bài viết trong chuyên mục "Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy 2022 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu. Hiển thị tất cả bài đăng

Chương I: Đặc trưng và bản chất của tín ngưỡng thờ Mẫu
I. Đặc trưng, nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng thờ mẫu
1. Tín ngưỡng thờ mẫu và Tứ bất tử trong dân gian Việt Nam

Tín ngưỡng thờ Tam phủ,Tứ phủ
Tam phủ là danh từ để chỉ ba vị thánh thần: Bà trời (hay mẫu Thượng Thiên, bà chúa thượng (hay mẫu Thượng Ngàn), bà nước (hay mẫu Thoải). Tử phủ gồm ba vị mẫu tren công thêm mẫu Địa Phủ. Các mẫu cai quản những lĩnh vực quan trọng nhất của một xã hội nông nghiệp. Về sau do sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nên có thêm hình tượng Ngọc hoàng, Thổ công và Hà bá. Thần mặt trời là vị thần quan trọng nhất, có mặt trên tất cả các trống đồng. Tục thờ trời ở Việt Nam có ảnh hưởng từ sự giao thoa với văn hóa Trung Quốc.
Tín ngưỡng thờ mẫu được hình thành ở Việt Nam do sự ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ kết hợp với Đạo giáo du nhập từ Trung quốc vào Việt Nam. Tín ngưỡng thờ mẫu phát triển thành một hệ thống mang tính tầng bậc, thứ lớp và trở thành tín ngưỡng được lưu hành rộng rãi trong dân gian.
Tín ngưỡng thờ mẫu là sự mô hình hóa vũ trụ quan của người Việt - đó là một không gian thể hiện rõ tính thứ bậc các nữ thần cai quản.
- Thánh mẫu Thượng Thiên: Cai quản trời và làm chủ mây mưa sấm chớp (mặc đồ đỏ).
- Thánh mẫu Thoải: Cai quản thủy phủ (mặc đồ trắng).
- Thánh mẫu Thượng ngàn: Cai quản rừng núi cây cối (mặc mầu lam).
Ba vị thánh mẫu này cấu thành nên hệ thống Tam phủ của người Việt hay còn gọi là Tam tòa Thánh mẫu. Về sau này người Việt sáng tạo thêm thánh mẫu Địa Phủ - cai quản đất đai (mặc đồ vàng) hình thành nên hệ thống Tứ phủ.
- Dưới bốn vị thánh còn có năm ông quan thừa hành từ Đệ nhất đến đệ Ngũ. Bốn ông quan từ đệ Nhất đến đệ tứ là phái viên tương ứng Tứ tòa thánh mẫu , riêng ông Ngũ là quan Tuần Tranh - vị long tướng quản cai miền sông nước.
- Tầng thấp hơn là 4 vị thánh bà. Sau đó là 1 ông hoàng. Kế tiếp là 12 tiên cô (thị nữ của thánh mẫu) bao gồm: Cô cả, cô đôi, cô bơ, ... Ngang hàng với họ là 4 cậu quận, tầng thấp hơn là Quan Ngũ hổ và cuối cùng là Ông Lốt (rắn).
Thờ mẫu là một hiện tượng văn hóa dân gian mang tính tổng thể. Cùng với tín ngưỡng này là hàng loạt các truyền thuyết, các bài chầu văn đan xen với hình thức múa bóng, hầu bóng và lên đồng. Trong đó hầu bóng và lên đồng được xem là nét đặc trưng một hình thức không thể tách rời của tín ngưỡng thờ mẫu.

Tứ bất tử
Người việt có 4 vị thánh bất tử đó là: Tản viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh.
Tản viên biểu hiện cho ước vọng chiến thắng thiên tai, lụt lội. Thanh Gióng biểu hiện cho tinh thần chống giặc ngoại xâm; Chử Đồng Tử biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về vật chất; Liễu Hạnh biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về tinh thần của người Việt Nam.
Trong bài viết này tôi xin chỉ nêu về Công chúa Liễu Hạnh.
Liễu Hạnh công chúa là một trong những vị thần quan trọng nhất của tín ngưỡng Việt nam
Đời thứ nhất mẫu giáng sinh tai thôn Quảng Nạp, xã Vị Nhuế, huyện Thái An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam. Trong gia đình thái ông họ Phạm hiệu là Huyền Viên, Thái bà hiệu là Thuần hai người cùng một quê. Khi còn sống mẫu luôh giữ chữ trinh, một lòng hiếu thảo thờ phụng cha mẹ, sau trờ về chốn linh tiêu mẫu tại thế năm Giáp Dần niên hiệu Thiệu Bình nguyên niên (1434) cho tới năm Quý Tỵ niên hiệu Hồng Đức thứ 4 (1473)
Đời thứ hai mẫu giáng sinhh vào nhà thái công họ Lê tại xã Vân Cát huyện Vụ Bản, phủ Nghĩa Hưng, thái công họ Lê tên húy là Đức Chinh. Tới tuổi trưởng thành được gả cho Trần Đào Lang ở thôn An Thái (sau đổi là Tiên Hương), sinh được một con trai là Nhâm. ở kiếp này mãu tại thế từ năm Đinh Tỵ niên hiệu Thiên Hựu nguyên niên (1555) Cho tới năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Thái thứ 5 (1577)
Đời thứ ba của mẫu giáng sinh tại xã Tây Mỗ huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, lấy chồng họ Mai (là tái hợp với hậu thân của Đào Lang) sinh được một con trai tên là Cổn, được hơn 1 năm mẫu quay gót về đế hương. Sau Ngọc hoàng chuẩn cho mẫu được trắc giáng xuống cõi trần thường xuyên tiêu dap khắp nơi được miễn vòng sinh tử luân hồi
2. Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ mẫu (chờ pos tiếp)

Đến cửa Cậu chúng ta nên xin điều gì.

Với mong muỗn tìm hiểu về văn hóa hầu đông, tôi uớc nguyện sẽ viết 01 quyển sách về Hầu bóng - Những điều còn chưa biết.

Là một thanh đồng đã 5 năm nay nhưng do tuổi còn trẻ đầu còn xanh công việc còn bận bịu nhiều nên tôi không có thời gian tham gia đủ các khóa lễ cơ bản. Tôi tự nhận mình chưa làm tròn bổn phận: “Trên lo việc thánh dưới lo việc dân”. Những điều tôi muốn tìm hiểu về căn số về hâu đồng hầu như chỉ là truyền khẩu và trên một số diễn đàn không có một cuốn sách nào được bán ngoài thị trường.

Chính vì thế các thông tin đến với tôi rất ít và đa chiều. Tất nhiên có những thông tin mang tính chính xác cao, với những kiến thức được mọi người vẫn hay sử dụng trong hầu bóng. Tuy nhiên những văn hóa, ứng xử của cõi vô hình của những vị Thánh thì tôi chưa được chỉ dậy chính xác. Do đó mà ngay sau khi có được những hiểu biết này tôi nghĩ mình phải làm cái gì đó ngay để cùng đưa những thông tin này cho những người đang quan tâm và đã quan tâm về vấn đề hầu thánh được biết

1. Việc thứ 1: Việc soi căn tìm hiểu căn số- Ngoài những điều thông thường như nhờ thầy xem cho, nằm mơ được các vị Thánh báo mộng, thích nghe văn, hầu bóng hay tự nhận thấy mình có đặc điểm về cuộc đời lạ kỳ có liên quan đến việc hầu thành thì mọi người phải nên biết điều này
- Ở trạng thái phán đoán là mình có căn số. Hãy tự suy ngẫm phán xét, tìm tòi để làm những việc mà mình cho là hợp lý thì làm. Có thể là có căn ra hầu thánh, không có căn mà vẫn ra hầu thánh nhưng mình là việc đó thấy thoải mái, thấy là đúng đắn thì chúng ta cũng nên làm không có nghĩa mình phải có căn hay không.

