bài viết trong chuyên mục "KY-SU-GOC-NHIN"

âm dương tổng luận bát trạch bát tự biểu phí bủa trú phù ấn phong thủy câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch tử bình tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn KY-SU-GOC-NHIN. Hiển thị tất cả bài đăng


Mộ còn gọi là mồ hay mả, là nơi chôn cất người chết theo phương thức địa táng (chôn xuống đất).Một số hình thức khác như hỏa táng (thiêu xác), thiên táng, huyền táng … thì không có khái niệm mộ

Đặc điểm mộ là một phương thức táng người đã khuất phổ biến toàn thế giới theo hình thức địa táng, mộ thường nằm tập trung ở các nghĩa trang hoặc nằm riêng lẻ, với xác người chết hoặc tro đốt xác chôn bên dưới. Mộ có cái có nhà mồ hoặc có quy mô bề thế hơn được gọi là lăng (từ này thường dùng để nơi cất giữ di hài của vua chúa và danh nhân).

Việc đặt mộ rất quan trọng. Cái họa phúc mà người xưa nói tới qua cụm từ “Nhất mộ nhì phòng tam bát tự” là nói về việc mộ đặt có được đất được hướng hay không chứ không phải nói về nhà ai đó có bàn thờ to hay bé, đặt chỗ nào trong căn hộ và hàng ngày thắp bao nhiêu nhang, giá trị đồ thờ lớn hay nhỏ.

Mộ là một đơn nguyên độc lập giữa đất trời. Theo cuộc đất và thời gian táng và ý định táng của chủ nhân mà xác định họa phúc cho lục thân trong huyết thống, Trưởng thứ theo đó mà thụ hưởng chứ không ai ban phát theo ý cá nhân được cả - Nó đã được khẳng định trong ý định từ khi an táng rồi, người biết thì phải làm từ công đoạn ấy. Muốn thay đổi thì phải cải táng hoặc bồi táng lại. Việc cải táng hay bồi táng lại phải căn cứ vào thực tế những biến động xấu xảy ra tới mức cần cân nhắc không chứ đừng tùy tiện. Trong khuôn viên một nghĩa trang. Mình táng theo hướng nào là do hiểu biết của mình mà chọn chứ đừng câu lệ phụ thuộc vào ai. Điều này nên cần người hiểu giúp đỡ nếu mình hiểu không đầy đủ.
Khi kiến phòng lập táng. Dưới góc độ nhỏ của phong thủy bàn về việc phân kim. Ý nghĩa hai chữ phân kỉm trong dương trạch, thiển ý của tôi cũng không quá phức tạp. Bởi một cung hướng dương trạch có độ số là 15 độ (nói hướng cũng như nói tọa). Nếu phân làm 5 kim (tả hai kim ; chính hướng một kim ; hữu hai kim ), mỗi kim có giới hạn ba độ. Muốn luận về lý khí - phải sắp xếp sao . Bởi nhẽ Loan đầu và lý khí không tương giao (khó chọn ). Nếu xảy ra điều đó, ta phải dùng thế tinh. Khi phải chọn thế tinh (độ lệch chính hướng >3 độ ) thì ý nghĩa của việc phân kim về hướng không còn giá trị lớn về mặt ứng dụng. Ở dương trạch, việc luận về phân kim chỉ còn đơn thuần là việc di dời phương vị mà thôi , nó giúp ta hiểu việc di dời hướng sang trái hoặc sang phải là có lợi – mà điều này luận sao là đủ rõ rồi.
Ỏ âm trạch thì có khác, (việc tìm chọn một chân long huyệt tạm gác chưa bàn tới ). Một ngôi mộ gồm hai phần cụ thể :
- Một là phần xương cốt được gói bọc và cất dấu trong lòng Địa Phủ
- Hai là phần bia mộ được thể hiện ở cõi dương gian. Đương nhiên phần bia mộ luôn đồng hướng với phần xương cốt được gói bọc và cất dấu dưới lòng đất rồi.
Việc xếp sao, luận lý khí như dương trạch, trong đó bao hàm cả ý nghĩa việc phân kim cũng rõ rồi, không cần bàn cãi. Vậy cái điều trăn trở khi lập mộ là gì ?
1) Việc phân kim trong kiến tạo mộ phần còn cần bàn tới là độ sâu nông?
a – Phân kim theo độ sâu nông của địa tầng (thổ nhưỡng )
b – Phân kim theo độ cao thấp của vật chầu chiếu vào huyệt mộ
2 ) Việc sử dụng thước Đinh Lan cổ vào kiến tạo mộ phần như thế nào ?
a– Vào việc xác định kích thước phần bia mộ. hay
b- Vào việc xác định kích thước cái hòm chứa đựng xương cốt (cái tiểu ), hay
c – Vào việc xác định , điều hòa độ sâu nông theo thổ nhưỡng và vật chầu chiếu huyệt mộ
3 ) Việc xác định sơn giới của ngôi mộ ?
Kiến giải tình lý cổ kim việc này có thể cần hàng ngàn trang sách chăng. Phong thủy – môn khoa học thực nghiệm lại chưa có chương nào hướng dẫn chúng ta kỹ năng thực hành cả. Chỉ có những người thầy có kiến thức tích lũy thôi.


