bài viết trong chuyên mục "BÍ ẨN"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy 2022 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÍ ẨN. Hiển thị tất cả bài đăng

Theo quan niệm dân gian, khi cải táng mộ, nếu gặp rắn nằm trong mộ thì tối kỵ việc bắt, giết. Thế nhưng, những người trong một dòng họ ở Thị xã Chí Linh (Hải Dương) khi cải táng ngôi mộ tổ, gặp sự việc bất thường này lại có hành động “bất thường”: Bắt hai con rắn nặng cả ký lô lên làm… mồi nhậu. Những chuyện lạ chưa thể giải thích từ đó cứ liên tiếp diễn ra trong dòng họ này. Chỉ trong một thời gian ngắn mà lần lượt những người trẻ chết tức tưởi, chết tai nạn vì những lý do cực kỳ lãng xẹt...



Đã phạm điều tối kỵ lại còn “trùng tang”?

Đầu những năm 2000, do mộ cụ tổ của cụ ông và cụ bà dòng họ nằm cách xa nhau, mộ của cụ bà lại bị người dân làm ruộng cuốc làm mất hết cả chân mộ dẫn đến nước ngập vào trong nên cả họ tiến hành họp những người cao tuổi trong dòng họ, bàn chuyện chuyển mộ cụ bà về gần cụ ông.

Người ta kể lại, khi thợ xây tiến hành đào đất để di dời mộ của cụ bà thì phát hiện trong ngôi mộ có một con rắn lạ, nặng khoảng nửa ký nằm ở độ sâu khoảng 1,5 mét, lạ lùng là mình rắn có màu đỏ như lửa. Tiếp tục đào mộ cụ ông, người ta lại tiếp tục phát hiện một con rắn hổ mang nặng đến một ký nằm ở trên đầu ngôi mộ. Theo lời kể lại, sợ nhất là cả hai con rắn trên đầu đều có mào hình chữ thập, nhìn kỹ thì thấy một con trên đầu có hình chữ “Thọ”, một con trên đầu có hình chữ “Phúc”.

Có lẽ người ta nghĩ ở khu vực cánh đồng ngập nước này, chuyện gặp rắn thì “thường như cơm bữa” nên không ai lấy làm lạ. Cánh thợ xây liền mang con rắn hổ mang đi bán lấy tiền uống rượu. Con rắn có màu đỏ rực còn lại thì ông Điền là người trong họ mang về nhà để ngâm rượu, nhưng sau đó vợ ông không cho ngâm nên ông mang ra ruộng thả đi.

Sau khi dòng họ di dời mộ cụ ông, cụ bà về với nhau, thời gian đầu mọi chuyện vẫn diễn ra bình thường, không có biến cố nào xảy ra. Bẵng đi một thời gian, vào khoảng năm 2007 vợ của ông trưởng họ bỗng nhiên bị bệnh đột ngột qua đời. Dân làng bỗng trở nên hoang mang hoảng sợ, kể từ đó câu chuyện về dòng họ bị “ma ám” bỗng trở nên xôn xao, náo động cả một vùng quê.

Người trong họ cho biết, sau khi vợ ông trưởng họ bỗng nhiên bị bệnh đột ngột qua đời, con dâu trưởng của người chết liền đi xem bói thì được cho rằng: Khi làm mộ, nếu phát hiện có rắn ở trong thì đó là điều thịnh vượng và không nên đào lên nhưng mọi người vẫn cố làm dẫn đến bị động mả, do đó các cụ “về bắt” dần con cháu trong họ và người đầu tiên “bị bắt” chính là vợ trưởng họ. Bên cạnh đó, thầy bói còn “phán” thêm: Do bà vợ trưởng họ bị “bắt” đúng vào giờ “trùng tang” nên cứ thỉnh thoảng các vị “thần trùng” lại về lấy con cháu trong họ xuống để làm phục vụ cho các “thần”. (?!)

Cả nhà theo nhau chết

Chẳng biết cái chết của bà vợ ông trưởng họ có liên quan gì tới việc “động mồ mả tổ tiên” hay “trùng tang” hay không, nhưng kể từ khi cô con dâu cả đi xem bói về thì hàng loạt người trong dòng họ không kể già trẻ, gái trai cứ thế chết dần chết mòn. Hơn một tháng sau, cả họ suốt ngày “bận bịu” vì tiễn đưa bốn người gồm: Cô, dì, chú, bác, cháu trong dòng họ về nơi an nghỉ cuối cùng.

Một điều trùng lặp khác khiến mọi người vô cùng lo sợ: Chỉ trong vòng có hơn nửa năm trời, ba vợ con của một gia đình trong dòng họ đang mạnh khỏe bỗng nhiên đổ bệnh rồi từ biệt mọi người về thế giới bên kia.

Trong vòng hơn một năm trời kể từ cái chết đầu tiên, tổng cộng gần chục người khác trong dòng họ cứ thế theo nhau chết, trong đó có những cái chết thuộc dạng lý do “cực dị”.

Cái chết của anh L.V. Ngãi (SN 1972) là một trong số đó, lạ đến mức khi nhắc lại cả người trong và ngoài cuộc vẫn ngơ ngác không biết giải thích như thế nào cho hợp lý. Đó là một buổi chiều giữa tháng 9/2009 vào giữa mùa rươi nổi, anh Ngãi cùng vợ chở nhau bằng xe đạp ra sông Bích Thủy bắt rươi.

Chị vợ kể lại: “Hôm đó, khi tới bờ đê sông anh Ngãi đưa điện thoại cho tôi, dặn đứng chờ rồi anh ấy bơi thuyền ra nơi bẫy rươi giữa sông”. Bóng anh Ngãi dần khuất trong bóng đêm giữa mênh mông sóng nước chỉ còn thấy leo lét ánh đèn pin. Đứng chờ trên bờ một hồi lâu, bỗng chị nhận được điện báo của anh chồng cũng đánh rươi cách đó vài trăm mét thông báo việc thấy đèn pin và chậu đựng rươi của anh Ngãi trôi lập lờ theo nước dòng mà không thấy người đâu.

Có chút sững sờ nhưng chị vợ cố trấn an suy nghĩ vì biết chồng lớn lên trên sông nước, bơi lội nhất nhì làng không thể có chuyện chết đuối. Nhưng đợi mãi, gọi mãi không thấy, chị mới tá hỏa hô hoán mọi người đi tìm giúp. Vạch từng bụi cỏ quanh sông, theo dòng vài km cũng không thấy động tĩnh gì. Lúc bấy giờ, không hiểu linh tính thế nào người anh trai nạn nhân mới giật mình nói rằng: “Nó vẫn ngồi đâu đây thôi”.

Quả thực, tất cả những người hôm đó sững sờ nhìn thấy thi thể anh Ngãi chợt bật lên khỏi mặt nước, xếp chân trong tư thế ngồi ngay cạnh mạn thuyền, không hề trôi đi dưới dòng nước dòng đang cuồn cuộn chảy, trong khi không hề vướng mắc vào bất cứ vật cản nào. Nén lại đau thương và không thể giải thích được cái chết kỳ cục của nạn nhân, mọi người chỉ đoán già đoán non anh đã bị cảm đột ngột nên ngã đuối nước mà thiệt mạng.

Đúng ngày giỗ 100 ngày anh Ngãi, người anh trai cũng đột ngột qua đời ngay trong buổi sáng giỗ em.

Sáng hôm ấy, chị vợ anh dậy từ tinh mơ chuẩn bị gánh hàng cá đi chợ nhưng thấy chồng nằm im thin thít thì nhẩm nghĩ: “Chắc hôm qua đi làm nên mệt nhọc say giấc” và đã không đánh thức chồng. Sau khi chuẩn bị cơm sáng, đưa con đi học rồi đến khi tan chợ về nhà, chị vợ lấy làm lạ vì thấy chồng không đi dự giỗ trăm ngày em trai mà nằm bất động trên giường.

Nấu cơm xong, gọi dậy ăn nhưng anh chồng chỉ lắc đầu. Ngỡ chồng giận mình vì lý do nào đấy nên chị không nói gì. Đến tận chiều, cả nhà mới hốt hoảng về tình trạng của anh. Gia đình vội vàng đưa đi cấp cứu, nhưng những dấu hiệu không lành về sức khỏe hiện tại của bệnh nhân đã báo trước cho dòng họ thêm một lần tang tóc. Anh trai anh Ngãi đã qua đời ít ngày sau đó tại bệnh viện Hải Dương sau cơn đột quỵ ấy.

Nỗi đau trong họ mạc, gia đình còn chưa chấm dứt khi hai anh em ruột lần lượt qua đời cách nhau 100 ngày mà không có lý do thì một sự lạ khác lại tiếp diễn. Đúng 100 ngày sau cái chết của người con thứ 2, mẹ đẻ của hai anh cũng đột ngột qua đời. Khăn tang trắng lại chồng lên khăn tang, chỉ hơn 9 tháng trời mà gia đình chịu cảnh chia ly người thân 3 lần.

Người trong họ kinh hãi, người trong thôn xôn xao. Thực hư không rõ như thế nào nhưng những sự lạ này cứ được đồn đại lên. Có người cho rằng “khi thấy người anh không dậy được thì mời thầy về cúng bái, cúng xong hôm sau nạn nhân bỗng tỉnh lại, nhưng kì quái là khi tỉnh dậy người này cứ đuổi bà vợ để cắn, rồi ngày hôm sau nữa thì chết”. Rồi chuyện lúc gia đình làm lễ gọi hồn người đó về hỏi thì người đó nhập hồn vào một người khác và cứ cười khanh khách: “Có phải một mình tao bắt đâu, thằng đấy nó khỏe lắm, tao phải gọi mấy người lừa lúc nó say rượu nên mới bắt được”.

Trước hàng loạt cái chết của mọi người, dòng họ liền tìm xuống một ông thầy ở Quảng Ninh để “cầu cứu” thì được người này phán rằng: “Dòng họ bị trùng tang nên cứ khoảng 100 ngày là lại có một người ra đi, nếu muốn thoát được thì phải nhờ thầy cao tay lập đàn giải hạn”.

Được báo trước vẫn không thoát chết 

Trước hàng loạt cái chết của mọi người, dòng họ liền tìm xuống một ông thầy ở Quảng Ninh để “cầu cứu” thì được người này phán rằng: “Dòng họ bị trùng tang nên cứ khoảng 100 ngày là lại có một người ra đi, nếu muốn thoát được thì phải nhờ thầy cao tay lập đàn giải hạn”. Ông thầy Quảng Ninh “phán” rằng, trong họ một tuần nữa sẽ có người tên là Cường sắp bị “bắt đi”.

Không tin vào lời thầy phán, mọi người trong họ lại tiếp tục đi gọi hồn ở bên huyện Nam Sách. Trong quá trình gọi hồn, “người chết hiện lên” nhập vào một người và cho biết “vào ngày 20/8/2010 các “thần” sẽ bắt một người tên Cường trắng trẻo, đẹp trai, đi làm ở xa và là người có chức tước”. Sau khi nghe thấy thông tin đó, mọi người trong nhà ai nấy đều nơm nớp lo sợ và chờ đến ngày 20 định mệnh. Rà soát trong họ xem những ai có tên thì chỉ thấy có duy nhất một người tên Cường (là con của ông lão định mang con rắn màu đỏ rực về ngâm rượu). Người này đã lấy vợ nhưng ở tận Hà Nội.