2. Việc ra hầu thánh có liên quan đến các bậc gia tiên tiền tổ- Khi chúng ta đi hầu thánh có nghĩa là phần Âm nhà chúng ta cũng có vị chơn linh đến cửa các ngài làm việc tương tự và đã đưa đường dẫn lối cho chúng ta tiếp cận với nghi thức này.

3. Đến cửa Cậu nên xin cái gì.- Chúng ta thường đến cửa Thánh để xin điều nọ, cầu điều kia, hỏi cái này muốn biết cái nọ. 100 người thì cũng như vậy, 1000 người đến cũng như vậy. Chúng ta thử nghĩ trong kho của cậu có 70 đồng mà người mọi người đến xin 90 đồng thì cậu lấy ở đâu ra. Hay như kiến thức vật lý ta đã biết, vật chất không thể tự nhiên mà có được, nó chỉ có thể chuyển từ thể này sang thể khác, thì hỏi rằng người này đến xin một con đề được 70 triệu chẳng hạn thì phải có người cũng mất đi số tiền tương ứng chứ.
- Đến với của Thánh chúng ta nên xin điều gì. Chúng ta hay xin cho khai tâm mở trí, cho chúng con có sức khỏe để làm ra những thứ mà chúng ta đang mong muốn thì tốt hơn. Qua đó cho thấy là chúng ta phải nên học tập mở rộng đầu óc, kiến thức, rèn luyện có sức khỏe xây dựng nên cuộc sống của chúng ta và những người xung quanh tốt đẹp hơn.

4. Một số điều cấm kỵ ở các giá hầu - Hiện nay một số giá hầu ở Hà nội và các tỉnh thành khác có việc: bắc ghế ngồi trong một số giá hầu (như các giá hầu quan lớn, hay giá nhà Trần). Điều này là không được.
- Chúng ta thử nhìn lên trên, Ban trên Tam tòa Thánh mẫu mà không ngồi ghế thì làm sao một thanh đồng như chúng ta đang diễn lại có thể bắc một cái ghế ngồi gác chân lên trước các vị được.
- Trừ một số trường hợp trục tinh, trục tà mới có thể được bắc ghế ngồi.
- Một số, các điều cấm kỵ khác, cho phép tôi sẽ được trình bày ở các bài viết tiếp theo. 

5. Bài viết tiếp theo tôi xin nói về nguồn gốc trên “trần” với sự hóa thân của các Mẫu cứu giúp dân giữ lửa, trồng cây, làm nhà,..

Phần 1:
[​IMG][​IMG]



Như vậy "Phán truyền văn" trong nghi lễ hầu đồng cũng là một tác phẩm nghệ thuật mang tính dân gian, truyền miệng. Ngoài giá trị về nghệ thuật dân gian, giá trị về lịch sử văn hoá đương đại, "Phán truyền văn" còn có ý nghĩa về mặt tâm linh sâu sắc. Người ta có thể mượn danh "lời Thánh phán truyền" để khuyên nhủ, giáo hoá khuyến thiện và cũng có thể ngược lại như doạ nạt lường gạt tài vật bất chính... Vì vậy với ý nghĩa tâm linh sâu sắc đó, chư thanh đồng phụng hành pháp sự cần thận trọng để lấy danh cho Thánh lấy tiếng cho đồng, không hổ thẹn với 6 chữ "Con nhà Thánh - linh nhà đồng"

Liễu Hạnh Tiên Chúa đã định ra tấm gương về đạo nghĩa và tứ đức Công- Dung- Ngôn- Hạnh, đã tận tâm báo hiếu ơn đức sinh thành của cha mẹ, đã một lòng chung thuỷ với tình nghĩa vợ chồng, đã để lại hình ảnh về phụ nữ đầy lòng nhân ái, thiện lương, thương yêu nhân dân, dạy dân trồng dâu nuôi tằm dệt vải, cứu khổ cứu nạn những người nghèo khổ, luôn khuyên bảo người khác làm điều lành, tránh điều ác.

Lần giáng sinh thứ ba, Tiên Chúa Liễu Hạnh cũng là hiện thân cho quyền uy, phép trời nghiêm minh, thẳng tay trừng trị kẻ ác tại cõi thế gian, cuối cùng hoàn thành sứ mệnh và quy y cửa Phật.

Chúng ta hãy đi tiếp hành trình “tìm lại huy hoàng” bằng câu chuyện 3 lần giáng sinh của Bà và cùng ngẫm về ý nghĩa của những huyền tích này.

Lần giáng sinh đầu tiên

Căn cứ vào “Quảng Cung linh từ phả ký”, “Quảng Cung linh từ bi ký” và “Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang được Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định lưu giữ, được Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định, thân thế và sự tích bà Phạm Tiên Nga (Thánh Mẫu Liễu Hạnh) như sau:

Tóm tắt cuộc đời:

  • Niên đại: Nhà Hậu Lê, ngày 6.3 năm Quý Sửu, 1430
  • Tên: Phạm Tiên Nga
  • Quê Quán: Ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, Trấn Sơn Nam
  • Cha Mẹ: Phạm Huyền Viên (Cha) và Đoàn Thị Hằng (Mẹ)
  • Trước khi giáng sinh tại nhân gian: là Công chúa Hồng Liên, con gái thứ 2 Ngọc Hoàng Thượng Đế
  • Tôn vị: Đệ tứ Tứ Bất Tử (Đệ nhất Tứ Phủ)
  • Ngày hóa: Về trời ngày 2 tháng 03 năm Quý Tỵ, thời Lê Thánh Tông (1473)
  • Thờ tự: Phủ Đại La Tiên Từ, Xã La Ngạn, Huyện Đại An, Phủ Nghĩa Hưng, phủ Quảng Cung, thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, Nam Định.
QuangCungTuongMauLieuHanh.jpg 
Tượng thờ Tiên Chúa Liễu Hạnh
Vậy là thực sự có một người con gái tên Phạm Tiên Nga như vậy, ra đời cách đây 6 thế kỷ, sử sách và gia phả lưu lại câu chuyện sau:

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai.

Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng nhiên có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẫu thân của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ Phụ thân và Mẫu thân của Phạm Tiên Nga ).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi ). Bà đã ủng hộ tiền của và công sức giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi ( nay chính là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng. Đây cũng chính là con đường nối di tích Phủ Dầy với Phủ Quảng Cung ).