Vào đầu năm 2004 khi Rằm tháng giêng vừa qua , lúc này tôi đang tư vấn cho một dự án Địa Ốc tại Sài Gòn , anh chủ đầu tư dự án giới thiệu cho tôi với anh D giám đốc công ty cầu đường . Sau khi đàm đạo , anh D tâm sự : mình đã đi xem nhiều THẦY trong nước và ngoài nước , các THẦY phán rằng : số mình không có con trai . Hiện tại thì mình đã có 2 cô con gái mà rất kỳ vọng có một cậu con trai nối dõi tông đường . Sau khi xem xong Bát Tự của hai vợ chồng anh D , tôi liền nói : anh cho tôi về xem xét các phương pháp rồi một tuần sau tôi sẽ trả lời phương cách giải quyết . Khi về nhà , tôi tính toán theo nhiều phương cách và đã có giải pháp . Tôi liền gọi điện thoại hẹn anh D ra gặp mặt rồi nói : muốn cầu quý tử nối dõi tông đường thì anh sẽ phải cải mộ ông Tam Đại qua một vùng đất khác có tinh thế hội , sa môn tụ theo thuật phong thủy thì anh sẽ có được một cậu con trai . Anh D nghe xong lặng lẽ suy nghĩ một lúc rồi nói : cho mình thời gian 1 tháng về họp mặt gia đình dòng họ rồi sẽ liên lạc .
Đúng một tháng sau , anh D gọi điện thoại cho tôi thông báo : dòng họ gia đình đã đồng ý thực hiện theo giải pháp của tôi . Thế là , tôi cùng anh D đi lên vùng cao nguyên của thành phố Gia Lai để đi tìm vùng đất có tinh thế sa môn hội tụ . Sau đi khảo cứu rất nhiều vùng đất , tôi đều không vừa ý . Tôi lại phải đi lại nhiều lần ở vùng Cao Nguyên này , tôi và anh D quyết định đi vào vùng đất có Mộc hình kết thế . Cuối cùng , đã chọn ra được vùng đất có Mộc hình kết thế nhưng đã có nhiều huyệt vị đặt để rồi vì vậy phải chọn một huyệt vị có chu vi tương đối rộng để lập ra trận đồ : Ngũ Long Đồng Thế và Thiên Môn Định Vận . Khi đã định huyệt thì vấn đề lập hướng bị phạm Thái Tuế Niên năm 2004 Giáp Thân , lúc này tôi phải sử dụng đến 72 Thiên Quan Địa Sát Âm Dương Vị pháp ra để áp dụng cho hoàn chỉnh cách bày bố trận đồ cho kỳ huyệt này khi phân kim . Tôi nhớ lại khẩu quyết :
Âm dương động cực nguyên sinh
Ngũ hành hợp quan linh hiện
Bát quái định tại kinh châm
Huyền quang tọa hòa chân long
Khi chọn ngày giờ cải táng thì lại phải tránh né THÁI TUẾ THẦN , lúc này mật pháp DI NIÊN THẦN lại phải đem ra áp dụng trong trường hợp này thì phần bày bố trận đồ phong thủy mới thật sự có hiệu quả được . Sau khi di quan , hạ quan , hàn long mạch và lập LỄ AN VỊ ÂM TRẠCH thì tôi nói với anh D : trong vòng hai năm kể từ ngày AN VỊ ÂM TRẠCH anh sẽ có tin vui .
Một thời gian trôi qua , anh D đã gọi điện thoại vui mừng nói với tôi : chị D đã có hỉ sự được 5 tháng và siêu âm ra con trai , trong thời gian thai nghén chị D bị thai hành khác hẳn với hai lần mang thai trước . Tôi liền nói : tôi chúc mừng anh chị nhưng vẫn phải chờ đến ngày mẹ tròn con vuông cho hoàn mãn .
Vào ngày Rằm mùa Xuân năm Bính Tuất , chị D đã sinh hạ ra một cậu con trai có đôi mắt sáng rực . Tôi liền lấy Bát Tự của cậu quý tử ra xem xét lá số tử vi để so sánh với thuật phong thủy đã bày bố .
BẢN MỆNH có các sao : phúc đức , thiên đức , thanh long ...
TÀI BẠCH có các sao : đào hoa , nguyệt đức , thiên y ...
QUAN LỘC có các sao : thiên thọ , thiên khôi , hóa lộc ...
THIÊN DI có các sao : văn xương , quốc ấn , hóa khoa ...
PHÚC ĐỨC có các sao : địa giải , thiên việt , tướng quân ...
Đây là một trường hợp bày bố thuật phong thủy âm trạch mà tôi và gia chủ may mắn nhận được kỳ duyên nhờ sự hộ trì của các cấp huyền vi .

Nhiều người muốn theo học môn phong thủy nhưng không biết tìm ai để học, không biết học từ đâu vì bây giờ sách viết, thông tin về môn này hiện nay có rất nhiều? Nếu bạn thực sự muốn học môn này tôi sẽ chia sẻ kinh nghiệm của tôi cho bạn vì tôi cũng là người tự học mà biết được.
- Trước hết cần tâm niệm: học môn này để cho biết, có thể dùng cho chính mình trong việc sắp xếp nhà ở, mộ ông bà, bố mẹ theo đúng phong thủy. Chứ không nên học môn này để đặt huyệt cho người khác nhằm kiếm tiền vì thực sự nếu đã thành tài thì chỉ cần đặt một vài huyệt cho gia đình mình là cũng đủ giàu có rồi.
- Có thể tham khảo các sách, trang mạng khác nhưng không nên tranh luận gây cãi cọ nhau vì mạng là ảo, người tranh luận với ta đâu biết khả năng của họ thế nào?
- Nên nắm vững nguyên lý chung khi xác định các yếu tố để định vị trí huyệt (điểm huyệt) vì các vùng đất kết đều có chung một nguyên lý xác định. Cái này người học phải tự tìm ra thì mới hiểu sâu sắc và khi đã nắm được thì nên giữ làm của riêng, không nên tiết lộ cho nhiều người biết để tránh rơi vào 2 vấn đề đầu tiên đã nêu trên.
- Học về Loan đầu trước (hình thế đất), sau đó hãy học đến Lý khí vì các bộ sách về phong thủy nói chung cũng sắp xếp theo trình tự này.
- Khi học không cần quan tâm đó là sách quý, rất quý,... mà người khác nói mà chỉ cần tìm được cái chung là đủ; tên thế đất để gọi cho hay và kêu chứ không thay đổi được gì cả.
- Về tài liệu tự học, người học nên học kỹ bộ sách sau (và chỉ nên học các bộ đó trước cũng đủ dùng, không nên đọc nhiều dễ bị loạn)
1. Bộ sách về Loan đầu: Bảo Ngọc thư của Việt Hải. Bộ này rất hay và rất cơ bản, có 3 tập.
2. Bộ sách về Lý khí: Phong thủy Huyền không trong kiến trúc và hiện đại.
Các sách này cũng có nhiều chỗ sai chứ không phải đúng hết, khi đọc cũng cần ghi nhớ và xâu chuỗi các chương với nhau. Nên đọc làm nhiều lần, lâu lâu đọc lại mới lĩnh hội được hết vì có những vấn đề không phải vừa đọc đã hiểu được ngay, tùy theo nhận thức của mỗi người.
Tôi chia sẻ những kinh nghiệm này mong muốn những người muốn học có được đường đi đúng đắn, nhanh gọn và đỡ tốn thời gian tìm kiếm. Và tôi không có ý định đi quảng bá bán sách cho bất kì cá nhân, tổ chức nào. Chỉ đơn giản thấy hay thì tôi chia sẻ nên ai có ý định đả kích, nói xấu thì xin miễn nhé!
Nếu các bài viết từ trước đến giờ của chúng tôi mà bạn thấy chấp nhận được thì hãy nghe theo lời khuyên của tôi, nếu không cũng chả cần quan tâm làm gì vì "vạn sự tùy duyên"!
Chúc những ai theo học môn Phong thủy sớm có những thành tựu để giúp ích cho chính bản thân mình!


Theo cách hiểu dân gian “trùng tang” là trường hợp người chết “phạm” phải năm hoặc tháng hoặc giờ xấu do đó linh hồn không siêu thoát nên cứ quanh quẩn trong nhà trở thành “trùng” (có khái niệm cho rằng là “âm binh”) rồi lần lượt “bắt” theo từng người thân trong dòng tộc.