Cuối cùng ngày đó cũng đến, trong họ người này dặn người kia luôn phải cẩn thận, máy điện thoại lúc nào cũng phải bật 24/24h để nghe ngóng tình hình. Đến 20h ngày 20/10/2010, cả họ vẫn chưa thấy xuất hiện tin xấu, cho rằng mọi chuyện đã qua và các thầy bói, thầy gọi hồn là lừa bịp. Mọi người vui vẻ rủ nhau đi uống rượu hát karaoke “ăn mừng”.

Nhưng cuộc vui ấy chỉ diễn ra được chưa đầy 2 tiếng đồng hồ: Đúng 22h, điện thoại mọi người run bần bật, người trên Hà Nội báo về hung tin anh Cường vừa chết thảm khi tàu hỏa đâm phải ở thị trấn Văn Điển. “Người thì đứng chết lặng sững sờ, người thì sợ quá rơi cả cốc bia vào chân vỡ tan mà không hay khi nghe thông tin ấy”, một người thuật lại. Nạn nhân là một kỹ sư tốt nghiệp Đại học Bách khoa, thời điểm anh “ra đi”, vợ anh đang mang bầu đứa con đầu lòng và anh cũng đang giữ chức vụ Phó Giám đốc một công ty chuyên về thiết bị điện.

Hơn 2 tháng sau, người trong họ lại tiếp tục đi xem bói và được thầy phán sắp tới trong họ sẽ có một người nữa có tên vần H sắp “ra đi”. Lại một lần nữa sự trùng lặp xảy ra khi ngày 28/3 vừa qua, một người trong họ tên Hùng đang khỏe mạnh bình thường bỗng nhiên đổ bệnh, sau khi đi bệnh viện chiếu chụp ông được các bác sỹ cho về nhà chữa trị. Về nhà được vài ngày, trong khi đi từ nhà ra ngoài cửa thì ông gục ngã chết luôn tại chỗ.

Một phụ nữ trong họ mắt đỏ hoe nhớ lại: “Chiều hôm ấy tôi còn mang bột mỳ rán sang cho ông ăn. Ông tỉnh táo và khỏe mạnh mạnh lắm, nhìn thế nên tôi yên tâm ra về. Chỉ vài tiếng sau đã nghe thấy tin ông ấy đột nhiên loạng choạng bước tới cửa thì lăn đùng ra chết.”

Như vậy chỉ tính trong vòng chưa đầy 3 năm, dòng họ này đã có 12 người chết bất thường, chết vì bệnh tật. Khu nghĩa trang của dòng họ lúc nào cũng trắng vòng hoa vì người trong dòng tộc theo nhau chết.

“Lá vàng khóc lá xanh” 

Theo chân một người dân Bích Thủy, chúng tôi đến nhà ông L.Sinh, một người trong dòng họ. Trong ngôi nhà 3 tầng khang trang, tiếp chúng tôi là 2 người đàn ông, một già, một trung tuổi, là ông Sinh và người cha - cụ L.Tài (79 tuổi). Đây chính là gia đình đã có 3 người liên tiếp chết cách nhau 100 ngày.

Khi hỏi thăm về sức khỏe và tuổi tác, ông cụ cười cười nhưng đôi mắt đượm buồn: “Vợ chồng tôi bằng tuổi nhau, nếu bà ấy còn thì xuân này chúng tôi đã được cùng con cháu mừng thọ 80”. Có lẽ những cái chết của vợ và các con trai làm ông gần như suy sụp, nếu không phải vì biến cố này thì người đàn ông ở cái tuổi “xưa nay hiếm” ấy vẫn còn mạnh khỏe lắm. Giờ đây mỗi bước đi của ông đã phải nhờ đến cây gậy đồng hành.

Tò mò về câu chuyện 2 con rắn, chúng tôi đánh bạo hỏi ông Sinh xem thực hư thế nào. “Đúng là có chuyện đó”, ông khẳng định. “Mấy năm trước, con cháu trong họ chúng tôi góp tiền để đưa mộ cụ tổ bà về bên cạnh cụ tổ ông. Trong quá trình đào lên thấy trong mộ bà có con rắn cạp nia và trong mộ ông có con rắn hổ mang nặng gần một ký. Nhưng không có chuyện con rắn có cái mào như mọi người vẫn nói và chúng tôi cũng không đập chết mà những người thợ xây mộ đã đem con rắn này đi bán lấy tiền uống rượu”, ông cho biết.

Theo ông Tài, dòng họ L.V có khá nhiều điều đặc biệt: Có 8 chi, đến đời mình mỗi người con trai trong họ sau khi lập gia đình đều sinh được 8 người con. Đó cũng là một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà người họ L.V vẫn lấy làm tự hào về cái “lộc” của mình. Nhưng đến nay, ông Tài cũng chỉ còn lại 5 người con.

Sau “cơn bão ma” này, riêng chi nhà ông cũng mất 5 người. Các chi khác trong họ cũng cùng chung tiếng khóc mất con cháu một cách đau lòng, khó hiểu. Từ năm 2009 đến nay, cứ lần lượt những cái chết gần nhau liên tiếp xảy ra cướp đi hơn chục mạng người, hiện tại trong họ còn một người đàn ông cũng đang vật lộn chống chọi khó khăn với bệnh tật và “không biết đi lúc nào”.

Những người quá cố, già có, trẻ có, cả nam và nữ, người bỗng dưng phát bệnh, người chết tức tưởi để lại nỗi đau khôn cùng cho người còn sống. Con cháu trong nhà hoang mang lo sợ, những buổi họp họ đầu xuân đã không còn vui nữa, thêm vào đó là những lời đồn thổi dù không ác ý của dân trong làng làm không khí trong mỗi gia đình mang họ Lương chẳng mấy lúc được bình yên.

Những người con trai khỏe mạnh cứ đột ngột ra đi để lại nỗi trống trải không gì bù đắp được cho những người phụ nữ và sự phiền muộn, nhớ thương của những người làm cha mẹ. Kể cho chúng tôi nghe chuyện của các em mình, ông Sinh vẫn bùi ngùi vì thương hai “chú” chưa có con trai nối dõi. Ông cũng vô cùng thương tiếc cho cái chết của anh Cường: “Hàng trăm người đứng đợi tàu hỏa đi qua, “ma xui quỷ khiến” thế nào, chú nó lại chọn đúng thời điểm ấy để băng qua đường sắt”.

Nỗi đau chưa lời giải 

Mang nỗi lo sợ trong lòng, những người phụ nữ với bản tính yếu đuối tìm đến các đền, chùa, thầy cúng, cô đồng để xem bói, giải hạn. Bản thân ông trưởng họ và gia đình cũng nhiều lần lập đàn giải oan, giải hạn cho họ nhà mình. Trong tâm trạng hoang mang, lo lắng họ cũng chỉ biết tìm đến những nơi như thế để tìm chốn cầu an cho dòng họ. Bình tĩnh hơn, ông Sinh nghĩ rằng gia đình cũng như dòng họ, “thịnh nhiều rồi cũng có lúc suy. Những chuyện không may, những cái chết đau lòng là việc rủi ro không tránh được. Bản thân tôi là người trực tiếp đào mộ các cụ lên để quy hoạch, mình làm việc tốt báo hiếu tổ tiên, sao có thể coi là bị trừng phạt được?”.

Tìm gặp ông trưởng họ L.Xương tại một quán nước trong làng khi ông đang mải nói chuyện với những người hàng xóm, ông thở dài âu sầu: “Tôi đã dồn được 20 triệu đồng định để cải mộ cho bà lão nhưng sau những chuyện đã qua, mấy đứa con chưa đồng ý, chúng bảo để đi “xem thầy” xem thế nào”.

Nghe đâu câu trả lời của “thầy” khiến không ít người sởn gai ốc lo sợ: “Dòng họ này bây giờ không được cải táng mộ vì cứ hễ có một người được đào lên sẽ có một người nằm xuống”. Ông Xương thoáng buồn kể chuyện mấy người con dâu của ông sợ rằng khi bốc mộ mẹ lên thì chồng các chị sẽ chết, vì thế các con ông lần chần mãi mà không dàm làm. Lúc chúng tôi về thôn Bích Thủy cũng là lúc người con dâu của ông Xương đang lặn lội lên tận Bắc Giang tìm thầy xem bói cho vận hạn nhà mình.

Những người trong dòng họ L.V biết bao ngày nay đã sống trong sợ hãi. Không những thế, họ còn phải luôn nhân được những cái nhìn ái ngại của người trong vùng. Sau những sự việc đã xảy ra, có người nghĩ rằng rồi bây giờ, con cháu nhà họ L.V sẽ khó lấy vợ, lấy chồng do ai biết chuyện cũng sẽ bất an, sợ “ma ám”. Câu chuyện của dòng họ còn có khi bị một số người gán ghép vào những chuyện không hay, xui rủi khác. Người xấu bụng thậm chí còn thêu dệt ra câu chuyện đổ lỗi người họ khác chết cho… họ L.V.

Một phụ nữ trong làng thì thào với chúng tôi: “Đấy, cái vụ nhà chị hàng xóm cạnh nhà ông trưởng họ chết vì điện giật là một ví dụ. Người nhà chị bị điện giật đã đi xem bói thì được thầy phán rằng do bà vợ ông trưởng họ L.V trên đường về nhà bắt con cháu đi cùng nhưng do cửa khóa không vào được nhà nên đã đi vòng phía sau. Không may nhà chị ấy lại ngay sau nhà bà này nên hồn ma bà này đã bắt đi”.

Những người trong dòng họ L.V muốn tin rằng những tai ương liên tiếp giáng xuống đầu họ bấy lâu nay chỉ là một sự rủi ro. Họ mong muốn tai ương qua đi, vận đen qua đi để người còn lại vẫn phải sống tiếp, con cháu trong nhà sẽ lớn khôn khỏe mạnh dựng vợ, gả chồng sinh con cháu đề huề đem lại phúc đức, thịnh hưng cho dòng họ, xóa bỏ lời đồn “ma ám” bấy lâu nay. “Những người còn sống làm tròn trách nhiệm cải táng cho người đã khuất theo đúng tập tục, văn hóa người Việt Nam, vì sao chỉ vì 2 con rắn mà phải chịu nhiều nỗi đau đến thế?”, một người đặt câu hỏi.

Theo Pháp luật & Thời đại

Năm 1987, ông chủ quán phở ở Điện Biên tên S. đã thuê một nhóm người đào trộm mộ cô Vũ Thị L., cô gái xấu số bị sét đánh chết.
 


Vụ đào trộm hài cốt trinh nữ bị sét đánh và những cuộc báo oán rùng rợn 

Không ai rõ S. dùng bộ xương ấy làm gì? Nhưng có một điều là S. phất lên nhanh chóng như diều gặp gió, tiền vào như nước.

Có tiền, gã lập công ty, quen được toàn sếp lớn, nhận thi công nhiều dự án lớn ở tỉnh Lai Châu (cũ). Có điều, sau đó, gã đã bị bắt vì tội tham ô, đút lót, biển thủ công quỹ và nhận án tù chung thân.

Những người tham gia đào quật mộ trộm xương, kẻ thì chết thảm, người thì liên tiếp gặp tai họa, sống dở, chết dở. Dân thành phố Điện Biên bảo: “Hồn trinh nữ L. đã báo oán”.