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dậy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, Bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

Sau đó hai năm, Bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm , dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1472), Bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế ( nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Rồi trong đêm ngày 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, thời Hồng Đức (1473), trời nổi cơn giông, gió cuốn, mây bay, Bà đã hoá thần về trời. Năm đó Bà vừa tròn 40 tuổi.
Ngay sau khi Bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ. Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của Thánh Mẫu gọi là Phủ Quảng Cung. Người dân tôn Bà làm Phúc thần, với Duệ hiệu là “Lê Triều Hiển Thánh, Tầm Thanh Cứu khổ, Tiên Nga tôn thần.”

bgg1408698845.jpg

Phủ Quảng Cung, nơi thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Lần giáng sinh thứ 2

Tóm tắt cuộc đời:

  • Niên đại: Nhà Hậu Lê, thời Lê Anh Tông, năm Đinh Tỵ, 1557
  • Tên: Lê Giáng Tiên
  • Quê quán: Thôn An Hải, Xã Vân Cát, huyện Thiên Bản, hạt Sơn Nam Hạ, nay là Huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam.
  • Cha mẹ: ông Lê Thái Công và bà Trần Thị Phúc
  • Kiếp trước: Phạm Tiên Nga
  • Tôn vị: Đệ tứ Tứ Bất Tử (Đệ nhất Tứ Phủ)
  • Ngày hóa: 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Thế Tông (1577)
  • Thờ cúng: Phủ Giầy, thôn Thiên Hương-Vân Cát, Xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định
phu-giay.jpg

Phủ Giầy, Nam Định, nơi Công Chúa Liễu Hạnh giáng sinh lần 2
Câu chuyện giáng sinh lần 2 cũng được lưu tích trong “Quảng Cung linh từ phả ký”, “Quảng Cung linh từ bi ký” và “Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang được Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định lưu giữ, được Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định. 

Tại thôn An Hải, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản, hạt Sơn Nam Hạ, nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà, có vợ chồng Lê Thái Công là người hiền đức, hay làm việc thiện. Ông bà đã có một con trai, và khi ấy cũng đã đứng tuổi. Đến năm Thiên Hựu, đời Lê Anh Tông, bà vợ có mang đã quá kỳ sinh mà không thấy chuyển dạ, lại không ăn uống, chỉ ưa trong phòng có mùi hoa thơm.

Đêm hôm ấy, gia đình làm lễ, cầu trời khấn Phật, phù hộ độ trì cho mẹ tròn con vuông.

Giữa lúc hương hoa tỏa bay thơm ngát, ở trong phòng, Lê Thái Công nằm mơ thấy mình bay lên thượng giới, rồi được dẫn vào một tòa lâu đài nguy nga tráng lệ, ở đó đang diễn ra cuộc đại khánh tiết, bách thần làm lễ chúc thọ Ngọc Hoàng.

Một tiên nữ vận áo xiêm màu hồng nhạt, từ hậu cung bưng khay rượu bước ra. Vừa đến trước mặt Ngọc Hoàng, trong khi hai tay nâng khay, còn đầu thì khẽ nghiêng và toàn thân nhún xuống, nhưng do làm hơi vội nên đã để một chiếc chén rơi ra … Ngọc Hoàng khẽ chau mày, nhưng rồi trước mặt triều thần, Ngài lại tươi cười nhấc chén rượu thứ hai…

Chỉ có như vậy, nhưng đã là phạm luật tiên giới. Sau bữa tiệc, hai vị Nam Tào Bắc Đẩu tâu lên, tiên nữ bị giáng xuống trần, trong thời hạn ba năm (thời gian trên thượng giới), mặc dù đó chính là con gái của Ngọc Hoàng Thượng đế.

Vừa lúc ấy, Lê Thái Công tỉnh giấc. Cũng đúng lúc ấy, người nhà vào báo bà vợ đã sinh một người con gái. Ba ngày sau, khi nhìn mặt con, thấy nét mặt giống nàng tiên nữ bưng khay rượu trong bữa tiệc chúc thọ Ngọc Hoàng, ông bèn đặt tên cho con là Giáng Tiên. Lần giáng sinh mới này của Liễu Hạnh cách quê cũ 7km.

Ngày tháng qua đi, càng lớn lên Giáng Tiên càng lộng lẫy, xinh đẹp. Mọi việc nữ công gia chánh nàng cũng đều thành thạo. Lại có cả tài cầm kỳ thi họa, vì ông bà cho nàng theo học Trần Công, một người bạn ở làng bên, và càng học lên Giáng Tiên lại càng giỏi giang, tấn tới.

Ông Trần Công là một vị hưu quan ở làng Tiên Hương, cùng trong huyện Thiên Bản. Vợ chồng ông cũng đã đứng tuổi mà chưa có con. Một đêm, nghe có tiếng trẻ khóc ở ngoài vườn, ông bà cùng chạy ra thấy một đứa bé sơ sinh nằm dưới gốc cây đào. Ông bà đem về nhà nuôi, đặt tên là Đào Lang.

Lớn lên Đào Lang là một chàng trai khôi ngô tuấn tú, siêng năng chăm chỉ học hành. Do đã đính ước với nhau từ nhiều năm trước, nên khi Đào Lang và Giáng Tiên đến tuổi trưởng thành, hai bên cha mẹ đã cho đôi trẻ nên duyên vợ chồng.

Về nhà chồng, Giáng Tiên là một người vợ hiền dâu thảo, nói năng khiêm nhường, đối xử có trước có sau. Trong ba năm, nàng sinh được một trai tên Nhân, một gái tên Hòa.

Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày mồng ba tháng ba (Âm lịch), tuyệt nhiên không bệnh tật gì, nàng hóa, lúc ấy vừa tròn 21 tuổi. Cả hai bên cha mẹ và chồng con đau xót tiếc thương nhưng chẳng có cách gì cứu sống được. Trong nỗi buồn vô hạn, kể cả Lê Thái Công, chẳng ai hiểu được lẽ trời đã sắp đặt rồi.


Đền Lạng Sơn thấy cổ tự rêu phong bên sườn núi, với những hàng thông cao gió reo, những khóm lan tươi tốt….Và xa xa chim lạc ngậm hoa, vượn khỉ dâng quả. 

Trong chùa thì bia đá phủ rêu xanh, tượng Phật bụi thời gian bao phủ… Thức cảnh sinh tình Tiên Chúa ngẫu hứng ngồi ghế gẩy đàn theo ý thơ ở góc ba cây thông.

“ Cô Vân lai vãng hề sơn thiếu nghiêu

U điểu xuất nhập hề lâm yêu kiều

Hoa khai mãn ngạn hề hương phiêu phiêu

Tùng minh vạn hác hề thanh tiêu tiêu

Tứ cố vô nhân hề quỳnh trần hiêu,

Phủ đàn trường khiêu hề độc tiêu dao

Hu ta hề, sơn lâm chi lạc hề

Hà giảm linh tiêu”.

Dịch nghĩa ( Vũ ngọc Khánh )

Đám mây bây đi bay lại chừ, núi cao ngất

Chim đàn lượn ra lượn vào chừ,rừng um tùm

Hoa nở đầy bờ chừ, hương thoang thoảng ,

Thông reo muôn hàng chừ,tiếng rào rào

Bốn mặt vắng tanh chừ,cách bụi trần 

Gẩy đàn ca hát chừ,tư ý tiêu giao

Than ôi chừ, cái thú sơn lâm chừ, kém gì trên cung mây.