Thực ra, từ trước tới nay, chưa bao giờ có một định nghĩa chính thống về “trùng tang” mà chỉ dựa trên hiện tượng rồi đúc kết thành quan niệm. Ngay cả, Phật pháp cũng không định nghĩa về hiện tượng này, mặc dù đây là “hồn cốt” của thế giới tâm linh. Theo cách hiểu dân gian “trùng tang” là trường hợp người chết “phạm” phải năm hoặc tháng hoặc giờ xấu do đó linh hồn không siêu thoát nên cứ quanh quẩn trong nhà trở thành “trùng” (có khái niệm cho rằng là “âm binh”) rồi lần lượt “bắt” theo từng người thân trong dòng tộc.

Nhưng phải trong 3 năm liền xảy ra liên tiếp những cái chết của những người trong cùng dòng tộc mới coi là “trùng tang”. Còn nếu không thì không phải. Có rất nhiều người nhầm lẫn điều này nên thấy trong gia tộc có nhiều người mất nhưng không phải trong 3 năm liên tiếp vẫn nhận là bị “trùng tang”.

Cách tính “trùng tang” theo “Phật pháp bách vấn” thì như thế này: Đối với những người tuổi thân, tý, thìn nếu mất vào một trong bất kể ngày hoặc tháng, năm, giờ tỵ thì coi là bị mất vào ngày trùng tang, còn được gọi là ngày “kiếp sát”. Tức là những tuổi đó “kỵ tỵ”. Mà đã ‘kỵ tỵ” thì những người tuổi thân, tý, thìn càng không được an táng vào ngày tỵ. Tương tự cách tính ấy, tuổi dần, tuất, ngọ kỵ hợi; tuổi tỵ, dậu, sửu kỵ dần; Hợi, mão, mùi kỵ thân. Tiện ích tính tự động trùng tang liên táng tại đây

Còn cách tính ngày trùng là chẳng hạn, ngày dần, tháng dần, năm dần, hay ngày thân, tháng thân, năm thân… cũng được gọi là ngày “trùng”. Ngày “trùng” này không tính riêng cho một tuổi nào mà bất kỳ người tuổi nào mất vào ngày “trùng” cũng “kỵ”.

Sách “Tam giáo chính hội” còn nói đến cách tính “trùng tang” cổ xưa là phải tính theo niên, nguyệt, nhật, thời (năm, tháng, ngày, giờ) thì mới biết người quá cố có “trùng tang” hay không. Theo cách tính đó thì những người mất ở tuổi (âm lịch): 10, 13, 16, 19, 22, (cứ cộng thêm 3) thì sẽ bị “trùng tang”. Hoặc những người tuổi tý, ngọ, mão, dậu nếu mất vào một trong các năm tuổi ấy, cũng coi là “trùng tang”…

“Lực siêu nhiên” hay tình cờ?
Tuy nhiên, việc “trùng tang” có thật hay không hay chỉ là sự ngẫu nhiên tình cờ?

Mặc dù là thế giới tâm linh đầy huyền bí và cũng có hẳn cách tính ngày “trùng tang” nhưng Phật giáo lại quan niệm về “trùng tang” như thế này: Sống chết là chuyện thường niên, do nghiệp lực của tự thân mỗi người chi phối. Sống và chết chỉ là hai hiện tượng trong tiến trình luân hồi bất tận. Nghiệp tuy có chung và riêng song nghiệp riêng vẫn giữ vai trò chủ động, quyết định, có tính cách độc lập, không ai có thể thay thế cho ai. Vì thế Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng tang, trùng nhật và hoàn toàn phủ nhận việc ngày giờ mất cũng như chôn cất của một người mà có thể ảnh hưởng đến sự sống chết của người khác…”.

Trên cơ sở khoa học, GS.VS Đào Vọng Đức, PGS.TS Hà Vĩnh Tân, những nhà vật lý thuộc Hội Vật lý Việt Nam cũng đã bỏ nhiều thời gian nghiên cứu về vấn đề này đã lý giải theo cách của mình.

Mà cách lý giải ấy rất giống với những kiến giải của cố GS Nguyễn Hoàng Phương - nhà vật lý học nổi tiếng - từng giải thích hiện tượng “trùng tang” theo lý thuyết sóng điện từ và trường năng lượng: “Trong mối quan hệ giữa người chết bị “trùng tang” và người bị “trùng bắt” không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số khác nhau nhiều nên theo lý thuyết về nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (tần số này là bội số của tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống”.

Còn TS Đỗ Kiên Cường, một người rất am hiểu về những khả năng tiềm ẩn của con người, về những cái gọi là “thế lực siêu nhiên”… đồng thời là tác giả của rất nhiều bài viết lý giải về vấn đề này dưới góc độ khoa học cho rằng: “Trùng tang” đơn giản chỉ là sự trùng hợp mang tính ngẫu nhiên. Trong đó, bản chất của sự trùng hợp là luật số lớn trong lý thuyết xác suất và thống kê. Định luật này đơn giản có thể hiểu là: “Với một mẫu xét đủ lớn, bất kỳ hiện tượng kỳ lạ nào cũng có thể xảy ra”.

Như vậy, với những cách giải thích trên đây, mặc dù chưa có cách giải thích nào có thể chứng minh theo kiểu “tai nghe mắt thấy” nhưng rõ ràng “trùng tang” chỉ là một quan niệm “siêu thực”, xuất phát và tồn tại trong tín ngưỡng, thế giới tâm linh của con người. Và khi đã tồn tại trong tín ngưỡng dân gian, thế giới tâm linh của con người thì nhận định như nhà văn hóa Trần Lâm Biền “cần gì phải biết đúng - sai; thực - hư mà cứ để nó như vậy. Duy chỉ có điều không được khoác lên nó, thêu dệt xung quanh nó màu sắc mê tín dị đoan”.

Còn cách “hóa giải” trùng tang như Phật giáo khuyên: “Vì là tập tục đã ăn sâu vào tâm thức mọi người nên trong tinh thần phương tiên, nhà chùa vẫn khuyên các Phật tử không an táng thân quyến vào những ngày trùng, nhằm giúp họ an tâm để chu toàn tang lễ đồng thời nỗ lực cầu nguyện, khai thị, làm phúc hồi hướng cho hương linh. Đây mới là những điều cần làm để “âm dương lưỡng lợi” theo quan điểm của Phật giáo”.

Còn để “trấn an” tinh thần của những người còn sống, dân gian có cách “giải” trùng tang là: dùng các vị thần sa, chu sa, sương luật, địa liền… cho vào một cái túi rồi đặt trong quan tài người chết. Hoặc có thể dùng bộ linh phù để gối đầu người đã khuất, dán lên ngực, hoặc lót dưới quan tài… Bộ linh phù này được biết ở chùa Hàm Long, Bắc Ninh có bộ ván in khắc phù giải đã có mấy trăm năm nay. Người dân có thể đến đây nhờ các sư thầy tư vấn mà không nên lập đàn tế lễ tốn kém, gây hoang mang cho người còn sống…

Theo Tùng An


Minh Thịnh là huyện lệnh của huyện Hiền. Ngày nọ ông tiếp nhận một vụ án oan, muốn vì dân thường mà xử lại, nhưng lại sợ thượng cấp không vừa ý, vì thế mà rất lưỡng lự. Trong số thuộc hạ có người tên là Môn Đấu, người này có một người bạn có công năng đặc dị, vì vậy Minh Thịnh bèn phái Môn Đấu đi thỉnh mời vị kia để đoán trước sự tình và chỉ cho cách làm thế nào mới tốt.