Kỳ bí bàn tay người chết vì sét đánh

Chuyện xảy ra vào một chiều mùa hạ năm 1983. Hôm ấy trời mưa to, gió lớn, sấm đùng đoàng, chớp giật liên hồi. Cô y tá trẻ Vũ Thị L. trên đường đạp xe từ trạm y tế về nhà, vừa đạp xe, vừa vuốt nước mưa quất vào mặt.

Đến trước sân bay Mường Thanh thì cô bị sét đánh trúng. Một luồng điện sáng lòa phóng xuống đất, kèm tiếng nổ long trời. Cô chết bất đắc kỳ tử, nằm co quắp. Da cháy đen thui, mùi thịt cháy khét lẹt.

Được biết, L. quê ở Tuyên Quang. Cô lên vùng đất tận cùng Tây Bắc học Trường Trung cấp Y tỉnh Lai Châu (khi đó chưa tách tỉnh thành Điện Biên và Lai Châu).

Học xong, cô về công tác ở huyện Điện Biên, cách thành phố không xa. Do đường sá xa xôi cách trở, thời điểm năm 1983 đi lại vô cùng khó khăn, cha mẹ cô lại nghèo túng nên không có điều kiện đưa xác cô về quê.

Gia đình đã xin phép chính quyền, chôn cô ở Nghĩa địa Hòa Bình, xã Noong Bua, rồi cắt cử người thay nhau trông nom mộ ngày đêm. Bởi xưa nay, dân gian vẫn đồn thổi hàng ngàn câu chuyện ly kỳ, huyền hoặc về số phận của những ngôi mộ chôn những người bị sét đánh.


Đường vào nghĩa địa Noong Bua 

Người ta bảo rằng, những tên đạo chích thường rình rập đào trộm mộ để chặt lấy cánh tay của người bị sét đánh làm “bảo bối” hành nghề. Kẻ nào có được cánh tay đó còn hơn bắt được vàng.

Trước khi hành sự, chúng chỉ việc đặt bàn tay đó lên bàn thờ khấn. Bàn tay chỉ về hướng nào thì đi ăn trộm hướng đó.

Mang theo bàn tay của người bị sét đánh, chúng có phép tàng hình như Tôn Ngộ Không, không ai nhìn thấy được, cứ thế vô tư ra vào nhà đối tượng như chỗ không người.

Thậm chí, nếu chủ nhà chẳng may phát hiện thì chỉ việc huơ huơ bàn tay trước mặt, chủ nhà sẽ bị cấm khẩu, đứng im bất động cho trộm khoắng hết đồ đạc.

Lại có tin đồn, xương ức của người bị sét đánh có thể làm bùa hộ mệnh cho những kẻ trộm cắp. Khi đeo vào cổ có thể trị tà ma, đi đêm khuya sẽ tránh được gió độc.

Thậm chí, có tin đồn rằng, nếu lấy được xương bánh chè, xương tay hoặc chân của người bị sét đánh mài ra sắc uống sẽ chữa được nhiều bệnh nan y, đặc biệt người điên uống nước này bệnh điên sẽ dứt ngay tức khắc.

Một số người chuyên nghiên cứu về mật tông thì khẽ khàng giải thích, giọng âm u, bí hiểm: Các pháp sư người Thái Lan chuyên sử dụng xương người bị sét đánh để luyện bùa. Bởi những người bị sét đánh đều bị chết bất đắc kỳ tử.


 Pháp sư nào có một bộ xương bị sét đánh thì chẳng khác gì sở hữu một kho báu 

Họ chết oan ức nên linh hồn của họ không siêu thoát được mà cứ luẩn quẩn ở nhân gian. Các pháp sư cao tay là những người giỏi dùng thuật để sai khiến các oan hồn, bắt oan hồn làm nô lệ, tay sai cho họ.

Oan hồn bị sét đánh cứ quẩn quanh ở bộ xương, nên các pháp sư dùng bộ xương bị sét đánh đó để giam hãm các oan hồn và sai khiến oan hồn làm việc cho họ.

Từ những việc đơn giản như chữa bệnh, truyền năng lượng cho người yếu, đến bắt ma cho các bệnh nhân tâm thần, thậm chí là làm cho người khác phát điên hoặc chết bất đắc kỳ tử.

Thế nên, pháp sư nào có một bộ xương bị sét đánh thì chẳng khác gì sở hữu một kho báu, hay một lưỡi tầm sét, không chỉ nâng cao vị thế, uy tín trong giới pháp sư mà còn có thể kiếm tiền như nước.

Vì lẽ đó, giới pháp sư không tiếc tiền để sưu tập cho được những bộ xương bị sét đánh. Càng sở hữu được nhiều bộ xương, sai khiến được nhiều oan hồn thì năng lực của họ càng mạnh.

Chính vì thế, từ xa xưa, hễ có người bị sét đánh là người thân đào sâu chôn chặt, rồi đổ bê tông phủ kín quan tài để bọn trộm không đào phá được.


 Hễ có người bị sét đánh là người thân đổ bê tông phủ kín quan tài để bọn trộm không đào phá được

Nhiều gia đình còn cẩn thận kéo điện ra mộ trông ngày, trông đêm. Thậm chí, họ chôn luôn người thân trong vườn nhà để tiện bề trông nom. Người ta tin rằng, người nào bị sét đánh không phải là người bình thường.

Người đó có thể bị ma nhập nên khi gặp sấm sét đã bị đánh. Khi chết đi, luồng điện đó vẫn còn trong người, họ có điều gì đó rất linh thiêng. Đó là điều bọn trộm muốn lấy.

Nhưng khi qua 100 ngày, nguồn điện năng do sét đánh sẽ bị trung hòa dưới lòng đất, năng lượng không còn tích tụ trong xương nữa nên bộ xương vô giá trị.

Vì thế, chỉ cần trông nom qua thời gian này, gia đình có thể yên tâm, không bị bất cứ kẻ xấu nào đến quấy phá mồ mả nữa.

Thế nhưng, chẳng ai có thể ngờ, cô y tá chết thảm tên L. ấy đã chôn 4 năm ở nghĩa địa Noong Bua rồi mà vẫn bị đám người cuồng tín, mê muội đào mồ cuốc mả để trộm cốt.

Nỗi sợ hãi của bà vợ người phu phá mộ 

Nghĩa địa Noong Bua, nơi từng chôn cất thi thể của cô y tá xấu số Vũ Thị L. nằm bên rìa thành phố Điện Biên, trên một quả đồi rậm rịt cây cỏ, bao quanh bởi những bụi bương thân vạm vỡ, cao ngút ngàn.


 Vị trí từng có mộ cô gái Vũ Thị L. 

Ông Đoàn Văn D., ở phường Noong Bua, cách nghĩa địa chừng 500 mét thôi là một trong bốn người đào phá mộ cô L.

Ông D. đi vắng, bà vợ ông D. kể cho chúng tôi nghe về những hiện tượng lạ lùng xảy ra trong gia đình bà suốt 30 năm qua. Bà kể chậm rãi, rành rọt nhưng ánh mắt vẫn ánh lên vẻ sợ hãi.

“Hồi ông nhà tôi đào mộ cô L., tôi hoàn toàn không biết gì vì ông ấy giấu. Thế nhưng, chỉ sau đó ít hôm, những sự lạ liên tiếp xảy đến với tôi.

Tôi vẫn nhớ như in, lần đầu tiên, sau hôm ông nhà tôi tham gia quật mộ vài ngày, khi tôi đang nằm trên võng ngủ ở gốc cây hồng xiêm.

Vừa thiêm thiếp ngủ thì tôi thấy một thiếu nữ trần truồng, da cháy đen, chân và tay gác vào cành cây, người như cái võng đưa đẩy thõng thẹo trước mặt.


 Vừa thiêm thiếp ngủ thì bà L. thấy một thiếu nữ trần truồng, da cháy đen 

Tôi cố kêu lên nhưng không sao kêu được, cố vùng dậy thoát khỏi chiếc võng mà chân tay không sao cựa nổi. Phải một lúc sau, tôi mới hét lên được, rồi lăn bịch xuống đất. Lồm cồm ngồi dậy thì thiếu nữ ấy biến mất.

Hoảng hồn quá, tôi chạy vào nhà, kể cho nhà tôi nghe. Nghe xong, mặt ông ấy tái xám, mồ hôi toát ra như tắm. Nghi ngờ ông ấy làm chuyện gì khuất tất, tôi cố truy vấn.

Mãi sau, ông ấy mới kể lại chuyện có người thuê ông ấy đào mộ cô L. bị sét đánh chết lấy trộm cốt. Tôi nghe xong mà rụng rời tay chân. Hãi hùng quá.

Ngay buổi tối hôm đó, tôi đã mời thầy về nhà làm lễ cúng linh đình. Chưa yên tâm, tôi mời thầy ra tận khu đất có mộ cô gái xấu số để cúng bái, làm lễ siêu thoát cho cô ấy, cầu xin cô ấy tha tội.

Vậy mà oan hồn của cô gái xấu số đó cứ ám lấy cuộc sống của tôi cho mãi đến bây giờ”.

Nhấp một ngụm trà, bà D. kể tiếp, giọng run run: “Nằm mơ thấy thiếu nữ lạ mặt đến nhà tuần trước thì tuần sau, tôi phát hiện có con rắn to bằng cổ tay, đen sì ở trong nhà.


 Sau khi mơ thấy cô gái, bà L. phát hiện có con rắn to bằng cổ tay, đen sì ở trong nhà 

Tôi sợ quá nhưng không dám đánh. Bởi kể từ hôm làm lễ sám hồi, cầu siêu cho cô L., bất kỳ con vật nào lạc vào nhà, từ con ong, con bướm, con chim, tôi đều nghĩ đó là oan hồn cô L. tìm đến, nên tôi đều không dám giết hại.

Nhưng chim chóc trong nhà còn được, chứ con rắn to bằng cổ tay ở trong nhà thì nguy hiểm quá, nhỡ nó đớp cho cái thì toi mạng.

Nghĩ thế, tôi thắp hương, lầm rầm khấn vái: “Xin cô L. tha mạng, không biến thành rắn để hành gia đình nữa”. Khấn xong, tôi lấy cây gậy đuổi rắn. Thế nhưng, con rắn cứ ngỏng đầu nhìn tôi chằm chặp, không chịu đi. Hai mắt nó vằn đỏ.

Tôi đặt cây gậy cạnh nó, tức thì con rắn bò lên cây gậy, rồi quấn chặt. Tôi đem cây gậy ấy ra nghĩa địa Noong Bua, cách nhà đến 500 mét rồi thả cả gậy lẫn rắn ở đó.

Ấy thế nhưng, khi vừa về đến nhà, tôi đã lại thấy con rắn ở trong nhà. Lần này, tôi tin chắc 100% đó là cô L., lại thấy con rắn cũng hiền lành nên không xua đuổi nữa.

Tôi đặt cây gậy cho con rắn bám vào rồi chọc gậy lên cửa sổ. Con rắn bò lên chấn song, rồi quấn thân yên vị ở đấy suốt mấy ngày.

Ngày nào, tôi cũng ra quan sát rắn, rồi nói chuyện với nó, như thể nói chuyện với cô L. Suốt mấy ngày, tôi cúng khấn chu đáo. Vài hôm thì con rắn biến mất, không thấy quay lại nữa”.