Tiên Chúa vừa hát vừa ca ngợi cảnh núi rừng hao lá, trời mây thiên nhiên song, bỗng có tiếng người ngoài đường xướng rằng:

“ Tam mộc xâm đình, tạo trước bảo hề nữ tử ”

( Ba cây mọc tốt tươi trước sân, ngồi đó một nàng gái đẹp )

Tiên Chúa liền ngước nhìn thấy một người mặc áo đẹp, chít khăn kiểu thư sinh, cưỡi ngựa tốt, lại có cờ mao, lính hầu đi theo liền ứng khẩu:

“Tùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân ”

(Điệp trùng non xanh cùng nối bước, đâu tới sứ giả quan nhân )

Viên quan xuống ngựa hỏi:

Nàng là người ở đâu mà thông minh,tài giỏi như thế?

Tiên Chúa bèn trỏ tay vào trong khe núi và bảo :

- Tôi là người trong núi này !

Viên quan liền xuống:

Sơn nhân bằng nhất, kỉ, mạc phi tiên nữ làm phàm

( Ngưòi trong núi ngồi một ghế, phải chăng Tiên nữ giáng trần )

Tiên Chúa ứng khẩu đáp:

-Văn Tử đới trường cán, tất thị học sinh thị trướng 

( Chàng văn nhân khăn dài, hẳn bậc nho sinh tài giỏi )

Viên quan nghe song vội vàng cúi chào, nhưng khi ngẩng đầu nên thì không thấy hình bóng người Tiên đâu nữa. Tìm trong chùa cũng biệt tăm, chỉ có cây gỗ “ mộc ” nằm ngang bên đường, nhìn kĩ trên thân cây thấy bốn năm chữ “ Mão khẩu công chúa ”, trên cây gỗ còn có biển đề “ Băng mã dĩ tẩu ” .

Những người tháp tùng không hiểu bèn hỏi ý nghĩa, viên quan liền giải thích:

- Mão Khẩu Công Chúa, lại thêm chữ mộc là Liễu Hạnh Công Chúa. còn biển đề băng mã dĩ tẩu nghĩa là đợi ta, hộ Phùng ( chỉ Phùng Khắc Khoan vì chấm băng bên chữ mã là chữ Phùng ) khởi oong vậy ( chữ dĩ trong chữ tẩu là chữ khởi ). Nghĩa là người Tiên giao cho Phùng Khắc Khoan khởi công tu sửa chùa nơi đây.

Quan trạng liền cho gọi các lão làng vùng sơn trang này giao cho một khoản tiền để tu sửa ngôi chùa bên núi. Ông còn để lại một bài thơ ( tạm dịch như sau ):

“ Rừng tùng tịch mịch bóng chùa xa

Tiếng hát đâu từ phía núi xa

Một khúc vờn mây người chẳng thấy

Đầy trời sắc núi cảnh nguy nga ”.

Từ đó về sau hành tung của Tiên Chúa nay đây mai đó không định. Lúc thì chơi trăng cợt gió, khi qua sông lớn núi cao hoặc vãn cảnh danh lam chùa Tháp khắp mọi nơi. Tiên Chúa còn trở lại thăm cảnh Đông kính như Báo Thiên, Hoàng Đình Đồng Tân

Trần Hưng Đạo (1232 - 1300) là danh tướng thời nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, là người có công lớn trong ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông. Đồng thời ông còn là một nhà nghiên cứu quân sự với các bộ binh pháp Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp bí truyền. Ông còn được người dân Việt tôn sùng như bậc thánh, nên còn được gọi là Đức thánh Trần.

Thân thếÔng tên thật là Trần Quốc Tuấn (陳國峻), là con trai của An Sinh vương Trần Liễu,gọi vua Trần Thái Tông bằng chú, Nguyên quán: Phủ Thiên Trường (nay thuộc xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định)]. Ông còn có hiệu là Hưng Đạo Vương (chữ Hán: 興道王).

Ông vốn có tài quân sự, lại là tông thất nhà Trần, do đó trong cả ba lần quân Nguyên Mông tấn công Đại Việt, ông đều được vua Trần cử làm tướng ra trận. Đặc biệt trong cuộc chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba, ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ. Dưới sự lãnh đạo của ông, quân dân Đại Việt chiến thắng ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi quân Nguyên - Mông ra khỏi đất nước.

Sau khi kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ ba thành công, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lui về sống ở Vạn Kiếp. Ông đã dựa vào địa thế vùng Vạn Kiếp mà Kiếp Bạc là trung tâm để lập phủ đệ và quân doanh làm phòng tuyến chiến lược giữ mặt đông-bắc của Đại Việt. Ông còn cho trồng các loại cây thuốc để chữa bệnh cho binh sĩ và nhân dân trong vùng.

Mùa thu tháng 8, ngày 20 năm Canh Tý, Hưng Long thứ 8 (tức ngày 11-10-1300 theo lịch Gregory đón trước[3]), Hưng Đạo Vương mất. Theo lời dặn, thi hài ông được hoả táng thu vào bình đồng và chôn trong vườn An Lạc, giữa cánh rừng An Sinh, không xây lăng mộ.

Sau khi ông mất, triều đình phong tặng là Thái sư Thượng Phụ Quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương. Nhân dân Đại Việt vô cùng thương tiếc người anh hùng dân tộc đã có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc nên lập đền thờ ông trên nền Vương phủ gọi là đền Kiếp Bạc. Người dân Đại Việt kính trọng vinh danh Đức Thánh Trần và lập đền thờ ở nhiều nơi.

---------- Post added at 12:28 PM ---------- Previous post was at 12:27 PM ----------
Thiếu thời
Đại Việt Sử ký Toàn thư có chép: "Lúc mới sinh ra, có một thầy tướng xem cho và bảo: 'Người này ngày sau có thể cứu n­ước giúp đời'."

Khi lớn lên, ông có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc thông hiểu rộng, có tài văn võ. An Sinh vương Trần Liễu trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng (tức vua Trần Thái Tông - Trần Cảnh), mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ để dạy Trần Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, An Sinh Vương cầm tay Trần Quốc Tuấn, trăng trối rằng: "Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được". Do An Sinh vương Trần Liễu lấy người chị của công chúa Lý Chiêu Hoàng là Thuận Thiên công chúa, còn Trần Cảnh cưới Lý Chiêu Hoàng khi bà mới 7 tuổi. Sau này Lý Chiêu Hoàng không có con nên năm 1237, Trần Thủ Độ bắt vợ của Trần Liễu lúc ấy có thai ba tháng về làm vợ Trần Cảnh (chị thay cho em). Chính vì lẽ đó mà Trần Liễu oán giận Trần Cảnh. Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.

Năm 4-5 tuổi, Trần Hưng Đạo theo cha là Khâm Minh Thái vương (tức Trần Liễu) đi Ái Châu, nơi giam cầm trọng tội. Trưởng công chúa Thụy Bà thương anh cả vô tội bị đầy, bèn năn nỉ em trai là Trần Thái Tông, xin nhận Trần Hưng Đạo làm con đem về Thăng Long nuôi dạy. Để tránh sự soi mói ghẻ lạnh của triều đình, Trần Hưng Đạo được trưởng công chúa Thụy Bà gửi tại chùa Phật Quang (làng Khúc Thủy, Cự Khê, Thanh Oai, Hà Nội) nhờ trụ trì chùa dạy dỗ cho tới năm lên 10[cần dẫn nguồn]. Sau đó ông được truyền đạt binh pháp và võ thuật để trở thành một dũng tướng giúp ích cho nước nhà.