Môn Đấu tuân lệnh đến thỉnh mời. Vị kia nghe xong trang trọng trả lời: “Minh Thịnh huyện lệnh thân như cha mẹ của chúng dân trong huyện, thì nên xem xét dân chúng có bị oan hay không, hơn là dò xét thượng cấp có vừa ý hay không. Chẳng lẽ ông ấy đã quên câu chuyện của Lý Vệ tiên sinh năm xưa?”.

Môn Đấu trở về, bẩm báo lại đầu đuôi mọi sự. Minh Thịnh vừa nghe thì giật mình kinh sợ, nhớ lại xưa kia Lý Vệ tiên sinh đã từng kể cho ông ta một câu chuyện. Nhưng người này là người như thế nào mà lại biết được chuyện ấy? Thật là thần kỳ. Nhưng dù sao đi nữa, Minh Thịnh giờ đã biết cần xử lý vụ việc ra sao.

Trước khi trở thành quan Tri phủ, một lần Lý Vệ lên thuyền vượt sông, thì gặp một vị Đạo nhân. Để tiết kiệm chút tiền mọn, một hành khách đã tranh cãi với chủ thuyền. Đạo sỹ thở dài nói: “Đối với một kẻ sắp bị chết đuối, ông ta vẫn còn tranh cãi chỉ vì một chuyện tầm thường, thật là không đáng!”.

Lý Vệ nghe xong, lúc đó không hiểu Đạo sỹ nói lời ấy là có ý gì. Một lát sau, đột nhiên một cơn gió bắt đầu thổi mạnh trên sông. Vị hành khách kia không giữ được thăng bằng, bị ngã xuống nước và chết đuối. Lý Vệ giờ mới biết vị Đạo sỹ có năng lực siêu phàm.

Lúc đó, gió càng ngày càng mạnh, con thuyền chòng chành muốn lật. Đạo sỹ bước chân theo trận đồ, không ngừng niệm thần chú. Cơn cuồng phong rất nhanh chóng dừng lại, mọi người đều thoát nạn.

Lý Vệ hướng về Đạo sỹ bái ba bái tạ ơn cứu mạng. Đạo sỹ bèn nói: “Vừa rồi người kia chết đuối, là vì mệnh của ông ta đến đó đã tận, ta không thể cứu được. Ông là quý nhân, hôm nay gặp họa nhưng được giải cứu, cũng là trong mệnh đã định như vậy, ta không thể không cứu. Cho nên ông không cần cám ơn ta”.

Lý Vệ nghe xong, thụ giáo được rất nhiều, lại bái tạ và nói: “Nghe ngài dạy bảo, từ đầu tới cuối tôi đều được lợi ích. Từ nay về sau cả đời tôi sẽ an phận mà thủ mệnh”.

Ảnh minh họa

Đạo sỹ lại nói:

“Ông nói lời này không hoàn toàn là đúng. Một cá nhân đối với vinh nhục, thăng trầm, phú bần, đều không truy cầu thì người đó là đang an phận, tức là an mệnh, chính là thuận theo tự nhiên. Không an mệnh, tức là lừa đảo lẫn nhau, đấu đá với nhau, chuyện xấu gì cũng làm. Những việc như vậy thảy đều tạo nghiệp.

Ví như Lý Lâm Phủ, Tần Cối, bọn họ nếu có thể thủ mệnh, thuận theo tự nhiên, thì sau đều được làm Tể Tướng, bởi số mệnh đã định như thế. Nhưng bọn họ năm đó chỉ vì tranh giành địa vị Tể Tướng, mà bài trừ những người trái ý, dùng hết tâm kế mà hãm hại trung lương, đâu biết rằng dù có cố hay không thì sau này đều được làm Tể Tướng, vì thế chỉ là tự mình gia tăng ác nghiệp mà thôi.

Về phần quốc kế dân sinh lợi hay hại thế nào không thể nói mệnh; đối diện với trăm họ đang trong cảnh khốn cùng, oan ức, thì không thể để mặc như thế, nhưng cần tùy kỳ tự nhiên. Hết thảy những người phụ trách thì đều phải chịu trách nhiệm.

Gia Cát Khổng Minh từng nói: ‘Thần cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi, còn về việc thành hay bại, lợi hay không, thì thần không rõ, nhưng cũng có khả năng lường trước được!’. Chính là đạo lý ấy.

Trời Đất dưỡng dục nên nhân tài, quốc gia thiết đặt vị trí cho các cấp quan lại, mục đích là để ích nước lợi dân.

Thân là quan lại, nắm giữ quyền hành, mà bó tay ủy thác hết cho số mệnh, thì Trời Đất cần gì phải sinh ra những người tài như thế, quốc gia cần gì phải thiết lập quan lại như thế?
Cao nhân thánh hiền cần phải hiểu được Mệnh, đó chính là đạo lý chân thực, hy vọng ông có thể lĩnh hội được toàn diện”.

Đạo sỹ nói xong xuống thuyền, rồi liền biến mất sau đó.

Sưu Tầm


CHUYỆN HUYỀN BÍ KIM CỔ SƯU TẦM KỲ I: NHỮNG CHUYỆN MỒ MẢ ĐẤT CÁT.


1. ĐỘNG MỘ.
Phụ thân tôi thốt nhiên bị Thiên đầu thống ( đau nửa đầu đằng sau ) rất dữ dội. Thuốc ta, tầu, tây nhiều nhưng chẳng đỡ chút nào . Nhờ "Bói ra - Khoa thấy " , ông Thầy bảo phải xem lại ngôi mộ Tứ đại dòng họ ( tức phụ thân tôi gọi là ông nội ). Ngôi mộ này nằm ở Đống Hàng Đồng - HẢI DƯƠNG.
Xưa kia, Đống Hàng Đồng chơ vơ , nhưng rồi cụ Chánh Sỹ ( có con trai lớn là anh Quế cùng học một lớp với tôi ) đến lập ấp gần đó , trồng tre làm hàng rào sát cạnh Đống ấy. Lúc bới đất lên , rễ tre đã phủ kín cả tiểu sành và chui vào qua khe nắp đậy . Chúng tôi phải dỡ hết xương ra , rửa lại bằng nước Ngũ vị hương sau đó mới chôn lại . Rồi còn phải khơi một rãnh thực sâu giữa bờ tre và Đống Hàng Đồng , thường thường phải lên chăm nom , chặt hết rễ tre không cho vượt qua ranh giới nữa mới được yên , phụ thân tôi mới khỏi đau đầu .
Cùng một người ở làng Hàn chúng tôi , chừng 50 tuổi bị đau ngang ngực như có gì đè lên . Thày bói bảo rằng "Động mộ " ( mộ tức là mả tròn - Ta thường nói : Mồ tròn , Mả dài ). Và lạ quá, lúc bới hết đất lên , thì thấy cái nắp tiểu sành đã vỡ , những mảnh sành nằm nghiêng chọc xuống xương . Lau rửa xương cốt lại , thay tiểu khác , quả nhiên gia chủ hết đau.