Vào một hôm cả Tây Bắc mưa to gió lớn, nhiều nơi ngập lụt. Bà D. dậy sớm nấu nướng thì thấy con rùa lạ, to bằng miệng bát con nằm ở thềm nhà, chính giữa cửa ra vào.


 Vào một hôm cả Tây Bắc mưa to gió lớn, bà D. dậy sớm thì thấy con rùa lạ 

Nếu con rùa lạc vào nhà khác, ngay tức khắc sẽ biến thành món rùa rang muối, nhưng vào nhà bà, thì bà nhất nhất tin đó là cô L.

Bà cúng khấn, nói chuyện với cô L. một hồi, rồi đem “cô” thả ở một cái đìa cách nhà mấy trăm mét. Điều kinh dị xảy ra là bà thả buổi sáng thì buổi chiều, lại thấy đúng con rùa đó nằm trước hiên nhà.

Tin đó là cô L. hóa thành nên bà không xua đuổi con rùa nữa, mặc kệ nó ở trong nhà. Đến bữa, bà đi ngắt rau cỏ, bắt dế, cá, tôm cho rùa ăn. Hàng ngày, bà cúng khấn cầu siêu cho oan hồn cô L. Vài ngày sau, thì con rùa biến đâu mất.

Sau khi kể hàng loạt chuyện ma mị kỳ lạ liên quan đến gia đình mình, bà D. thở dài bảo: “Suy cho cùng, ông nhà tôi cũng chỉ là phận làm thuê, chuyên nghề bốc mộ, chứ có định trộm xương cốt ai đâu, mà phải gánh chịu điều tiếng ghê thế chứ?

Người ta đồn ông nhà tôi được nhiều vàng bạc, đô la lắm, nên mới đi trộm mộ. Khổ. Nói thế là oan cho nhà tôi quá”.

Một lát sau, bà liền điện thoại gọi ông D. về. Ông D. bảo: “Đời tôi đã phạm sai lầm lớn là tham gia quật mồ trộm mả của cô gái trẻ đáng thương, nên bị báo oán nhiều lắm.

Tôi cũng chỉ là nạn nhân trong vụ đó mà thôi, chứ nếu tôi là chủ trò, thì giờ làm gì mà còn sống ngồi đây kể chuyện cho anh nữa. Tất cả những người tham gia đào mộ, đều đã bị nhân quả báo ứng, đã chết hết rồi.

Ai không chết, thì gia cảnh cũng thảm lắm. Tôi bị nhẹ nhất là cháy hết nhà cửa, nhưng mạng sống vẫn còn, và ơn giời, là con cái không bị ảnh hưởng gì”.

Câu chuyện của nhóm trộm mộ cô gái xấu số bị sét đánh, trong đêm tối giữa nghĩa địa hoang vắng không một bóng người, được ông Đoàn Văn D. kể lại, dù đã xảy ra gần 30 năm nhưng vẫn khiến người nghe rùng mình sợ hãi.

Cuộc đào trộm mộ rùng rợn, ám ảnh

Ông D. vốn là một quân nhân. Sau khi rời quân ngũ trở về địa phương, ông làm công nhân tại Nông trường Điện Biên, rồi lập gia đình. Nhà ông nằm gần Bệnh viện Nhân dân.

Thỉnh thoảng, bệnh viện lại tiếp nhận những người chết do tai nạn rùng rợn mà không có người nhận.

Biết ông là người bạo gan nên cán bộ bệnh viện thường thuê ông chôn cất những tử thi xấu số ấy trên một quả đồi ngay phía sau bệnh viện. Ông D. coi đó là việc làm thêm kiếm chút tiền nuôi con.

Một thời gian sau, thấy địa thế quả đồi đẹp, rộng rãi, người dân quanh vùng cũng đào mộ chôn người thân ở đó nên quả đồi biến thành nghĩa địa lớn gọi là nghĩa địa Hòa Bình hoặc nghĩa địa Noong Bua.

Từ đó, ông D. chuyển hẳn sang hành nghề bốc mộ, sang cát. Công việc tuy vất vả, độc hại nhưng được cái có đồng ra đồng vào. Vào dịp Đông chí, ông làm không hết việc. Có đêm, mình ông bốc 2-3 mộ. Tiền kiếm được nên ông làm rất hăng say.

Cho đến một ngày cuối thu năm 1987. Ông D. sang nhà hàng xóm tên Chu Minh C. chơi. Hai người đang ngồi uống nước chè, chơi cờ tướng thì ông Trần Văn Đ. và Nguyễn Văn T. ở xã bên kéo đến.

Ông Đ. nhìn trước nhìn sau xem có ai không rồi ghé tai ông D., ông C. thì thầm: “Tôi có vụ làm ăn này hay lắm. Hai ông có muốn tham gia không? Chỉ mất nửa buổi thôi. Tiền công 500.000 đồng”.

Vừa nghe nói đến số tiền 500.000 đồng, cả hai ông D. và C. đều mắt sáng lên, vội vàng buông cả bàn cờ, hỏi dồn ông Đ. giọng háo hức: “Vụ gì thế? Ông nói ngay đi”.

Thời điểm đó, nhà ông D. rất nghèo. Hai ông bà làm việc quần quật mà cái ăn, cái mặc chẳng đủ, đàn con nheo nhóc, quanh năm đói rách. 500.000 đồng lúc ấy lớn lắm, giá trị bằng mấy tấn thóc.

Ông Đ. giơ tay lên miệng khẽ “suỵt” ra hiệu mọi người nói nhỏ rồi ông nhòm trước, ngó sau một hồi như rình bắt gián điệp. Biết chắc không có ai nghe trộm, ông mới thầm thào kể.

Cạnh chợ trung tâm Điện Biên có quán phở nhỏ. Chủ quán phở là S., vốn xuất thân làm nghề đồ tể, chuyên giết lợn cho vợ bán thịt ở chợ. Vài năm sau, kiếm một khoản kha khá, hắn mở quán phở này.

Quán tuy nhỏ nhưng khá đông khách. Vào những lúc nông nhàn, ông Đ. và ông T. vẫn đến giã giò thuê cho S. Cách đây ít hôm, trong lúc ngồi nghỉ giải lao, S. bỗng dưng lôi chuyện xương người bị sét đánh ra kể.

Hắn kể thao thao đủ thứ chuyện rùng rợn về công dụng thần bí, kỳ lạ của những bộ xương người bị sét đánh, nào là làm bùa rất hiệu nghiệm, nào là lấy may trong việc làm ăn…

Huyên thuyên chán chê một hồi, hắn ghé tai hai ông T. và Đ. bảo: “Tôi đang cần một bộ xương như thế. Hai ông thử đi tìm kiếm xem ở Lai Châu có ai bị sét đánh chết trong thời gian gần đây không. Kiếm được, tôi sẽ trả thật hậu hĩnh”.

Nghe S. nói vậy, máu tham nổi lên, ông T. và ông Đ. liền suốt ngày lần mò đi khắp hang cùng ngõ hẻm dò hỏi.

Một lần, ngồi ở quán nước chè chén vỉa hè, nghe mấy cụ cao niên ở Điện Biên kể rằng, mấy năm trước, có nghe bà Thanh Mai, là y tá ở một bệnh xá, nói có một cô gái bị sét đánh cháy đen thui.

Mộ chôn ở nghĩa địa Noong Bua, sau Bệnh viện Nhân dân. Tìm hiểu kỹ, họ nắm được thêm thông tin về tiểu sử, quê quán, gia cảnh của cô gái này. Thế là họ vội tìm đến nhà ông D. để rủ rê đào phá mộ, lấy xương cốt cô gái.

Thấy việc đi đào trộm mộ tuy thất đức nhưng lại được nhiều tiền, thiển cận nghĩ rằng, đào mộ, bốc xương là việc làm hàng ngày nên mấy người đàn ông hám tiền đã lao đi đào trộm mộ cô gái bị sét đánh

Tưởng rằng rủ rê buôn ma túy hay giết người diệt khẩu thì còn phải đắn đo suy nghĩ chứ đào mộ, bốc xương là việc làm hàng ngày, mà được những 500 ngàn đồng, bằng vài tấn thóc thì khác chi trúng số độc đắc nên vừa nghe ông T. và Đ. kể xong, ông D. và C. đã gật đầu tắp lự.

Kế hoạch xâm nhập nghĩa địa, đào mộ, lấy trộm hài cốt được cả nhóm nhanh chóng lên một cách chi tiết, tỉ mỉ, chính xác đến từng giờ, từng phút.

Và rồi, ngay buổi tối hôm ấy, thực hiện đúng kế hoạch, đúng 9 giờ 30 phút tối, nhóm 4 người đã có mặt tại nghĩa địa Hòa Bình.

Sau khi bàn bạc, nhóm cắt cử ông T. làm cảnh giới từ chân đồi. Nếu có người vào nghĩa địa, ông T. sẽ giả kêu tiếng “tắc kè” . Mọi người lập tức sẽ tắt đèn dầu, ẩn nấp.

Biết có thêm 2 người tham gia đào mộ nên tên S. đã ứng trước 20.000 đồng cùng 1kg thịt ba chỉ. Bốn người đã chia nhau mỗi người 5.000 đồng.

Miếng thịt thì cắt làm 4. Miếng to nhất dành cho ông C. vì nhà ông nghèo hơn, lại đông con, cả năm nay chúng chẳng biết đến miếng thịt. Số tiền 5.000 chia nhau, ông D. trích một phần mua hoa quả, nén hương, đem theo để làm lễ đàng hoàng.

Ông D. bày hoa quả lên nấm mộ cô Vũ Thị L. rồi thắp hương, lầm rầm khấn vái: “Cô L. ơi! Bọn anh nhà nghèo, đông con đông cái nên mới làm cái nghề đào mồ cuốc mả này.

Thằng S. nó thuê bọn anh thì anh cứ biết đưa em lên, tắm rửa cho em. Còn nó mang em đi đâu, làm gì thì anh không biết, kệ nó thôi. Có gì, em thông cảm cho anh.

Cũng vì nghèo đói mà làm liều em ạ. Em có vật thì cứ tìm thằng S., chủ quán phở ở chợ Điện Biên mà vật nó, vì nó mới là chủ mưu”.

Mộ cô Vũ Thị L. nằm trên quả đồi đá sỏi gan trâu, lại chôn sâu đến vài mét nên 3 người phải đào cật lực suốt 3 giờ đồng hồ, đến 12 giờ đêm mới thấy quan tài.

Mệt bở hơi tai nhưng họ không dám nghỉ. Người soi đèn, người hì hục mãi mới bật được nắp quan tài. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc khiến ông D. phải nhảy vọt lên khỏi hố, nôn thốc nôn tháo. Nhưng thời gian không cho phép họ đợi chờ.

Ông C. cởi trần, nín thở, nhảy xuống quan tài. Nước trong quan tài ngập đến tận đầu gối. Ông khẽ rùng mình ớn lạnh. Ông hít một hơi thật sâu rồi sục tay xuống mò xương.

Từng mảnh, từng khúc được nhét vào chiếc túi vải ông Đ. đã chuẩn bị từ trước. Cầm chiếc đèn dầu soi gần, mọi người thấy rõ những mẩu xương của cô L. đều đen sì.

