hoặc mương to thoát nước vì khí ẩm, môi trường không sạch, có hại cho sức khỏe, tài khí dễ mất mát.


       Kiêng nhà ở gần các tượng đài có nhiều góc cạnh nhọn gây xung sát, không lành.


       Kiêng nhà ở có cây to xuyên qua nóc nhà hoặc mái nhà, không lành.


       Kiêng nhà hai mái tháo đi một mái, thể hiện sự suy sụp, không lành.


       Kiêng nhà xây ở giữa hai cầu vượt, một cái cao, một cái thấp như hình lưỡi kéo, khó tránh điều dữ, buôn bán không có lợi.


       Kiêng vào nhà thấy ngay bếp, nhà ăn hoặc buồng vệ sinh, vận nhà sẽ suy khi ở một thời gian.


       Kiêng cửa chính đối diện cửa buồng ngủ vì sẽ khiến người trong đó đắm say sắc dục.


       Kiêng cầu thang đi trong nhà hình thành chữ lồi vì vận nhà gặp nhiều bất lợi.


       Kiêng xây nhà nghiêng theo đường dốc, sợ gặp vận thoái.


       Kiêng luồng phản quang chiếu đến như lưỡi kiếm, không tốt.


       Kiêng nơi làm văn phòng không có cửa sổ, sợ ảnh hưởng xấu đến tài vận và sự phát triển.


       Kiêng nhà ở đầu cùng ngõ cụt, sẽ có nhiều chuyện không hay, lắm điều thị phi, kiện cáo, trở ngại cho sự nghiệp.


       Kiêng song sắt, lồng sắt quá dày, sẽ cản trở vận thế, khó hưng thịnh.


       Kiêng tường sụt, vách lở vì bại vận.


       Kiêng trước nhà có nhiều kiến trúc, cột trụ lớn sẽ áp chế khí nhà mình, khó phát triển.


       Kiêng trang trí bừa bãi trên nóc nhà, sẽ gặp điều không lành.


       Kiêng xây nhà giữa hai ngôi miếu, sẽ gặp vận xấu, sinh nhiều chuyện không lành.


       Kiêng nhà ở ngõ cụt lộ xung, bất lợi cho việc học hành, thi cử.


       Kiêng đặt bếp giữa hai buồng ngủ, bất lợi cho người trong hai buồng đó.


       Kiêng lò bếp đặt dưới cầu thang vì lửa bếp thể hiện vận khí của nhà, nếu bị đè lên cả nhà sẽ khó phát triển.


       Kiêng xây nhà trên bãi tha ma sau khi mồ mả đã được di dời đi. Để an toàn, phải làm lễ siêu độ theo nghi thức tôn giáo nếu không dễ gặp hung.


       Kiêng nhà nhỏ bé nằm giữa các nhà to, cao vì sợ buôn bán khó vươn lên.


       Kiêng để buồng tân hôn chiếu thẳng vào cửa đền, cửa miếu sẽ không tốt cho chuyện hôn nhân và người mang thai.


       Kiêng kỵ về nhà ở của người Đài Loan xưa


       Nhà ở tuyệt đối không được xây dựng trên sườn núi, đường phân hai phần núi hoặc lối ra vào khe núi nếu không sẽ ảnh hưởng tới phúc trạch và dễ bị bệnh tật.


       Kiêng xây nhà ở chỗ giao nhau của hình chữ đinh tức là phần đường vuông góc chọc thẳng vào nhà, trước mặt nhà kiêng không có con đường hẻm chạy xộc thẳng vào nhà vì vô cùng đại họa. Người ta cho rằng hỏa tai thường đến với nhà loại này, tai họa có khi giáng từ trên trời xuống hoặc bệnh tật, buôn bán thua lỗ, gây ra kiện tụng.


       Kiêng xây nhà ở ngõ cụt, dễ xảy ra tai họa, thua kiện thị phi, phá sản, bệnh tật.


       Kiêng cây to án ngữ trước cửa chính, âm khí khó thải ra, dễ nguy hiểm.


       Kiêng trước cửa chính có cây chết khô, gia chủ sẽ nghèo hèn, không tốt với người già.


       Kiêng chặt cây to ở phía tây bắc nhà vì theo quan niệm xưa, tây bắc là căn, cây to là mộc tinh canh giữ cho người trong nhà, nếu chặt đi sẽ gây đại họa.


       Nhà ở độc lập kiêng xây cao hơn xung quanh vì sẽ không giữ được tiền tài, tâm lý không yên ổn, âm dương không cân bằng, dương thịnh âm suy.


       Kiêng xây nhà của con cái (trừ con trưởng) trong phần đất của cha mẹ vì cả hai nhà sẽ sa sút.


Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.