---------- Post added at 12:30 PM ---------- Previous post was at 12:28 PM ----------
Cướp ngôi hay không 
Tượng Trần Quốc Tuấn ở Nam ĐịnhĐến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha trăng trối để dò ý hai thuộc tướng thân tín là Dã Tượng và Yết Kiêu. Hai người bẩm rằng: "Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi".

(Lấy từ tích cũ: Sở Chiêu Vương chạy loạn ra nước ngoài, có người làm thịt dê tên là Duyệt đi theo. Sau Sở Chiêu Vương trở về nước, ban thưởng cho Duyệt. Duyệt từ chối và nói: "Nhà vua mất nước, tôi không được giết dê, nay vua về nước, tôi lại được làm nghề giết dê, tước lộc thế là đủ còn thưởng gì nữa")


Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người. Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ vương Trần Quốc Hiến: "Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?"[4]

Hưng Vũ vương Trần Quốc Hiến thưa: "Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!"

Trần Quốc Tuấn ngẫm cho là phải. Lại một hôm Trần Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Trần Quốc Tảng tiến lên thưa: "Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ."

Trần Quốc Tuấn rút gươm mắng: "Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra" và định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha.

Sau đó, ông dặn Hưng Vũ vương: "Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng."

Năm Thiệu Bảo thứ 7, Ất Dậu, 1285, thế giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ nguyên (sông Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh ngày nay), sai người đưa thuyền ngự ra Ngọc Sơn (mũi biển thuộc châu Vạn Ninh, gần Móng Cái, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) để đánh lừa giặc.

Lúc ấy, xa giá nhà vua phiêu giạt, mà Trần Quốc Tuấn vốn có kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của An Sinh vương, nên có nhiều người nghi ngại. Trần Quốc Tuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậy không mà đi. Còn nhiều việc nữa, đại loại như thế.

Sử gia Ngô Sĩ Liên viết: "Bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm, tất phải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử, như hào cửu tứ của quẻ Tùy (xem Kinh Dịch) thì mới có thể giữ tròn danh dự, làm nên sự nghiệp. Nếu không thế thì nhất định sẽ mang tai họa. Quách Tử Nghi nhà Đường, Trần Quốc Tuấn nhà Trần đã làm được như vậy."

Quan hệ với Trần Quang KhảiTrước kia, Trần Thánh Tông thân đi đánh giặc, Trần Quang Khải theo hầu, ghế tể tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương bắc đến. Trần Thái Tông gọi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tới bảo: "Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm định lấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc."

Trần Quốc Tuấn thưa: "Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Thái sư theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Thượng tướng. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn."

Một hôm, Trần Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp tới, Trần Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Trần Quang Khải vốn sợ tắm gội, Trần Quốc Tuấn thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Trần Quang Khải: "Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm", rồi cởi áo Trần Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói: "Hôm nay được tắm cho Thượng tướng." Trần Quang Khải cũng nói: "Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho."

Trước đây, hai ông tuy một là Quốc công tiết chế, một là Thượng tướng thái sư nhưng do lo lắng về mối thù của Trần Liễu để lại mà có mối hiềm nghi xa cách. Sau khi được Trần Quốc Tuấn tắm cho, hai ông trở nên thân tình, tin tưởng nhau, tình nghĩa qua lại giữa hai ông ngày càng thêm mặn mà. Trong việc giúp đỡ nhà vua, hai ông đều đứng hàng đầu.

Lời tâm sự : Kính thưa anh chị em, mỗi khi thấy một thanh đồng bắc ghế hầu chầu đệ tam mà cung văn dâng văn lại trùng với thánh mẫu đệ tam, điều này làm bản thân Trí Minh băn khoăn lắm, có người giải thích ngài là ảnh của Đệ tam Thánh Mẫu, nhưng khi xem lại thần tích 3 vị thánh chầu còn lại thì thấy các ngài không trùng thần tích. Vậy chầu đệ tam là ai, ngài giáng sinh chưa, hiện nay thờ ở đâu, thần tích ra sao là một câu hỏi lớn. Lật tìm thần tích của các nữ thần trong số hàng nghìn bản thần tích thì thấy "Truyện người con gái Nam Xương" và thần tích đền Vũ Điện huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam là gần với thần tích thánh mâu đệ tam hơn cả. 
Có lý nào Vũ Điện Thần Nữ phu nhân Vũ Thị Thiết người con gái tiết hạnh và oan khuất phải trầm mình xuống dòng Hoàng Giang (tên gọi của sông Hồng) để thể hiện lòng trinh tiết, rồi cảm nỗi lòng đó ngài được về hầu cận chốn long cung. Có thể nào ngài chính là thánh chầu đệ Tam không với một nỗi oan gần giống như nỗi oan của Đệ Tam Thánh Mẫu.
Trí Minh không dám chắc nhưng xin cứ post lên đây để chúng ta cùng tham khảo, nếu anh chị em nào sư tầm được bản thần tích của vị nữ thần sông nước nào xin chia sẻ để cùng suy ngẫm về một vị thánh chầu nổi tiếng.

Người Việt có câu “Tháng Tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”. Cha là Vua cha Bát Hải hay Đức Thánh Cha Trần Hưng Đạo thì còn mơ hồ nhưng Mẹ chắc chắn là Mẫu Liễu. Đích xác Mẫu Liễu giáng thế từ năm nào tháng nào thì không ai nói được. Nhưng đến khoảng thế kỷ XVI thì tín ngưỡng Mẫu Liễu đã lan tỏa khắp Bắc bộ. Hai trung tâm thờ Mẫu Liễu lớn nhất miền Bắc là Phủ Tây Hồ Hà Nội và Phủ Giầy Nam Định. Trong thời phong kiến, Hội Phủ Giầy được tổ chức theo nghi thức quốc tế (mang tầm quốc gia), điều đó cho thấy sức ảnh hưởng mạnh mẽ của tín ngưỡng Mẫu Liễu trong đời sống tâm linh người Việt Bắc bộ. Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu tiêu biểu cho dạng thức thờ Mẫu ở miền Bắc: Mẫu Tam Phủ – Tứ Phủ.

Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh trong Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam [23] đi tìm cội nguồn của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh từ bước phát triển của Đạo Tam Phủ lên Đạo Tứ Phủ. Theo ông, khái quát hóa, trừu tượng hóa là con đường để tín ngưỡng phát triển lên thành tôn giáo. Tín ngưỡng Việt Nam trên con đường khái quát hóa, lại có xu hướng bổ sung tính sinh động, cụ thể. Đạo Tứ Phủ dường như là bước phát triển cao hơn của Đạo Tam phủ nhưng cũng chính là thao tác “gỡ” sự khái quát hóa đã được tạo dựng ở Đạo Tam Phủ: “ba vị (Mẫu Cửu Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải) vì được khái quát hóa từ vô vàn các bà Mẫu khác, lại trở nên trừu tượng và xa vời. Ba vị Mẫu ấy đã được đẩy lên cao và bắt đầu xa cách đời thường, giống như các thần linh của các tông giáo phổ quát. Vì vươn lên tính chất phổ quát cao hơn tín ngưỡng dân gian về các bà Mẫu cho nên Đạo Tam phủ đã không đáp ứng được một cách đầy đủ cho những ước vọng cụ thể và đa dạng của nhân dân. Người ta cần một bà Mẫu có tính chất phổ quát, tức là hiện diện ở khắp nơi, bảo hộ phù trợ cho nhân dân mọi địa phương, nhưng lại vẫn gắn với muôn mặt đời thường và gần gụi với mọi con người bình thường.” [23; 12]. Chính vì thế họ kéo Đạo Mẫu về gần hơn với đời sống của mình bằng linh tượng Mẫu Liễu, một nữ thần xuất thân từ xã hội loài người.