Dòng điện cực mạnh của sét đã đốt cháy cả xương của cô, khiến xương chuyển thành màu đen, không giống xương cốt của người chết bình thường.

Vớt hết xương thì trời cũng tang tảng sáng. Ông D. và ông C. giao chiếc túi vải cho ông Đ. rồi vội vã đạp xe về nhà tắm rửa. Ông Đ., sau một đêm canh chừng không ngủ, lạ kỳ thay, mặt vẫn tươi hơn hớn.

Ông chằng bao tải xương vào gác ba ga xe đạp, mang về nhà, rửa ráy xương cốt lần nữa rồi nhét xuống gầm giường. Chờ đến tối mịt, ông mang đến quán phở, cũng là nơi ở của vợ chồng S., bàn giao tận tay.

Trái với hình dung của ông, S. lạnh lùng nhận cái túi vải đầy xương, nét mặt không một chút xao động. Hắn chẳng thèm mở ra xem mà xách thẳng bao tải, vứt cạnh giếng nước, rồi bảo ông Đ. “về đi”.

Lão S. vin vào cớ bộ xương của cô L. bị sét đánh mà ông S. và mấy người khác phải vất vả đào trộm lên thiếu xương bánh chè nên vùng vằng không thanh toán

Ông Đ. ngại ngùng hỏi: “Thế tiền công cán thế nào? Bao giờ thì anh thanh toán?”. S. vẫn lạnh lùng bảo: “Để tôi kiểm tra, xem xét đã. Nếu đúng là xương người chết vì sét đánh, tôi sẽ thanh toán đầy đủ. Ông cứ yên tâm”.

Thế nhưng, chờ dài cổ suốt 3 ngày mà không thấy S. đả động gì đến chuyện trả tiền công trộm mồ mả nên cả nhóm 4 người cùng đạp xe đến quán phở để đòi.

Vừa nhò mặt vào, S. đã mắng các ông xơi xơi, mặt hằm hằm tức tối: “Các ông làm ăn thế nào mà để thiếu mất cái xương bánh chè. Không có cái xương quan trọng nhất này, bộ xương coi như vứt đi. Tôi không thể thanh toán tiền cho các ông được”.


 Lão S. vin vào cớ bộ xương của cô L. bị sét đánh thiếu xương bánh chè nên vùng vằng không thanh toán 

Nghe vậy, cả 4 ông đều ớ người, mặt nghệt ra. Một lúc sau, ông D. mới lắp bắp hỏi: “Thế anh đã xem kỹ chưa?”.

Tay S. xẵng giọng: “Tôi tìm bới đến toét cả mắt ra đây này mà đâu có thấy. Mà tiện đây tôi cũng hỏi các ông, lúc đem xương lên, các ông có kiểm tra lại không? Ai là người trông nom, bảo quản bộ xương?”.

Sau này, mọi người mới hiểu, tay S. ma quái đặt ra câu hỏi đó nhằm gây mâu thuẫn trong nhóm, rằng ai đó đã trộm mất xương bánh chè, nên bộ xương không còn giá trị nữa. Kiểu như bộ xương hổ mà thiếu xương bánh chè thì coi như đổ đi.

Song lúc đó, mọi người chưa hiểu ý đồ thâm độc, nham hiểm của hắn nên ngay đêm hôm đó, cả nhóm lại mò ra nghĩa địa rồi thay nhau nhảy xuống mò mẫm trong quan tài lõng bõng nước tìm xương bánh chè.

Bì bõm tìm kiếm mãi cũng không lấy thêm được đốt xương nào, chỉ vớt được chiếc gương và cái lược.

Mọi người bực lắm. Biết là tay S. bày đặt ra trò thiếu xương bánh chè để quỵt tiền công nhưng họ không thể nghĩ ra cách nào đòi tiền hắn. Bởi S. là tên đồ tể nhưng cũng là tay giang hồ có số má nên không ai dám động đến hắn.

Vả lại, việc đào mồ phá mả, lấy trộm xương xưa nay là việc làm tày trời, luật pháp nghiêm cấm nên nhóm ông D. đành ngậm bồ hòn làm ngọt không dám kêu một tiếng, cũng chẳng dám hé lộ với ai. Bởi lộ ra thì đi tù cả lũ.

Kẻ vào tù chung thân, người chết bất đắc kỳ tử 

Bẵng đi một thời gian, quay cuồng trong vòng lo toan của miếng cơm, manh áo, nỗi ấm ức vì bị tên S. lừa đảo, quỵt tiền rồi cũng nguôi ngoai trong lòng ông D.

Ông Đ., ông C., ông T. cũng chẳng quan tâm đến chuyện đòi nợ nữa. Nhưng có một sự việc kỳ lạ xảy ra khiến không chỉ 4 người đào mồ cuốc mả mà cả thành phố Điện Biên đều ngạc nhiên, sửng sốt.

Đó là, sau vụ đào trộm xương cô Vũ Thị L. bị sét đánh, S. bỗng nhiên phất lên như diều gặp gió.

Ngày đó, Điện Biên còn là tỉnh lỵ nghèo, nhà nào giàu lắm mới có nổi chiếc xe đạp Phượng Hoàng, chứ xe máy thì ngóng ra đường đỏ mắt cả ngày mới thấy 1-2 chiếc.

Thế nhưng, gã chủ quán phở S. liền một lúc mua tới 2 cái xe máy Simson. Hắn suốt ngày đèo vợ con diễu phố trước sự ngỡ ngàng, ghen tỵ, thèm khát của bà con khối phố.

Không ai hiểu vì sao một gã bán phở mà lại có nhiều tiền như thế. Ngay cả nhóm đào mộ cũng không ai biết rõ.

Người thì đồn thổi rằng, hắn đã mang bộ xương cô L. sang Lào bán được một khoản tiền lớn. Người thì bảo hắn dùng bộ xương làm bùa phép nên mới ăn nên làm ra, mới phất nhanh như vậy.

Cũng có tin đồn rằng, nhờ có xương bàn tay người bị sét đánh nên hắn mang thuốc phiện ở Lào về Việt Nam ung dung như chốn không người. Cứ đêm xuống, hắn chỉ việc để xương bàn tay, xem quay hướng nào thì cứ hướng đó mà đi. Dù gùi cả tải thuốc phiện cũng chẳng có ai bắt.

Bí hiểm, kinh ngạc, sửng sốt hơn nữa khi bỗng một ngày đầu năm 1990, S., gã đồ tể, chủ quán phở ở chợ Điện Biên bỗng dưng trở thành giám đốc doanh nghiệp xây dựng.

Vứt bỏ xe máy Simson, hắn cưỡi ô tô. Công việc làm ăn, kinh doanh của S. lại càng phất tợn. Báo chí, truyền hình suốt ngày săn lùng hắn để phỏng vấn, tung hô hắn như một ông chủ doanh nghiệp tài ba, dám nghĩ, dám làm.

Nghe vậy, cả 4 ông đều ớ người, mặt nghệt ra. Một lúc sau, ông D. mới lắp bắp hỏi: “Thế anh đã xem kỹ chưa?”.

Tay S. xẵng giọng: “Tôi tìm bới đến toét cả mắt ra đây này mà đâu có thấy. Mà tiện đây tôi cũng hỏi các ông, lúc đem xương lên, các ông có kiểm tra lại không? Ai là người trông nom, bảo quản bộ xương?”.

Sau này, mọi người mới hiểu, tay S. ma quái đặt ra câu hỏi đó nhằm gây mâu thuẫn trong nhóm, rằng ai đó đã trộm mất xương bánh chè, nên bộ xương không còn giá trị nữa. Kiểu như bộ xương hổ mà thiếu xương bánh chè thì coi như đổ đi.

Song lúc đó, mọi người chưa hiểu ý đồ thâm độc, nham hiểm của hắn nên ngay đêm hôm đó, cả nhóm lại mò ra nghĩa địa rồi thay nhau nhảy xuống mò mẫm trong quan tài lõng bõng nước tìm xương bánh chè.

Bì bõm tìm kiếm mãi cũng không lấy thêm được đốt xương nào, chỉ vớt được chiếc gương và cái lược.

Mọi người bực lắm. Biết là tay S. bày đặt ra trò thiếu xương bánh chè để quỵt tiền công nhưng họ không thể nghĩ ra cách nào đòi tiền hắn. Bởi S. là tên đồ tể nhưng cũng là tay giang hồ có số má nên không ai dám động đến hắn.

Vả lại, việc đào mồ phá mả, lấy trộm xương xưa nay là việc làm tày trời, luật pháp nghiêm cấm nên nhóm ông D. đành ngậm bồ hòn làm ngọt không dám kêu một tiếng, cũng chẳng dám hé lộ với ai. Bởi lộ ra thì đi tù cả lũ.

Kẻ vào tù chung thân, người chết bất đắc kỳ tử

Bẵng đi một thời gian, quay cuồng trong vòng lo toan của miếng cơm, manh áo, nỗi ấm ức vì bị tên S. lừa đảo, quỵt tiền rồi cũng nguôi ngoai trong lòng ông D.

Ông Đ., ông C., ông T. cũng chẳng quan tâm đến chuyện đòi nợ nữa. Nhưng có một sự việc kỳ lạ xảy ra khiến không chỉ 4 người đào mồ cuốc mả mà cả thành phố Điện Biên đều ngạc nhiên, sửng sốt.

Đó là, sau vụ đào trộm xương cô Vũ Thị L. bị sét đánh, S. bỗng nhiên phất lên như diều gặp gió.

Ngày đó, Điện Biên còn là tỉnh lỵ nghèo, nhà nào giàu lắm mới có nổi chiếc xe đạp Phượng Hoàng, chứ xe máy thì ngóng ra đường đỏ mắt cả ngày mới thấy 1-2 chiếc.

Thế nhưng, gã chủ quán phở S. liền một lúc mua tới 2 cái xe máy Simson. Hắn suốt ngày đèo vợ con diễu phố trước sự ngỡ ngàng, ghen tỵ, thèm khát của bà con khối phố.

Không ai hiểu vì sao một gã bán phở mà lại có nhiều tiền như thế. Ngay cả nhóm đào mộ cũng không ai biết rõ.

Người thì đồn thổi rằng, hắn đã mang bộ xương cô L. sang Lào bán được một khoản tiền lớn. Người thì bảo hắn dùng bộ xương làm bùa phép nên mới ăn nên làm ra, mới phất nhanh như vậy.

Cũng có tin đồn rằng, nhờ có xương bàn tay người bị sét đánh nên hắn mang thuốc phiện ở Lào về Việt Nam ung dung như chốn không người. Cứ đêm xuống, hắn chỉ việc để xương bàn tay, xem quay hướng nào thì cứ hướng đó mà đi. Dù gùi cả tải thuốc phiện cũng chẳng có ai bắt.

Bí hiểm, kinh ngạc, sửng sốt hơn nữa khi bỗng một ngày đầu năm 1990, S., gã đồ tể, chủ quán phở ở chợ Điện Biên bỗng dưng trở thành giám đốc doanh nghiệp xây dựng.

Vứt bỏ xe máy Simson, hắn cưỡi ô tô. Công việc làm ăn, kinh doanh của S. lại càng phất tợn. Báo chí, truyền hình suốt ngày săn lùng hắn để phỏng vấn, tung hô hắn như một ông chủ doanh nghiệp tài ba, dám nghĩ, dám làm.