2.HUNG TÁNG.
Và đây là một trường hợp hung táng ( tức là chưa hết cốt ). Ông Lý Cựu XYZ ở cạnh nhà tôi , trước cổng Nhà thương Hải Dương, cứ như bị dùi đâm vào đầu và các khớp xương . Lần này không phải Thày Pháp, cũng không phải   "Bói ra - Khoa thấy ", mà do Thày Địa lý ở Cổng Chông xem hộ . Thày ra mả, nhổ mấy cây cỏ về xem rễ , rồi đoán là " Mả động " . ( Xin nói thêm điều này : Người lớn kể rằng các Thày Địa lý thực tài giỏi , có thể xem rễ cỏ cây mọc trên mồ mả mà có thể biết được mồ mả đó có Kết hay không ? Nghe vậy xin thuật lại như vậy  ) .
Mở mả ra , nước đầy ăm ắp , phải lấy thau múc nước đổ vào rổ để lọc xương nhỏ . Nước cạn, thò tay xuống bới xương thì thấy nhung nhúc những cá Trê , và không rõ làm thế nào chúng chui được cả vào sọ , rồi không ra được , mà con nào con nấy đỏ như máu cả . Thực là ghê khiếp . Những cái túi bằng Đũi bọc hai bàn tay và hai bàn chân , cũng bị cá Trê chui vào nằm trong đó . Phải vét cho kỳ hết , lọc trên rổ , mới lấy được trọn vẹn cả bộ xương để " Cải táng ". Mả đó là mả bố Ông Lý Cựu XYZ . Sau khi đã " tắm rửa " sạch sẽ cho cụ cố bằng nước Ngũ vị hương và chôn trên  gò cao , ông Lý Cựu khỏi hẳn bệnh buốt óc và những đốt xương.
3. THẦN TRÙNG.
Anh Vệ Tạo ở làng tôi có bà mẹ chết chưa được bao lâu , thì anh bị đau nặng phải vào nằm ở Nhà thương Hải Dương . Một đêm đã khuya , thanh vắng tứ bề , anh vẫn thức mà nghe rõ ràng tiếng từ ngoài cửa phòng gọi vào : Tạo ! Tạo..
 Đúng tiếng mẹ anh rồi , sai sao được . Mẹ anh đâu còn sống mà gọi . Nhờ đã được các bậc già nua dặn kỹ từ trước là nếu đêm hôm khuya khoắt , có ai gọi , dù đích danh mình , cũng chớ mà có trả lời , kẻo ma nó bắt mất vía . ( Ở vùng Thương du , những người đi rừng cũng kiêng không gọi tên nhau , mà chỉ hú thôi để ma khỏi bắt mất vía ) . Tạo im lặng hoàn toàn để rồi mấy phút sau không thấy tiếng gọi nữa .
 Hôm sau, gia đình anh Tạo phải mời Thày Pháp về cúng trừ " Trùng " . Thày cho biết , nếu đêm qua Tạo lên tiếng thì " Trùng Thần nanh mỏ đỏ " đã thu vía anh để đem đi khảo đả cho đế khi Tạo chết , rồi nó lại đả vong mẫu anh phải đưa về bắt những người khác . Thầy Pháp chỉ cúng lễ , và Bùa phép trấn áp " Thần trùng " , một thời gian nào đó thôi , chứ không thể trừ diệt hẳn được nó . Gia đình anh Vệ Tạo còn phải đi thỉnh " Bùa ếm mả " nữa mới yên .
Thày Pháp danh tiếng làm  " Bùa ếm mả " , trừ mọi loại Trùng : Trùng tang, Trùng Khô kháo , dữ tợn nhất là  Trùng Thần nanh mỏ đỏ : Hai con chim xanh , mỏ đỏ như lửa , cứ con bay lên , con bổ xuống trên mả người bị trùng . Và mỗi lần nó bổ xuống là  từ lòng mả lại có tiếng rú lên như người bị kìm kẹp, tra tấn . Quán tại làng Giông _ Huyện Thanh Hà , bên kia cầu Phú Lương tỉnh Hải Dương chừng vài chục cây số . Chính gia đình chúng tôi phải cầu cứu đến Thày một lần. Tất cả Bùa chú được nhồi vào một ống tre bịt kín, phía dưới đẽo nhọn như đầu cái đòn sóc . Lựa buổi sáng tinh sương , âm thầm đem Bùa đó ra đóng bên mả thực sâu , lấp đất cho kỹ .Theo lời các bậc già cả , thì Bùa đó có công năng phi thường , làm Linh hồn bị mù đặc , không còn biết lối nào mà dẫn Thần trùng về bắt con cháu nữa .
4.TRÙNG KHÔ KHÁO.
Đây là chuyện có thực mà chính tôi có mặt tại chỗ . Từ ngày bà ngoại vợ tôi mất đi , ngành Trưởng họ Lê bị lục đục, đau ốm liên miên , gia súc chết, làm ăn hết sức lủng củng , như thế đã hơn 3 năm . Nhờ  "Bói ra - Khoa thấy ", nên phải rước Thày Phù thủy về cúng lễ , trừ ta, giải hạn cho . Thày Pháp cho biết là mả bà ngoại vợ tôi bì " Trùng Khô kháo " , cần phải mở để yểm Bùa trừ trùng . Nhưng làm sao  thầy biết được mà dám quyết đoán như thế ?
Quá giờ Tý một đêm thanh vắng và yên lặng hoàn toàn , chúng tôi mới ra mả . Trước khi Thày Pháp bắt tay vào công việc , mỗi người chúng tôi được ngậm một lá Bùa tết sẵn và đeo vào khuy áo trước ngực . Đâu đấy rồi Thày mới cho động thổ . Tay Thày luôn luôn bắt ấn, miệng niệm Thần chú . Lúc bắt đầu cậy nắp ván Thiên , Thày hét lên một tiếng thực to . Chúng tôi đều thấy rõ xác chết vẫn còn y nguyên như lúc mới nhập quan, chưa tiêu đi được chút nào, mà lạ lùng hơn là cũng không có mùi hôi thối . Thày Pháp đã ngậm sẵn một đạo Bùa ở miệng , cúi sát tận mặt xác chết , lấy dao cậy răng, nhả Bùa vào trong miệng xác khô , rồi yểm Linh phù trên xác và xung quanh . Một đạo Bùa được đặt từ ngực đến chân , sau đó mới đậy nắp và lấp đất . " Nhả hết Bùa ra, Trùng Khô kháo đã bị đánh bạt đi rồi , không còn phải sợ nữa " - Thầy Pháp bảo chúng tôi như vậy , rồi mọi người ra về . Từ sau đó ngành Trưởng họ lê lại làm ăn yên ổn như cũ .
5. MẢ KẾT.
Khu tích điền làng chúng tôi , hồi 1916 , được san bằng để xây dựng trường nam Tiểu học Pháp - Việt , cả cái nghĩa địa rộng có mấy nghìn ngôi mộ cũng được rời đi .
Người ta kể lại : Lúc hốt cốt , họ có gặp một ngôi mộ , mở nắp tiểu sành ra , thấy xương vẫn đầy ăm ắp , mà tơ hồng phủ kín đầy tiểu . Xương trong tiểu vẫn còn nguyên vẹn , không hư hao như là " được đất ".  Tơ hồng trên nắm xương nói trên , nhờ chỗ đất tốt mới có . Nó là thứ chỉ hồng từ trong xương mà sinh ra . Xương được tơ hồng phủ đầy là do mả tang đúng Long mạch . Mả như thế mà bị phá đi là tai họa đến ngay.
Đau khổ cho gia đình nào đó : Mả Kết mà bị phá như thế , con cháu , dòng họ nhà đó sẽ lụn bại không tránh được .
Trên đây là mấy câu chuyện phiền phức mà nắm xương trong lòng đất gây nên cho dòng họ , con cháu cùng huyết thống, chứng minh thực tế rõ ràng sợi dây liên lạc vô hình thiêng liêng không thể cãi được giữa người sống và người chết .
Nếu tìm được đất tốt, được Linh huyệt thì còn gì quý bằng . Nhưng việc đó đâu phải dễ dàng , phải dày Âm đức lắm mới được những " Đại Huyệt " , chả thế mà Cổ Đức đã từng răn dạy " Tiên tích đức - Hậu tầm Long " .
Còn nếu cả cuộc đời chỉ làm việc thất âm đức , mà cố đấm ăn xôi , cũng học đòi tìm đất cho con cháu làm công hầu khanh tướng thì đâu có được . Không khéo lại gặp Thày gà mở huyệt chẳng ngắm, ngắm hang rắn , nó cắn cho lụn bại dòng giống ác đức hại nhân .
Lúc này đây , khoa Địa lý gần như thất truyền , dù Thánh sư Tả Ao tái sinh đi nữa , dám chắc cũng chẳng làm nên chuyện gì tốt như nghìn xưa . ....
TRỌNG MẠC ĐẶNG KIM THANH - Báo KHHB.