Ban đầu là “bộ ba quyền lực”: Mẫu Cửu Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải, cai trị ba cõi: cõi trời, cõi nước và cõi rừng. Nhưng tâm thức dân gian có ngưỡng vọng về các vị bao nhiêu thì vẫn cứ thấy xa vời dù đã cố công nhân vật hóa, truyền thuyết hóa Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và băn khoăn có nên đồng nhất Mẫu Liễu Hạnh với Mẫu Thượng Thiên hay không. Băn khoăn ấy còn in dấu trong truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Bà từ cõi thượng thiên giáng sinh xuống cõi địa. Thánh Mẫu Liễu Hạnh kéo gần cõi trời và cõi đất. Bà là vị Thánh Mẫu đảm nhiệm “hai vai”, hai cương vị: Thượng Thiên Thánh Mẫu và Địa Tiên Thánh Mẫu. Cùng với sự nhạt nhòa về một vị Thánh Mẫu trên chín tầng trời quá xa vời, Thánh Mẫu Liễu Hạnh ngày càng hiển hiện rõ rệt hơn trong vai trò của Địa tiên Thánh Mẫu, vị Thánh Mẫu của nhân gian. Dân gian đã tâm huyết biết bao nhiêu trong việc thêu dệt nên hành trạng của vị Thánh Mẫu này. Khiến sự ngưỡng vọng trở thành đặc biệt và đưa một vị Thánh Mẫu “sinh sau đẻ muộn” vào trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu và nâng bà lên vị trí tối cao của điện thờ thần. Dân gian chẳng chút băn khoăn khi tin tưởng rằng vị Thánh Mẫu bước ra từ dạ con của người mẹ nhân gian, mang dòng máu trần gian, không chỉ là vị Thánh Mẫu của cõi trần mà còn “là vị chúa cai quản mười phương đất, nàng với các Nữ thần cai quản rừng xanh và Nữ thần sông biển, không nhất định ở đâu cả.” [70; 538 - 539]. Liễu Hạnh hiện lên là một Thánh Mẫu đầu uy lực nhưng cũng rất công minh và nhân ái.

Và động lực để kéo thần linh trở về với cõi nhân gian phải là động lực mang tính thời đại, trong các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, chế độ phong kiến đi vào suy vi, triều chính thối luồng từ bên trong, nhân dân với thân phận con sâu cái kiến phải gánh chịu những nỗi thống khổ quá sức chịu đựng và trong những đầy ải của kiếp người, họ khao khát được giải phóng. Với nhu cầu được cứu khổ cứu nạn đã trở nên bức thiết, nhân dân không còn thỏa mãn với Vị Phật hay vị Bồ Tát vì càng lúc họ càng cảm thấy linh tượng ấy quá xa vời và nhạt nhòa, họ đòi hỏi một linh tượng mà cuộc đời và hành trạng gắn bó với chính đất nước mình, con người mình, ngự trên đất nước mình, đi mây về gió trên vùng trời của đất nước mình. Vị ấy vừa phải thật đời vừa quyền phép vô biên. Vì thế họ sáng tạo nên Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một Thánh Mẫu có nguồn gốc xuất thân cụ thể, một hành trạng biến hóa khôn lường, triều đình cũng phải nể sợ. Tục thờ Liễu Hạnh là một bộ phận không thể tách rời của tín ngưỡng thờ Nữ thần và Đạo Mẫu Việt Nam . Trong Đạo Tứ Phủ, bà ở vị trí trung tâm, các vị thánh khác có thần tích và mức độ linh ứng như thế nào thì cũng đều là hóa thân của Mẫu. Vì thế mà chúng ta cũng không ngạc nhiên khi Liễu Hạnh góp mặt trong bốn vị thánh bất tử của Việt Nam .

Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thờ với tư cách là Thần chủ của Đạo Mẫu và trên điện thờ tượng Mẫu Liễu được đặt ở vị trí trung tâm của Tam Tòa Thánh Mẫu. Mẫu Thượng Thiên ở giữa, hai bên là Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Mẫu Liễu được đồng nhất với Mẫu Thượng Thiên, ngồi giữa, mặc áo choàng đỏ, Mẫu Thượng Ngàn mặc áo choàng xanh còn Mẫu Thoải mặc áo choàng trắng. Các Mẫu có vẻ đẹp của “khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”, khuôn mặt phúc hậu và nụ cười hé nở trên môi. Đó là các gương mặt toát lên sự trìu mến, ban phát phúc lành.

Các trung tâm thờ Mẫu Liễu lớn đều gắn liền với các huyền thoại giáng trần của bà. Mẫu Liễu giáng trần lần thứ nhất ở Vụ Bản Nam Định. Ở đây có Phủ Giầy. Mẫu Liễu đi vân du lên Lạng Sơn, nơi đây cũng trở thành một trung tâm thờ Mẫu và tiêu biểu là đền Bắc Lệ. Mẫu Liễu gặp gỡ các văn nhân bên Hồ Tây, nơi đây có Phủ Tây Hồ. Mẫu Liễu giáng trần ở Thanh Hóa, nơi đây có đền Sòng.

Ở Phủ Giầy Nam Định (trung tâm thờ Mẫu lớn nhất miền Bắc), Liễu Hạnh được thờ ở Phủ Tiên Hương và Phủ Vân Cát. Hai phủ này bề thế với bốn lớp cung. Tam tòa Thánh Mẫu ngự ở lớp cung trong cùng gọi là cung đệ nhất (hậu cung, cung cấm), tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài bởi một hệ thống cửa ngăn với cung đệ nhị, ánh sáng mờ ảo. Các Mẫu ngồi xếp bằng, hai bàn tay đặt ngửa trên hai đầu gối. Tượng Liễu Hạnh vừa là tượng Mẫu, vừa có phong thái của nhà tu hành. Phủ Giày có vị trí đặc biệt quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu. Nơi đây có cả một quần thể di tích thờ Mẫu mà Mẫu Liễu là thần chủ, và còn có cả lăng Mẫu. Người hành hương đến Phủ Giầy đều tâm niệm trở về nơi bà đã sinh ra và cũng là nơi bà hóa. Phủ Giầy là quê hương của Mẫu Liễu.

Ở phủ Tây Hồ, nơi thờ Mẫu lớn nhất ở Hà Nội, sau ban Tam Tòa là hậu cung riêng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh: “tượng Mẫu Liễu được đặt trong hậu cung nơi thâm nghiêm, sâu và cao nhất. Tượng mặc áo đỏ, có khăn vàng vắt qua người, ngồi xếp bằng trong một khám thờ riêng được sơn son thếp vàng lộng lẫy với các hình chạm trổ lưỡng long chầu nhật và nhiều hoa văn khác. Phía sau đầu là vòng hào quang, tạo cho Mẫu Liễu có dáng vẻ uy nghi linh thiêng.” [12; 57]. Phủ Tây Hồ gắn liền với huyền thoại Thánh Mẫu Liễu Hạnh gặp gỡ và họa thơ với các văn sĩ Phùng Khắc Hoan và hai ông Ngô, Lý.