Theo ông D., người bị quả báo đầu tiên không phải là S. mà chính là ông C. trong nhóm đào mồ cuốc mả.

Thời điểm đó, không hiểu do quả báo hay vì ấm ức, tức bực do không đòi được tiền từ S. mà ông C. cứ nổi điên lên, đòi đem bộc phá cho nổ tung nhà và quán phở của S.

Khi đó, nhà ông C. nghèo quá. Miếng ăn chẳng có mà vợ đang bụng mang dạ chửa, sắp đẻ đứa con thứ 6. Đàn con nheo nhóc không có gì ăn. Tất cả trông chờ cả vào món tiền công lớn trong vụ đào mộ.

Ông uất ức cũng phải. Cuộc sống ông C. cứ khó khăn, chật vật mãi. Năm 49 tuổi, ông chết vì ung thư vòm họng, để lại người vợ và đàn con nheo nhóc. Thời gian sau, bà vợ ông C. cũng bị điện giật chết thảm.

Hôm đào mộ xong, cả nhóm kéo đến quán phở của S. để đòi tiền công mà không được, nghi ngờ ông Đ. đã nhận tiền S. trả mà không chia cho mọi người, định ăn tất nên ông D. đã kéo ông T. đến nhà ông Đ. hỏi cho ra nhẽ.

Thế nhưng qua nhà thì thấy ông Đ. ốm bẹp giường, không gượng dậy được. Ông Đ. bảo, sau hôm đào mộ, đêm nào cũng gặp ác mộng, không ngủ được.

Cứ nhắm mắt, ông lại thấy cô L. đứng ở đầu giường khóc lóc oán thán. Đáng sợ nhất là đêm nhận bao tải chứa hài cốt ở bãi tha ma do ông D. và ông C. chuyển ra.

Dù đã buộc rất kỹ nhưng không hiểu sao vừa ra khỏi nghĩa địa, hộp sọ của cô L. rơi ra ngoài, lăn lông lốc xuống ruộng. Tuy rất sợ đến toát mồ hôi hột nhưng ông Đ. vẫn nhảy xuống nhặt hộp sọ.

Mò mẫm thế nào lại bị con rắn cắn vào tay. Ông cứ lo suốt không biết có phải rắn độc cắn hay không? Sau này, ông Đ. bị tai biến, nằm liệt giường liệt chiếu. Ông T. cũng đoản mệnh, chết đột tử năm 46 tuổi.

Về phần ông D. cuộc đời cũng khốn đốn, liêu xiêu không kém. Vào năm 1989, hai năm sau khi đào trộm mộ, một hôm, lúc 12 giờ đêm, đúng giờ ông đụng cuốc đào mộ, ngôi nhà ông ở bỗng dưng bốc cháy đùng đùng.

May cả nhà chạy thoát kịp nên không ai chết nhưng mọi thứ cháy thành tro. Đến nay, ông vẫn không hiểu vì sao nhà mình lại cháy? Bởi lúc đó nửa đêm, gia đình đâu có nấu nướng gì mà đốt lửa?

Vợ chồng ông ăn ở hiền lành, đâu có gây thù chuốc oán với ai bao giờ mà có kẻ xấu muốn hãm hại? Quá kinh hãi, vợ chồng ông bán mảnh đất ấy, xây nhà ra chỗ khác.

Bao năm qua, vào ngày rằm mùng một hay lễ Tết, khi thắp hương gia tiên, vợ chồng ông D. đều khấn vái cô L. cầu mong cô đại xá tha cho tội đào mồ cuốc mả.

Ông bảo: “Chúng tôi cầu xin dễ đến cả ngàn lần rồi. Chẳng biết linh hồn cô L. linh thiêng có từ bi, hỉ xả mà xá tội cho chúng tôi hay không nữa?”.

Theo Tâm sự gia đình

Từ bao đời nay, hàng chục vạn người từng đến thăm ngôi đền Cao (thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) đều tò mò vì không ai biết phía sau cánh cửa hậu cung này là bí mật gì mà người nào phạm “lời nguyền” cứ bước chân qua là mất mạng và reo rắc đen đủi cho người thân.
 

Cánh cửa ấy tưởng chừng cũng đơn giản như bao cánh cửa khác trong vô vàn những ngôi đình đền trên khắp Việt Nam, cũng mang đặc trưng sơn màu cánh gián và đường nét sơn son thiếp vàng, ngả màu cũ kỹ và bốn góc cánh cửa tróc lở theo thời gian. Vậy nhưng từ bao đời nay, hàng chục vạn người từng đến thăm ngôi đền Cao (thôn Đại, xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) đều tò mò vì không ai biết phía sau cánh cửa hậu cung này là bí mật gì mà người nào phạm “lời nguyền” cứ bước chân qua là mất mạng, nhận những reo rắc đen đủi cho người thân.


Cổng đền Cao

“Tàn đời” vì trái “luật đền”? 

Cụ ông Dương Văn Luyện (74, cùng ngụ địa chỉ nêu trên) cho biết theo phong tục địa phương quy định từ ngàn năm nay, mỗi năm đến ngày lễ hội thì làng phải bầu ra một "quan trùm" và bốn "quan đám". Bốn "quan đám" phụ trách việc lễ tế ở bốn ngôi đền trong quần thể đền Cao, còn "quan trùm" thì phụ trách chung mọi việc. Từng hàng chục năm liên tục được làng bầu làm những “chức sắc” này và năm nay được “phong” làm “quan trùm” nên không ngõ ngách nào trong ngôi đền này ông không biết, nhưng riêng những “bí mật” sau cánh cửa hậu cung thì “có chết cũng không nói”.

Đền Cao được bao bọc bởi rừng cây xanh mướt, càng thêm uy nghiêm bởi sự hiện diện của 54 cây lim cổ thụ hàng trăm năm tuổi, trong đó "cụ" lim thọ nhất thì đã hơn 800 tuổi, cao tới 20m. Mới đây, những cây lim này đã được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam" công nhận là "Cây di sản Việt Nam". Nếu biết rằng trước đó, cả nước mới chỉ có 10 cây cổ thụ nhận được danh hiệu này thì việc tới 54 cây hội tụ cả ở đền Cao đã là một sự lạ kỳ.

Việc thờ cúng ở đền Cao cũng là một sự lạ vì đền không thờ tượng như một số nơi khác mà thờ bài vị của "thánh". Vào lễ hội, bài vị được mặc áo trông như người ngồi trên ngai, qua bao năm mà bài vị vẫn mới tinh, dọc theo bài vị là hai hàng chữ Hán vàng óng chưa hề trầy xước. 


Phong tục quy định điều cấm kỵ đầu tiên mà các "quan trùm, quan đám" phải tuân thủ là họ có trách nhiệm mỗi tháng phải hai lần vào hậu cung để dọn dẹp và biết được một phần cảnh trí trong đó. Thế nhưng trong suốt thời gian còn giữ “chức”, họ phải tuân theo “luật” "có biết cũng không nói, tò mò không biết thì cũng không hỏi" và sau này dù có còn giữ “chức” hay không thì những gì đã được nhìn thấy trong hậu cung thì cũng “sống để bụng, chết mang đi”. Vì thế mà cho đến giờ, trong hậu cung của đền Cao có những bí mật gì vẫn là một điều bí ẩn. Phong tục oái oăm này còn ràng buộc những vị chức sắc những quy định cực kỳ ngặt nghèo khác. Trong những ngày lễ hội, dù có giỗ chạp thì các "chức sắc" cũng không được thắp hương lên ban thờ gia tiên, thậm chí không được… ăn các món trên ban thờ nhà mình. Cũng thời gian này họ đều phải ăn chay, tắm rửa sạch sẽ; khi làm lễ phải mặc đội khăn, che miệng; đặc biệt “thuộc nằm lòng” quy tắc khi vào hậu cung thì bước chân phải trước, ra khỏi cung bước chân trái trước.

Lệ làng thì cứ thế mà tuân theo, trong tâm tưởng của những người dân trong vùng dù vẫn có lúc tò mò nhưng sự tò mò ấy rồi cũng bị quên đi khi các cụ cao niên cho biết “Phần hậu cung có thể hiểu như nơi nghỉ ngơi của "thánh". Mọi người quan tâm làm gì”. Những người dân đến vãn cảnh, cũng bái có lỡ lạc chân qua khu vực có cánh cửa luôn được khóa cẩn thận này cũng chẳng ai dám ghé mắt vào vì “sợ” “lời nguyền” người xưa truyền lại là ““không phận sự tuyệt đối không được bước chân vào” nếu không muốn gặp những tai họa khủng khiếp”. Chuyện về cánh cửa bí ẩn chỉ rộ lên khi khoảng 20 năm trước, một du khách đã “trả giá” bằng chính mạng sống của mình khi nằng nặc đòi vào tận nơi để chụp hình.

Cụ Luyện kể lại năm ấy ông cũng là "quan đám" của đền và sự việc xảy ra ngay dịp kỷ niệm đền được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Hôm ấy sau buổi lễ, một nam du khách trung tuổi vốn là một người quen biết đến từ tỉnh Hải Dương cứ nằng nặc đòi “quan đám” phải mở cửa hậu cung cho mình vào chụp ảnh.

Dù ông Luyện can ngăn thế nào, vị khách này cũng không nghe rồi khẳng định: "Tội vạ đâu tôi chịu. Chết tôi cũng chịu". Ông Luyện đành phải mở cửa hậu cung cho khách vào, còn mình quỳ khấn ở ngoài. Trong hậu cung, ánh đèn flash lóe liên tiếp vài cái, sau một hồi “vãn cảnh” và chụp ảnh xong, vị khách đi ra mang nét mặt rất hoan hỉ. Trong trí nhớ của ông lão đã bước vào tuổi “thất thập cổ lai hi” này, đây là lần đầu tiên có người lạ dám bước vào hậu cung của đền như thế.

Những chuyện lạ với vị khách này xảy ra từ ấy. Bảy bức ảnh trong hậu cung người này chụp, khi mang về rửa thì phim đều đều đen sì “tối như đêm 30”. Rồi 3 ngày sau, tin từ tỉnh báo về vị ấy đã bị đột quỵ sau một buổi họp. Được đưa đi chữa ở khắp các bệnh viện nổi tiếng ngoài Hà Nội nhưng chưa đầy một tháng sau, du khách “bạo gan” này không qua khỏi.

Tai họa chưa dừng ở đó. Khoảng 3 tháng sau, con trai duy nhất của người này thắt cổ tự vẫn, nghe nói là phẫn uất vì chuyện bị vợ ngoại tình. Tiếp một tháng nữa, một người trong gia đình ấy khi đang đi công tác xa bỗng bị có người chỉ mặt mà bảo: "Nhà mày có người xúc phạm đến thần thánh. Nếu không về làm lễ cầu xin thì còn có thêm người chết nữa". Người này về kể chuyện thì gia đình mới móc xích các sự việc lại với nhau và “tá hỏa tam tinh” ngờ rằng đó là hậu quả của việc “phạm thánh”. Ông Luyện kể rằng phải sau khi sắm lễ tìm lên đền “tạ tội” thì gia đình ấy “mới được yên”.


 Bí mật nào sau cánh cửa này?

Mang họa vì phạm “húy kỵ nhà thánh"?