ĐƠN GIẢN, DỄ LÀM

Không chỉ xưa mà nay, khi khởi sự những công việc quan trọng người ta thường cẩn trọng chọn ngày, kén giờ sao cho đúng vào giờ đẹp, ngày lành mới tiến hành để cầu mong sự tốt lành sẽ đến với con cháu, gia tộc nhưng việc chọn được ngày đẹp, không bị các sao xấu xâm phạm thì thật khó, mỗi tháng chỉ được vài ngày trong khi công việc lại cần kíp, không thể trì hoãn, nếu cứ câu nệ vào việc chọn ngày đẹp, giờ đẹp sẽ làm lỡ dở công việc, lỡ mất những vận may của mình, rồi thành sự nuối tiếc của bản thân và trở thành chuyện cợt nhả, mua vui của thiên hạ.
Hơn một lần chúng tôi đã lưu ý: Có thờ có thiêng có kiêng có lành nhưng cũng không nên quá câu nệ vào những kiêng kỵ mà làm lỡ dở công việc, lỡ mất vận may, trong khi công việc, nhất là vận may có khi chỉ đến một lần trong đời.

Vậy khi có việc cần kíp không thể trì hoãn mà gặp phải ngày – giờ xấu thì nên làm thế nào? Chẳng lẽ đợi tháng sau, năm sau mới tiến hành? Người viết lược soạn bốn (4) phép “hóa giải”, ngõ hầu giúp bạn đọc vẫn tiến hành công việc dù ngày giờ xấu nhưng kết quả cũng không đáng ngại.
Dùng cơ chế “chế sát”:
Đây là cách hóa giải kiểu lấy độc trị độc, tức là dùng quan hệ tương khắc của ngũ hành để chế sát sự hung hiểm của ngày xấu. Ví dụ: Ngày hung thuộc Thủy thì dùng giờ Thổ để hóa giải (Thổ khắc Thủy); ngày hung thuộc Hỏa thì dùng giờ Thủy để hóa giải (Thủy khắc Hỏa); ngày hung thuộc Mộc thì dùng giờ Kim để hóa giải (Kim khắc Mộc)……
Có người kỹ tính hơn còn căn cứ vào ngũ hành nạp âm của ngày, giờ để chế sát sự hung hiểm của ngày xấu. Ví dụ, ngày xấu là Ất Hợi (Sơn Đầu Hỏa – Lửa đỉnh núi) sẽ chọn giờ Bính Ngọ (Thiên Hà Thủy – Nước sông trời) để chế sát. Như thế, theo thiển nghĩ của người viết là khiên cưỡng, phi thực tế bởi trong một ngày có 24 giờ, ứng với 12 giờ trong lý số mà ngũ hành nạp âm thuộc lục thập hoa giáp được tính từ Giáp Tý (tuổi) đến Quý Hợi (tuổi) trọn đủ 1 vòng là 60 (năm) nên việc dùng nạp âm ngũ hành của giờ để chế sát hung hiểm của ngày (nạp âm ngũ hành) xấu là khó khả thi, có thể coi là không thực tế.
Dùng cơ chế “hóa Sinh”:
Đây là cách hóa giải dùng quan hệ tương sinh của ngũ hành để chế sát sự hung hiểm của ngày xấu. Ví dụ: Ngày xấu thuộc Kim thì dùng giờ Thổ để hóa giải (Thổ sinh Kim); ngày xấu thuộc Thủy thì dùng giờ Kim để hóa giải (Kim sinh Thuỷ); ngày xấu thuộc Hỏa thì dùng giờ Mộc để hóa giải (Mộc sinh Hỏa).
Tương tự như trường hợp dùng quan hệ tương khắc của ngũ hành để chế sát sự hung hiểm của ngày xấu, không ít người cũng căn cứ vào ngũ hành nạp âm của ngày, giờ để hóa giải. Cách làm này cũng khiên cưỡng, phi thực tế như trường hợp dùng cơ chế “chế sát”, người viết không nhắc lại, chỉ lưu ý bạn đọc: Khi xét ảnh hưởng qua lại (tốt xấu) trong các mối quan hệ của ngũ hành thì tùy từng trường hợp mà căn cứ vào đặc tính của ngũ hành hay lý tính của ngũ hành mà ứng dụng, nếu nhất nhất việc gì cũng lấy đặc tính của ngũ hành hoặc lý tính của ngũ hành mà ứng dụng sẽ có thể không những không hiệu quả mà còn phản tác dụng.
Dùng cơ chế “tị hòa”:
Đây là cách dùng quan hệ tương hòa (bình hòa) của ngũ hành để hóa giải sự hung hiểm của ngày xấu. Ví dụ: Ngày xấu thuộc Âm Mộc thì dùng giờ Dương Mộc để hóa giải; ngày xấu thuộc Âm Kim thì dùng giờ Dương Kim để hóa giải…..
Cũng như quy luật tương sinh hoặc tương khắc của ngũ hành, ở quy luật tương hòa của ngũ hành, bạn đọc cũng không thể bỏ qua quy luật Âm – Dương của ngũ hành.
Tính chất trong Âm (-) có Dương (+), trong Dương (+) có Âm (-), Âm (-) cực sinh Dương (+), Dương (+) cực sinh Âm (-) của dịch lý nên khi 2 hành tương hòa, nếu có một Âm (-) và một Dương (+) thì sự phù hợp và phù trợ nhau sẽ rất đắc lực.
Ví dụ: Dương Thổ và Âm Thổ, Dương Thủy và Âm Thủy, Dương Hỏa và Âm Hỏa, Dương Kim và Âm Kim, Dương Mộc và Âm Mộc.
Nhưng nếu 2 hành tương hòa đó cùng khí Âm (-) hoặc cùng khí Dương (+) thì sự hòa hợp đó trở thành vô nghĩa.
Ví dụ: Dương Thổ và Dương Thổ, Âm Thủy và Âm Thủy, Dương Mộc và Dương Mộc… Trong trường hợp này, sự tương hòa về đặc tính của các hành đó không tốt mà cũng không xấu.