Ban thờ Mẫu ở đền Bắc Lệ Lạng Sơn thì có bốn pho tượng Mẫu, bốn Mẫu cai quản bốn phủ: Thiên phủ (miền trời), Địa phủ (miền nhân gian), Nhạc phủ (miền rừng), Thoải phủ (miền sông nước). Thánh Mẫu Liễu Hạnh là Mẫu Địa, cai quản miền nhân gian. Các Mẫu đội mũ có hình Mặt trời, chân ngồi xếp bằng, tay trái đặt trên đùi, tay phải giơ lên ngang bụng, ngón cái và hai ngón giữa nắm hờ, ngón trỏ và ngón út để thẳng, gương mặt nghiêm nghị. Lạng Sơn gắn liền với huyền thoại Thánh Mẫu Liễu Hạnh chờ đón Trạng Bùng Phùng Khắc Hoan ở nơi địa đầu của tổ quốc trên đường ông đi sứ Trung Quốc về, nhắc nhở ông lập đền ở đây. Ở Lạng Sơn thường phối tự thờ Mẫu theo kiểu “tiền Phật hậu Mẫu” (rước Mẫu vào thờ trong chùa). Riêng có Đền Bắc Lệ là đền thờ Mẫu, thờ tứ phủ công đồng (thờ tất cả các chư vị ở bốn miền vũ trụ) nhưng đặc biệt coi trọng các vị thần linh miền nhạc phủ (miền rừng núi) mà đứng đầu là Mẫu Thượng Ngàn (Bà Chúa Sơn Trang). Cô Bé Thượng Ngàn - Cô Bé Bắc Lệ (Chầu Bé) thay mặt thực hiện các ý đồ sáng tạo của Mẫu trở thành linh hồn của đền Bắc Lệ. Yếu tố địa phương đặc biệt nổi trội trong tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Lạng Sơn. Tuy nhiên yếu tố này không phá vỡ tính thống nhất tương đối trong quan niệm thờ Mẫu của người Việt.

“Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh” cũng là nơi thờ Mẫu Liễu. Tương truyền Mẫu Liễu đã linh báo cho các cụ nơi lập đền thờ: Một hôm có một lão già người làng Cổ Đam, sau khi được Nữ chúa Vân Hương nhập hồn và tuân theo lời khuyên của bà, ông lão lấy một chiếc gậy tre đem cắm xuống đất và truyền làm một ngôi đền thờ ở đó. Chiếc gậy được cắm xuống đất đột nhiên bén rễ và đâm chồi. Trước hiện tượng “màu nhiệm” này, dân làng bèn dựng ngay một ngôi đền theo mộng báo của nữ chúa. Những hàng trúc mọc sau đền mà ngày nay chúng ta vẫn được thấy gắn với huyền thoại Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã dựng quán bán hàng thuở trước. Nơi đây cũng gắn liền với huyền thoại Sòng Sơn đại chiến giữa Mẫu Liễu và phái Đạo Nội. Trong cuộc giao tranh bất phân thắng bại, phái này phải cầu tới Bát Bộ Kim Cang mới thắng được Mẫu Liễu. Quan Âm Bồ Tát đã giải cứu cho Liễu Hạnh và bà đã quy y Phật pháp. Ở Đền Sòng có ba cung liên tiếp. Cung đệ tam thờ hội đồng Thánh Quan, trong đó thờ các ông Hoàng và các Cô đệ tử, nổi bật là ông Hoàng Bơ (Ba), ông Hoàng Bảy. Tại cung này phối thờ cả Đức Thánh Trần Hưng Đạo Vương. Cung đệ nhị thờ Ngọc Hoàng ( Vua Cha của Thánh Mẫu Liễu Hạnh ) và các Quan. Cung đệ nhất là lớp trong cùng, có ba gian, gian giữa đặt tượng Mẫu Liễu Hạnh uy nghi trong khám sơn son thiếp vàng. Tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh mặc trang phục màu đỏ lộng lẫy, dáng ngồi uy nghi mà khoan dung độ lượng. Hai bên là hai đệ tử thân tín: Quế Nương, Nhị Nương, vốn là hai tiên nữ được Ngọc Hoàng cho theo hầu Tiên chúa trong lần giáng trần thứ 3; Quế Nương trong trang phục màu hồng, Nhị Nương trong trang phục màu xanh; Hai gian bên có tượng thờ Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn. Cung đệ nhất là nơi thâm nghiêm, ít khi được mở cửa trừ những ngày lễ rước Thánh Mẫu hàng năm vào tháng hai âm lịch.

Các điện thờ Mẫu ở tư gia, Tứ phủ công đồng thể hiện trên một ban thờ. Trên cùng có khi là Phật Bà nghìn mắt nghìn tay, sau đó đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh rồi đến hàng tứ vị chầu Bà, rồi đến hàng ông hoàng, hàng quan. Một tượng cô, một tượng cậu đặt hai bên ở dưới mặt đất. Dưới gầm điện là hang ông Hổ. Bên trên điện là hai ông rắn một trắng một xanh treo mình trên hai bên xà, châu đầu về giữa điện.

Và ngày nay, sự linh ứng của Thánh Mẫu Liễu Hạnh vẫn luôn được truyền tụng, dường như Bà vẫn luôn hiện diện trên cõi trần này và luôn ban những dấu hiệu để con cháu nhận biết được sự trở về của bà. Chẳng hạn, ở Đền Sòng, trước đền có một hồ nước tự nhiên hình bán nguyệt trong xanh gọi là hồ cá Thần, tương truyền rằng hàng năm cứ đến cữ Giêng, Hai có một đàn cá toàn thân màu đỏ lũ lượt kéo về bơi lội trong hồ, nhưng khi hết lễ hội Đền Sòng thì đàn cá tự nhiên không thấy nữa. Nhân dân quanh vùng nói rằng đó là các nàng tiên trên thượng giới hoá phép về hầu Tiên chúa Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Hay dân gian vẫn thường truyền tụng nhau, cầu tình duyên mà cầu ở Phủ Tây Hồ thì linh lắm.

Các trung tâm thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh đều rất đắc địa và có mối liên hệ sâu sắc với tiến trình lịch sử – xã hội của dân tộc Việt Nam. Đền Bắc Lệ ở Hữu Lũng, Lạng Sơn nằm trên đồi cao, dưới bóng những cây cổ thụ hàng trăm tuổi, là ngôi đền lớn trấn ở con đường huyết mạch Hà Nội – Lạng Sơn. Đền Sòng tọa lạc trên vùng gò đống hùng vĩ, kỳ thú ở địa phận tiếp giáp giữa Ninh Bình và Thanh Hóa. Bên này là Bắc bộ nối liền chân mây mặt đất, bên kia là Trung bộ chia cắt không gian một bên là núi thẳm, một phía là biển trời bao la. Phủ Tây Hồ nằm trên một doi đảo nhỏ được người xưa ví là “bãi đất cá vàng” nhô ra giữa mặt nước Hồ Tây lung linh, đúng thế “đầu rồng, thân rồng, rùa cõng”. Từ xưa Hồ Tây đã được coi là một thắng cảnh của kinh thành Thăng Long, nơi văn nhân mặc khách gặp gỡ, tao đàm và cũng là miền thiêng của Hà Thành với mật độ dày di tích thờ phụng. Phủ Giầy ở Vụ Bản, Nam Định tọa lạc trên một địa thế bằng phẳng, giao thông thuận tiện từ Bắc vào Nam , từ Nam ra Bắc.