Dư luận trong khu vực lại thêm một lần “dậy sóng” với sự việc một thanh niên “ngỗ ngược” đã “trả giá” vì muốn “thử độ thiêng” của đền những ngày cuối năm 2011. Một thanh niên ở xã Đồng Lạc (cạnh xã An Lạc) nhiều năm nay “ấm ức” trước “luật” đại kỵ trước khi vào lễ đền Cao không được ăn thịt chó nên đã rủ vài người bạn đi làm một bữa thịt chó xả xui cuối năm rồi mặt đỏ bừng bừng lên lễ đền. Chỉ vừa bước lên đến sân nghỉ, còn cách sàn đền chừng chục bậc tam cấp nữa thì chàng trai bỗng ngã dập đầu, chúi mặt xuống đất. Người đi lễ hốt hoảng chạy lại xem thấy nạn nhân miệng cứ há hốc ra, không kêu được mà cũng không cựa quậy gì được.

Những người bạn của anh chàng vội vàng chạy vào cầu cứu "quan trùm" và khi nghe rõ sự tình, người coi đền lập tức thắp 9 nén hương kêu cầu trước bài vị "thánh" rồi mang ra cho một chén nước đã được đặt làm lễ cho đám bạn cạy miệng đổ vào mồm thanh niên “ngông cuồng”. Lạ thay từ lúc đó anh chàng kêu được ra tiếng và cà nhắc đi về nhà. Sau sự việc, bố mẹ của chàng thanh niên nghịch ngợm này đã phải sắm lễ lên đền, khẩn cầu "thánh" tha thứ cho cái việc "trẻ đầu xanh lỡ nghịch dại".

Một người khác tự nhận mình gặp phải “những tai ương ghê gớm hơn vì dám phạm kỵ húy” ở đền Cao là bà Lương Thị Cải (người huyện Nam Sách, lấy chồng thôn Đại). Cuối năm 2010 bà dâng một mâm lễ lên đền gồm toàn những món chay do người con dâu cả của bà bày biện. Bà Cải thuật lại bà không nhớ ngày hôm trước người con dâu này vừa phải về quê để làm lễ "sang cát" cho bố đẻ, trong khi một “đại kỵ” khác khi dâng lễ lên đền Cao theo tục lệ là người biện lễ tuyệt đối trước đó ít ngày không được dính vào chuyện tang trở.

“Xăng xái đội lễ lên đền, vừa bước vào cửa "thánh" và có cảm giác tôi chỉ sượt qua rất nhẹ mà đôi lục bình nặng chịch trên ban thờ bỗng rơi vỡ tan tành. Lúc ấy tôi sợ đến tái mét cả mặt mày nhưng nghĩ mình vô tình làm vỡ lọ nên chỉ kêu cầu xin lỗi "thánh" về việc đó thôi, đâu ngờ "thánh" quở về việc khác", bà Cải thuật lại.

Ngày đó cứ nghĩ rằng mình “phạm lỗi” làm vỡ lục bình của đền nên người phụ nữ này đã cung tiến trả đền những lọ lục bình khác nhưng chỉ được dăm ngày là những đồ “đền bù” này lại rơi vỡ hoặc sứt mẻ như kiểu “lời xin lỗi không được chấp nhận”. Trong suốt nửa năm sau đó gia đình bà liên tục gặp tai ương: Người con trai cả hành nghề lái xe đường dài đã hàng chục năm, bỗng gây tai nạn liên tiếp, không đến nỗi chết người những cũng phải bán cả xe để trang trải; người con trai thứ thì làm ăn gặp thất bát, bị bạn hàng lừa mất cả tỉ đồng rồi bỏ trốn; đen đủi nhất là người con trai út, anh này đang đi chơi với bạn bè thì gặp hai băng nhóm đuổi đánh nhau, chẳng hiểu “nhìn gà hóa cuốc” thế nào mà trong đám đánh nhau có đối tượng tưởng nhầm anh là đối thủ nên bị đánh nhầm, bị “tặng” trận đòn “thừa sống thiếu chết” phải đi viện khâu hàng chục mũi trên đầu, lại gặp nhiều rắc rối khi bị cơ quan công an gọi lên làm việc mấy lần vì nghi có liên quan đến hai băng nhóm côn đồ đó.

Thấy gia đình gặp nhiều tai họa bất thường, bà mẹ điên đầu tìm gặp người làng để hỏi ý kiến và soát xét lại mọi việc từ đầu, cuối cùng đã phát hiện ra sơ xuất vì đã dùng lễ do người con dâu có tang sửa soạn. Một lần nữa, bà lại biện lễ lên đền thống thiết kêu cầu và cho rằng "từ ngày đó gia đình tôi không gặp thêm tai ương gì nữa. Bây giờ tôi gần như đã thành “người nhà đền”, gặp việc gì cũng lăn xả vào làm, không bao giờ dám quản ngại, chỉ mong "thánh" “chứng” cho lòng thành của tôi".

Người trong khu vực còn rỉ tai nhau việc cấm kỵ ngồi lên lưng đôi voi và ngựa bằng đá chầu trước cửa đền. Điều cấm kỵ này xuất phát từ sự việc một nhóm thanh niên từ trên huyện về đền dám “cưỡi voi tranh với thánh”. Chuyện xảy ra vài năm trước khi nhóm thanh niên dạo quanh thăm thú cảnh đền, chụp ảnh rồi một thanh niên hứng khởi muốn có bức hình mình đang cưỡi voi đá ngựa đá. Dù người nhà đền đã hết sức ngăn cản nhưng rình lúc không ai trông coi, cậu thanh niên vẫn cố tình ngồi lên lưng một chú voi để chụp vội kiểu ảnh. Mọi chuyện vẫn bình thường đến khi nhóm thanh niên ròi đền ra về. Vừa bước khỏi cổng đền, cậu thanh niên bị trúng gió bỗng ngã vật ra đất, miệng sùi bọt mép, được đưa tới bệnh viện nhưng cả đời chịu cảnh bị liệt nửa người bên phải.


Đôi voi đá trong sân đền

“Chuyện lạ” chỉ là những tai nạn tình cờ 

Với những câu chuyện như truyền thuyết, người trong khu vực cho rằng ngôi đền này như một “mảnh đất thiêng” của họ. Có những người từ xa tới nghe chuyện đã phản bác “Nếu là đền thiêng thì tại sao gần đây mới xảy ra chuyện?”, những người cao niên bèn dẫn ra một loạt những “dẫn chứng xa xưa” khác: Từ những năm khi thực dân Pháp xâm lược, vùng đất này luôn là nơi bị giặc càn quét và có những đêm từ bên kia sông giặc bắn sang đến hàng trăm quả đại bác nhưng chưa từng một quả đạn nào rơi vào khu vực đền Cao. Đó là lý do khiến ngôi đền có tuổi thọ hàng ngàn năm mà vẫn giữ nguyên được bài vị thờ "thánh", ngọc phả và 12 đạo sắc phong từ thời tiền Lê để lại.

Một người già khác cho biết, còn có một “khu vực cấm” khác trong ngôi đền là lạch nước ngăn cách ban thờ "thánh" bày các loại vũ khí và cửa hậu cung được coi như “biên giới” của người đi lễ. Dù lạch nước chỉ rộng chưa đầy 10cm nhưng dân trong thôn chưa bao giờ từng dám bước qua ranh giới đó. Khách thập phương khi đến đây cũng được nhắc nhở cẩn thận để không phạm vào cấm kỵ này.

Lý giải về những câu chuyện người ta cho rằng bị "thánh vật", một vị cán bộ UBND xã cho biết cũng có nghe nhiều lời đồn đại nhưng rất có thể đó chỉ là những tai nạn ngẫu nhiên. "Ví như trường hợp cậu thanh niên ăn thịt chó, uống rượu, say mèm như thế mà leo mấy chục bậc cầu thang lên đền, ngã dập mặt cũng không có gì lạ cả", ông nói. Vị cán bộ xã cũng đặt vấn đề: “Những câu chuyện mang đầy chất tâm linh ấy có thể do chính người dân địa phương đồn thổi, mục đích là để tăng thêm sự huyền bí cho ngôi đền của thôn mình. Tuy nhiên dù chưa rõ thực hư những câu chuyện như thế nào nhưng đền Cao từ nhiều năm nay vẫn là địa điểm thu hút khách thập phương về vãn cảnh, tế lễ".

Và cái lợi lớn nhất từ những câu chuyện “đền thiêng” mà khách đến thăm nhận thấy là từ rất nhiều năm nay ngôi đền chưa từng một lần mất trộm. Ông Nguyễn Văn Đức, Trưởng ban quản lý di tích đền Cao khẳng định: "Đồ thờ tự của đền không ai dám tơ hào, nhiều năm qua không xảy ra việc mất mát dù trong đền có nhiều đồ cổ, quý giá dù có những thứ rất dễ lấy, dễ giấu như những chiếc chén đựng nước cúng làm bằng ngọc".

Về việc dân làng có “khó chịu” khi phải sống chung với những điều cấm kỵ khắt khe khi bước vào đền Cao hay không, ông Đức cười: “Những quy định này đã trở thành luật tục của làng nên nhất nhất ai cũng tuân theo, đã không khó chịu mà thậm chí còn có phần tự hào vì đã giữ được bản sắc của làng mình mà bao đời cha ông lưu truyền”.

Theo ngọc phả đền Cao ghi lại, vào thời Đinh ở Nga Sơn (phủ Hà Trung, Thanh Hoá) có vợ chồng ông Vương Đức Tĩnh và bà Đào Thị Thanh sống với nhau đã lâu nhưng chưa có con nên quyết đi tìm cuộc sống mới. Khi đến vùng đất này, thấy đây là nơi bình yên, thuần hậu nên ông bà đã ở lại sinh cơ lập nghiệp. Làm ăn ngày càng khá giả nhưng ông bà vẫn không quên ngày ngày cầu trời khấn phật cho sinh quý tử rồi lời khẩn cầu thấu tới thần linh. Một đêm bà đang tắm bên bến sông bỗng gặp gió lớn sóng to, ầm ầm như "rồng hút nước", sau đó bà thụ thai, đủ 9 tháng 10 ngày thì sinh một lúc được 5 người con gồm hai gái 3 trai, đặt tên là Vương Thị Đào, Vương Thị Liễu, Vương Đức Minh, Vương Đức Xuân, Vương Đức Hồng. Năm người con lớn lên học hành binh thư chữ nghĩa rất tinh thông. Một hôm hai ông bà về quê hương bản quán, đến bến đò Thần Phù (Thanh Hoá) không may gặp bão đắm thuyền và mất tại đó vào ngày mồng 6/3. 

Năm 981 quân Tống xâm lấn bờ cõi nước ta. Vua Lê Đại Hành truyền hịch đi khắp nơi tìm người hiền tài ra phò vua giúp nước. Lúc này 5 người con họ Vương đang có tang cha mẹ nên không dám về triều ứng thí. Đến khi nhà vua hành quân đi đánh giặc qua nhận thấy ở đây địa thế hiểm yếu liền cho lập đồn trại đóng quân. Hàng ngày thấy những người con họ Vương đi ngang qua cửa doanh đồn, Vua nhận thấy họ đều là người tài năng liền cho thử tài và chiêu dụng, phong chức cho ba anh em trai là Quyền chưởng Trung hoa tể đại tướng và phong cho hai chị em gái là Mẫu nghi chí tôn thiên hạ.