Thay đổi người chủ trì:
Đây là cách “mượn tuổi” để hóa giải sự hung hiểm của ngày xấu. Người ta thường cậy nhờ bạn bè, người thân – những người hoặc thuộc tam hợp tuổi với gia chủ lại “được tuổi” cho việc sẽ khởi sự hoặc người “được tuổi” (âm lịch) cho việc sẽ chuẩn bị tiến hành, thay Mệnh chủ đứng ra làm chủ công việc để hóa giải sự hung hiểm của ngày xấu.
Ví dụ: Người tuổi Tỵ nếu không được tuổi làm nhà sẽ nhờ người thuộc tam hợp tuổi (Tỵ – Dậu – Sửu) với bản Mệnh của mình mà người đó lại “được tuổi” làm nhà sẽ đứng ra chủ trì công việc, ít nhất là đứng làm chủ lễ, bổ nhát cuốc đầu tiên khi động thổ hoặc đổ xô vữa đầu tiên khi đổ mái bằng. Nếu trong tam hợp tuổi, không có người “được tuổi” thì sẽ nhờ người nào đó “được tuổi” nhưng không xung khắc với bản Mệnh của mình, đứng ra làm chủ lễ, chủ trì công việc.
Lời kết:
Trong bốn phép “hóa giải” trên, theo thiển nghĩ của người viết, khi công việc cần kíp không thể trì hoãn được, bạn có thể dùng cơ chế “chế sát” là cách tốt nhất để hóa giải sự hung – sát của ngày xấu. Còn nếu vì lý do nào đó không chọn được giờ khắc với ngày xấu, lúc bấy giờ mới dùng cơ chế “hóa Sinh”, sau cùng mới đến dùng người khác thay Mệnh chủ hoặc dùng cơ chế “tị hòa” để hóa giải những hung họa của ngày xấu.
Sưu Tầm


Nhân vụ cụ Rùa hồ gươm tên thật là Linh Quy sống thọ 7 thế kỷ có Hộ khẩu thường trú tại HỒ HOÀN KIẾM-ĐỀN NGỌC SƠN-HÀ NỘI theo dân đồn ngày 19/1/2016 tức 10/12/2015-Ất Mùi cụ Rùa đã Quy Tiên trước thềm Đại hội Đảng CSVN XII gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước...ngay trong cộng đồng người Việt cũng có nhiều sự đồn đoán về điềm dữ hay lành ít nhiều có liên quan vấn đề Tâm linh!. Với vốn hiểu biết ít ỏi và còn hạn chế về vấn đề Tâm linh của mình, mượn lời người xưa nói : Con người ta sống ở đời có số... hay sống về mồ về mả- ai sống về cả bát cơm ! Ông cha người Việt cổ đã từng đúc kết môn xem Tướng-Số nói chung được cấu thành từ 9 môn tâm linh, trong đó xem Tướng có 4 môn: Tất cả những Thuật xem được Thầy xem tướng sử dụng bằng mắt nhin khi quan sát đối tượng là con người, đất đai, vật thể, trời, đất , sông núi.....Ví dụ xem Nhân tướng, Thần tướng, xem Thiên văn-Địa lý( Phong Thủy)....và xem Số có 5 môn là Thầy xem số chỉ sử dụng sự tính toán từ các thông số do đối tượng cần xem số cung cấp mà không cần nhìn thấy bằng mắt người cần xem (kể cả thầy bị mù cũng xem được), ví dụ như xem Tử vi, Tử bình, Kinh Dịch, các thuật Độn toán,....được tồn tại song song với những môn khoa học cổ khác như 2 mặt trong 1 vấn đề là Cuộc sống con người ! Ngày nay, do thất truyền và bị nhiều người không có số làm Thầy lợi dụng môn xem Tướng Số như 1 nghề kiếm sống-làm giầu nên môn xem tướng- số bị quy kết là Mê tín dị đoan-duy tâm ! Triết học duy vật biện chứng của Heghen và Mac đã từng viết: Vật chất quyết định ý thức ! Ví dụ: 1 đứa trẻ khi được 2- 3 tuổi đang tập nhìn, tập nghe và tập nói được người lớn chỉ các đồ vật và nói đây là quả Táo...đây là cái cốc, vài lần nhìn thấy và nghe nói thì đứa trẻ sẽ nhận thức được chính xác các đồ vật. Vậy môn xem Tướng đang bị quy kết là Duy Tâm thực chất là Duy vật khi mỗi con người từ khuôn mặt, dáng đi,...hay bầu trời ứng với mảnh đất nơi họ sinh sống đều có cấu tạo khác nhau chính là Vật chất đã quyết định ý thức trong đầu Thầy xem Tướng, trước khi thầy xem Tướng phán....được gọi chung môn Tướng-Số là xem ....Bói !!! Như vậy, theo học thuyết của Mác và Heghen thì môn xem Bói bị quy kết là Duy tâm chính là môn Duy vật bị Thất truyền !
Trước thềm Hội nghị cao cấp của CP và T.Ư đảng chúng ta nghe dân ta đồn các vị chính khách thường hay đi " tầm sư học đạo" tìm cho mình 1 vài Thầy tâm linh....giỏi nổi tiếng để Tư vấn về Chính trường....Người có Phúc nhớn thì may mắn tìm đúng Thầy giỏi, người không có Phúc phận thì tìm được Thầy hữu danh vô thực, người ít Phúc hơn thì tìm được Thầy không có số làm Thầy mà vẫn khoác lác phán như Thầy...Vịt bói nhầm phải Bói...bù !