Trong đó, Phủ Giầy là trung tâm một trong những trung tâm thờ Mẫu của Việt Nam và là trung tâm thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh lớn nhất cả nước. Đây vùng hạ lưu sông Hồng, được tạo nên từ quá trình biển lùi, sông bồi đắp, trong không gian văn hóa vùng châu thổ Sông Hồng thì Phủ Giầy – Vụ Bản thuộc vùng châu thổ trẻ. “Tản Viên Sơn thánh và Thánh Gióng là hai vị Thánh bất tử trong công cuộc chinh phục và khai thác vùng châu thổ cổ. Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh là hai vị Thánh bất tử trong công cuộc chinh phục và khai thác vùng châu thổ trẻ.” [45; 129]. Từ đây, Thánh Mẫu Liễu Hạnh trở lại trung tâm châu thổ cổ - kinh thành Thăng Long, rồi lên “trấn” ở biên giới phía Bắc đất nước: Lạng Sơn, sau đó vào trấn ở miền Nam đất nước: Thanh Hóa (về sau theo con đường Nam tiến, biên giới phía Nam của Việt Nam mới vào đến Mũi Cà Mau), không phải là trung tâm thì cũng đều là những nơi huyết mạch, xung yếu. Trong tâm thức dân tộc, tín ngưỡng Mẫu Liễu có một vị trí không thể thay thế, càng là nơi trung tâm hay những nơi xung yếu thì ở đó cần thiết lập trung tâm thờ Mẫu Liễu, vị Thánh đủ oai linh, vừa bảo vệ, ban phát vừa trừng phạt, tiễu trừ để bảo vệ nhân dân và giữ gìn cương thổ đất nước. Xưa kia việc đi lại của nhân dân hẳn gặp rất nhiều khó khăn, xảy nhà ra thất nghiệp, sự bảo trợ của chính quyền phong kiến thì có quá nhiều hạn chế, không có sự bảo hộ chắc chắn nào cho mỗi người dân thì họ tự bảo hộ cả về vật chất và tinh thần cho mình. Bởi với một hình tượng Thánh Mẫu khuyến thiện diệt ác đầy quyền uy thế, kẻ ác không dám bén mảng tới nơi thờ Mẫu mà người ngay thì tìm đến như đứa con sà vào lòng mẹ.

Mẫu Liễu vân du rộng khắp nhưng dừng chân ở Đèo Ngang. Bên kia là “lãnh địa” của Thiên Y A Na Thánh Mẫu và trên ngọn núi cao nhất Nam bộ, ở biên giới tiếp giáp giữa Việt Nam và Cămpuchia là nơi ngự của Linh Sơn Thánh Mẫu. Sau năm 1954, người Việt Bắc bộ vào Nam và mang theo Đạo Tứ Phủ. Tín ngưỡng thờ Mẫu theo dạng thức Đạo Tứ Phủ tồn tại cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu ở dạng thờ Nữ thần, Mẫu thần phổ biến ở Nam bộ. Là một thần chủ của Đạo Tứ phủ Bắc bộ, Thánh Mẫu Liễu Hạnh tiếp tục hành trình đi tới khắp mọi miền của đất nước. Sức sống mãnh liệt và sự lan tỏa của tín ngưỡng Mẫu Liễu khẳng định tín ngưỡng thờ Mẫu tồn tại như một hằng số tâm linh và vị Thánh Mẫu thần chủ, Liễu Hạnh, là Mẫu của các Mẫu, là sự kết tinh của tâm thức dân tộc trong suốt hành trình lịch sử nhọc nhằn mà vinh quang.

Qua việc tổng hợp các ý kiến về tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, chúng tôi cũng đồng quan điểm cho rằng tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một hiện tượng mang tính xã hội – lịch sử. Nó không phải là sự hình thành từ mưu đồ của cá nhân nào mà là sự đáp ứng đòi hỏi bức thiết của thời đại. Không phải là sự sao chép từ bất cứ tôn giáo nào. Hình tượng chúa Jesu bị đóng đinh trên cây Thập tự giá chịu tội cho loài người với vết thương nơi ngực trái vẫn luôn rỉ máu như khắc sâu vào tâm thức tín đồ về tinh thần quên mình vì người khác, như luôn vang lên những tiếng “hãy hy sinh”, “hãy quên bản thân mình đi”. Tín đồ Thiên Chúa giáo không bao giờ có thể hình dung khác đi về một vị Thánh tối cao, với họ, chỉ có sự khổ hạnh, chỉ có sự khắc khổ hằn trên nét mặt của vị Thánh mới làm cho vị Thánh ấy xứng đáng là vị Thánh. Còn với tín đồ Phật giáo, thì Phật Tổ, Bồ Tát của họ lại là biểu tượng cho tinh thần thoát tục, không vướng víu bụi trần. Trong tâm thức của tín đồ Phật Giáo thì hình ảnh tối thượng phải là hình ảnh bằng an, tĩnh lặng và vị Phật của họ luôn mỉm cười. Nhân dân ta không tạo dựng linh tượng tối cao của mình theo cả hai cách đó. Từ những yêu cầu cụ thể của thời đại với tính cách dân tộc “con giun xéo mãi phải quằn”, quần chúng sẽ không bao giờ vun đắp một linh tượng dạy người ta thái độ cam chịu. Đồng thời người Việt sợ nhất hoàn cảnh “chân không đến đất cật không đến giời” nên càng không hướng về một linh tượng đã cắt đứt mọi liên hệ với đời sống, đạt tới giải thoát. Linh tượng tối cao của người Việt là một vị thánh oai linh, vị thánh tác phúc và cũng tác họa. Đúng như Phạm Quỳnh Phương trong Theo bước chân của Vân Cát thần nữ nhận định: “Những lời truyền tụng dân gian trong khách hành hương về khả năng ban phúc giáng họa (làm cho gia súc chết hàng loạt, vật chết những kẻ dịnh trêu ghẹo, bỡn cợt…) đã tác động sâu sắc tới mỗi người. Có nhà nghiên cứu đã cho rằng nếu trong truyền thuyết không có những chi tiết như vậy, cũng như trong dân gian không có những câu chuyện truyền khẩu về sự tác oai tác phúc, thì tính thiêng của bà phải chăng cũng bị giảm đi phần nào, và các ngôi đền, phủ thờ bà cũng sẽ bớt đi lượng tín đồ?” [42; 52]. Làm thế nào để có một cuộc sống hạnh phúc, sống cho ra sống, sống thật hiển hách, rỡ ràng là tinh thần của Đạo Mẫu mà tiếng nói từ hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh chính là phát ngôn hùng hồn cho Đạo Sống của người Việt Nam.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.