Sau khi nhận tước phong, các ngài cùng xin phép nhà vua cho được cầm quân ra đánh giặc. Khi ấy 5 vị tướng cầm quân tiến đánh theo đường bộ, giáp chiến một trận cực kì ác liệt khiến giặc thua to bỏ cả đồn tháo chạy. Sau này bờ cõi Đại Việt được giữ vững, vua cho mở tiệc khao thưởng quân sĩ và nhân dân. Nhà vua dẫn quân trở về kinh đô, còn 5 ngài xin ở lại mãn tang cha mẹ sẽ về triều bái yết. (Tục thắp hương đen ở đền Cao xuất phát từ tích này. Hương màu đen tượng trưng cho 5 vị mặc quần áo đen để tang cha mẹ, thể hiện lòng chí hiếu của con cái).

Không ngờ ý trời linh hoá, đêm hôm đó trời đất tối tăm mờ mịt, mưa gió ầm ầm, 5 ngài đều thăng hoá về trời (đêm 24 tháng Giêng). Sáng hôm sau trời đất lại trong sáng trở lại, dân kéo đến xem thì đã thấy mối đất đùn thành những ngôi mộ lớn. Người dân liền lập biểu dâng lên triều đình.

Nhà vua nghe tin vô cùng thương xót bậc quân thần có công lao với đất nước, liền sai quan triều đình về tận nơi làm lễ phúng viếng và phong mĩ tự cho 5 ngài: Vương Thị Đào là “Đào hoa trinh thuận công chúa”. Vương Thị Liễu là “Liễu hoa linh ứng công chúa”. Vương Đức Minh là “Thiên Bồng Đại tướng quân đại Vương”. Vương Đức Xuân là “Dực thánh linh ứng đại vương”. Vương Đức Hồng là “Anh vũ dũng lược đại vương”. Năm vị được nhân dân tôn làm “Thượng đẳng phúc thần” và đã xây dựng đền thờ phụng.
 Thanh Huyền Ngọc

Theo Pháp Luật Việt Nam

Hàng trăm bệnh nhân tâm thần “lâu năm” đang sống bình thường trong ngôi đền cổ này. Hàng ngày, người dân thường bất chợt nghe thấy tiếng gào rú phát ra từ trong khuôn viên ngôi đền. Mọi chuyện bí ẩn kỳ lạ bắt nguồn từ việc ngôi đền chỉ mở cửa đón người điên.



 Bí ẩn ngôi đền “bắt ma”, nuôi hàng trăm người điên lạ lùng nhất Việt Nam 

Những lời đồn ma mị 

Đền Thó (xã Lương Tài, Văn Lâm, Hưng Yên) đang là nơi lưu trú của rất nhiều người tâm thần. Trong đó, hàng chục người đã “điên thâm niên” đến mức gia đình họ không còn phương cách gì để chữa trị nên mới gửi họ tới ngôi đền nằm lọt thỏm giữa khu dân cư này.


 Đền Thó ở xã Lương Tài, Văn Lâm, Hưng Yên 

Bà con xung quanh ngôi đền đã chứng kiến những bệnh nhân tâm thần lột hết quần áo, gào thét điên cuồng khi được người thân “áp giải” đến đền Thó. Cũng có những bệnh nhân gương mặt trắng bệch, ánh mắt đỏ ngầu, miệng lẩm bẩm đòi giết cả nhà, giết những ai dám đến gần. Vì thế, đối với người dân thôn Lương Tảo C, đền Thó là nơi vừa bí ẩn, vừa đáng sợ.

Do không hiểu rõ, nên người dân nơi đây nảy sinh những đồn đoán thiếu căn cứ về ngôi đền này. Người ta cam đoan đền Thó là nơi tụ tập của ma quỷ hoặc vị thần linh nào đó đã trấn giữ qua nhiều thế kỷ. Bởi đền Thó tồn tại đã hàng trăm năm (thần phả không biên rõ ngôi đền được dựng lên từ năm nào, nhưng theo truyền miệng, ngôi đền có từ thời Bắc thuộc).

Dòng họ được giao nhiệm vụ thủ đền hàng ngày đều tiến hành những nghi lễ khá lạ lùng, bí mật. Những nghi lễ này chỉ được truyền cho người trong họ, nên càng gây ra sự tò mò.

Bà Trần Thị T. (66 tuổi) là người sống sát vách với đền Thó từ lúc bé. Lúc mới biết nhận thức, bà đã phát hoảng khi hàng ngày chứng kiến không biết bao nhiêu người điên ra vào đền Thó. Họ ăn ở trong đền và được cho ra ngoài lao động như người bình thường. Lạ một nỗi, những người điên ấy đều hết sức nghe lời thủ nhang của đền, họ chăm chỉ làm việc, không quấy phá đến người dân trong làng.

Bà T. phỏng đoán: “Tôi nghĩ rằng nhà đền đã trấn yểm một thứ gì đó lên người những bệnh nhân tâm thần khiến cho họ phải phục tùng, phải nghe lời. Chắc là bùa chú gì đấy, vì tôi nghe kể là những người trong dòng tộc nhà đó thường bắt người điên tụ tập trong đền Thó và đọc kinh, rồi thực hiện nhiều nghi thức, động tác quái lạ lắm”.

Người dân ở thôn Lương Thảo C còn thỉnh thoảng giật mình với những tiếng thét gào man dại phát ra từ bên trong đền Thó. Đấy là lúc người bệnh tâm thần không kiểm soát được bản thân, họ kêu gào như thể bị một thế lực thần bí nào đó giam cầm, đầy ải.

Còn việc bệnh nhân tâm thần phát rồ, đòi giết ông thủ nhang cũng xảy ra không ít lần. Mới đây, bệnh nhân tên M. (ở Bắc Ninh, 21 tuổi) đã cầm thanh sắt dài cả mét đứng nấp ở cửa đền, nhằm lúc ông thủ nhang về đến nơi liền lao ra đòi đập chết. Trong lúc hành động, M. không ngớt lảm nhảm: “Tao đánh chết mày vì mày nhốt tao”. Những sự việc ấy, người dân đều chứng kiến cả.


 Ông Tự, thủ nhang đền Thó kể về cách điều trị bệnh tâm thần 

Cùng ăn bữa cơm của người tâm thần

Thủ nhang của đền Thó, ông Nguyễn Văn Tự, không phủ nhận chuyện anh M. đòi “đánh chết” mình. Với ông Tự, chuyện đối mặt với những nguy hiểm khi chung sống cùng người tâm thần đã là điều quen thuộc, bởi ông sinh ra và lớn lên cùng với họ.

Ông Tự nói bình thản: “Từ xa xưa, đền Thó không tiếp khách vãng lai, vì đây là ngôi đền của gia đình. Điều đặc biệt là đền Thó thờ cả Phật và Thánh. Theo quy định của các cụ truyền lại, ngôi đền này chỉ được mở cửa vào những thời điểm nhất định và người vào đền là các bệnh nhân tâm thần.

Quyền trông nom ngôi đền được truyền cho trưởng nam trong dòng họ, những nam nhân khác trong họ - dù lớn tuổi và vai vế cao hơn – vẫn chỉ đóng vai trò người giúp việc. Thêm nữa, các cụ căn dặn ngặt nghèo là mọi giấy tờ, sổ sách đều phải đốt hết mỗi khi truyền cho đời thủ nhang mới. Vì thế, cả bản thân tôi cũng không rõ ngôi đền có từ bao giờ, tuổi thọ là một vài trăm năm hay là ngàn năm. Chỉ biết rằng, ông tôi truyền lại ngôi đền cho bố tôi. Từ lúc biết nhận thức, tôi đã thấy mình lớn lên trong môi trường toàn người điên”.

Bản thân ông Tự và các cụ cao niên trong dòng họ cũng không lý giải được vì sao đền Thó lại chỉ đón tiếp người điên. Qua truyền miệng, họ biết rằng xưa kia có một vị thần đầu thai xuống hạ giới để làm việc kỳ lạ, đấy là trị bệnh cho người tâm thần. Khi vị thần hóa về trời, con cháu dựng ngôi đền để thờ vị thần, đồng thời tiếp tục công việc chữa bệnh. Xưa kia, bệnh viện tâm thần không có, nên người điên quanh vùng đều đến đền Thó và rất nhiều người đã khỏi bệnh.


 Những bệnh nhân tâm thần nhẹ được phân công nấu ăn 

Hôm chúng tôi tới đền Thó, đúng dịp ngôi đền đang được tu sửa, tôn tạo. Ông Tự chỉ thuê một nghệ nhân đắp phù điêu, còn bao nhiêu công việc xây dựng đều giao cho các bệnh nhân. Trong khuôn viên chừng 1000m2 của đền Thó, hàng chục người đang chăm chỉ làm việc. Một người đàn ông trung niên, râu ria tỉa tót cẩn thận, tất bật với công việc trộn vữa.

Ông ta hành động khéo léo, chỉn chu, ra dáng thợ lành nghề. Bên kia, chàng trai thư sinh (vốn là sinh viên đại học danh tiếng, vì học hành quá độ mà sinh ra hoang tưởng) bận rộn bê gạch để phục vụ xây dựng tường bao. Tay chân anh ta lẻo khẻo, mỗi lần bê chỉ được 4 viên gạch, nhưng rất đều đặn, không nghỉ.


 Chàng trai thư sinh vốn là sinh viên đại học danh tiếng, vì học hành quá độ mà sinh ra hoang tưởng 

Tất cả nhịp nhàng như một công trường chuyên nghiệp! Ngoại trừ anh chàng tên M., bị giữ chân bằng một cùm sắt nặng. Anh ta cứ ngồi cười hềnh hệch ở góc vườn, tay chân chỉ trỏ như ông chủ thầu xây dựng điều khiển đám công nhân.

Ở trong bếp, mấy chị phụ nữ đang làm cơm rất nhộn nhịp. Ông Tự giảng giải: “Những người được phân công làm bếp là bệnh nhân “say” nhẹ (ý là bệnh tâm thần nhẹ) hoặc đang phục hồi tốt. Nếu người điên nặng làm bếp thì chết cả nhà như chơi! Chúng tôi mua đồ ăn, còn gạo là của gia đình bệnh nhân đóng góp khi họ mới đến. Người tỉnh và người điên ăn chung”.


 Dù mang bệnh tâm thần những người ở đây vẫn ăn uống bình thường, sạch sẽ 

Đến trưa, ông Tự cho bệnh nhân nghỉ tay ăn cơm. Mấy chục bệnh nhân tâm thần tự biết ngồi vào bàn ghế đàng hoàng, ngay ngắn. Họ vừa ăn vừa rủ rỉ tâm sự. Có người chòi đũa tranh phần ăn của bạn, nhưng ông Tự lập tức nhắc nhở ngay. Kỳ lạ, những bệnh nhân tâm thần từng điên loạn đòi chém, đòi giết người này đều sợ và nghe lời răm rắp vị thủ nhang mới hơn 40 tuổi.

Ông Tự tiết lộ: “Chữa bệnh tâm thần cũng phải có tập hợp nhiều yếu tố, cả khoa học cũng như tâm linh. Ở đây, chúng tôi không cho bệnh nhân dùng thuốc, nhưng họ khỏi bệnh rất nhiều. Thế mới đặc biệt!”.

Hoài Sơn 

Theo Báo Tuổi trẻ & Đời sống

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.