Thời nay 1 số "thầy" nhất là các nhà Sư...không có số làm Thầy nhưng rất thích tự đọc sách về Tâm linh- xem Bói....mày mò tập xem bói như Tử vi, Tướng diện, ...cúng giải hạn cho hàng Vạn dân kiếm Tiền,... gọi môn Thiên văn- Địa lý là môn Phong thủy,....mà các "thầy" tự đọc sách vẫn không hề hiểu biết thật sự về Bản chất - điều thâm thúy và cái Nghiệp nguy hại của số làm Thầy nhất là các thầy Bói mò Lộ thiên cơ...thì bản thân "Thầy" và con cháu 4 - 7 đời của các Thầy tổn hại âm phúc dòng họ và bị Hạn khủng khiếp như thế nào....!! Ví dụ :
- Những ai, đã từng ở An Khánh-Hà Nội chắc biết "thầy" Lý sinh năm 1949 là cán bộ thú y của Trại lợn giống An Khánh...nhờ chép hộ sách xem Bói cho anh trai, thầy Lý thủ thêm 1 cuốn lúc rảnh tranh thủ đọc và tập xem Bói...không hiểu "thầy" Lý xem bói cho thiên hạ...rỏi thía ...nào (?) nhưng khi "thầy" Lý làm Phó ban dự án giải phóng mặt bằng..."thầy" Lý tự xem bói cho "thầy" đi bán đất láo bị công an bắt đi tù 21 tháng...sợ xanh mắt, ra tù chưa hoàn hồn "thầy" Lý lại xem Bói và phán như Thánh sống cũng nổi tiếng khắp vùng An Khánh...rồi "thầy" Lý vô tình gặp thầy D.là Pháp Sư ẩn dật( năm 1987 PS D. đã từng dùng Công năng Đặc dị chữa khỏi bệnh Tâm thần-Điên cho Giảng viên Violon Nguyễn Khắc Hoan là em trai Nguyễn Khắc Huề khi a.Hoan sn 1953 đang làm PhD chuyên ngành Violon tại Pháp, phát bệnh nên Pháp trả về VN...do giảng viên Piano Nhạc viện VN Tuyết-Minh nhờ PS D.cứu chữa), thầy D. có khuyên "thầy" Lý : "...anh không có số làm Thầy thì đừng phán lung tung lộ Thiên cơ là nguy hiểm đến tính mạng đấy,...mà tháng sau anh bị tai nạn giao thông, cố giữ mạng sống nhé...", đúng tháng sau "thầy" Lý bị ô tô đâm...chấn thương vùng gáy...nằm bệnh viện 6 tháng thì....qua đời !!
- Thầy cúng kiêm phong thủy khét tiếng Nguyễn Thắng Chuyên là Trung tá ở Z.115 tại xã Quyết Thắng-tp.Thái Nguyên đã nổi tiếng 25 năm chuyên xem Bói và cúng các kiểu cho các Đại gia và Quan chức lớn ở Hà Nội, năm 2010 có con gái Nguyễn Thu Thùy bị ốm nặng hơn 3 tháng đưa về Hà Nội nằm 4 bệnh viện lớn mà không phát hiện ra bệnh, thầy Chuyên đã nhờ thầy Vinh (nguyên chủ tịch xã Đình Bảng) đang cầm chịch cúng lễ hội Đền Đô và thầy Thiên hay Thiện(mù chữ) người Huế cùng lập đàn tràng 3 lần Cúng giải hạn cứu con gái mà bệnh càng nặng, thoi thóp gần chết (bệnh viện trả về) thầy Nguyễn Thắng Chuyên ( cùng hội và rất thân với Dị nhân đuổi mưa Tuấn Anh-nguyên G.Đ Trung tâm lý học Đông phương-tp.HCM) đành....bótay.com...may nhờ chị Hằng (nguyên cán bộ Viện nc Đông Nam Á) nhà ở cuối phố Triệu Việt Vương-Hà Nội thỉnh cầu được Pháp sư Dũng(ở Phương Mai-Hà Nội)...cứu sống Thu-Thùy con gái thầy Chuyên, sự kiện này làm chấn động toàn bộ giới Tâm linh tỉnh Thái-Nguyên và giới Tâm linh Việt-Nam nên sau này thầy nào ( kể cả Sư) cũng tự nhận mình là...Pháp Sư ( điều này các bạn cứ hỏi anh Hiệp sn 1964 là T.G.Đ khách sạn Dạ Lan Hương-Thái Nguyên sẽ rõ) !!!
- Vào những năm 2006, đang Sốt đất có hàng trăm vị Kiến trúc sư xưng danh thầy Phong thủy giỏi đi Cúng-Thiết kế- chỉ đạo xây dựng,... hàng trăm khu nhà chung cư cao tầng, biệt thự, nhà liền kề,..khắp VN là đẹp, hợp hướng, làm ăn phát lộc,..chuẩn phong thủy mà đến nay ê...sắc...ế...hàng vạn ngôi nhà đủ các loại !!
Nhân dịp năm mới, Tết con Khỉ 2016.... Tôi xin mạo muội hé lộ và phân tích-bình...loạn một chút về thuật Phong thủy đang bị các vị thầy Chùa và các thầy tự đọc sách xem bói...lợi dụng, tuyên truyền khi định hướng dư luận Sai là đầu năm Ai năng đi lễ chùa xin giải hạn và cầu cúng xin gì được nấy, làm ăn tốt cho cả năm....điều này đúng-sai ra sao ??
Xin thưa, các bạn trong Fb và trong xã hội người Việt trên khắp thế giới....Từ xa xưa các vị Vua chúa-Quan lại muốn mở mang bờ cõi hay lập một làng ấp mới bao giờ cũng đón rước một thầy Địa lý giỏi nổi tiếng (thường là chú Khách=>người Hoa) về khu đất sắp lập làng mới đó để xem xét, quan sát nhiều lần tìm Long mạch, chọn Long huyệt tốt nhất đặt Đình làng là nơi đất ấm rất tốt cho người dương( đang sống) hội họp, thờ thành hoàng làng, nơi đón Trạng nguyên hoặc những người đi thi (lều chõng) đỗ đạt...vinh quy về làng....và trước Đình làng luôn có một giếng nước trong vắt do mạch nước ngầm phun lên-không bao giờ cạn để dân làng có nước ăn...; nơi đất tốt thứ hai là nghĩa địa, có nhiều Tay long Tay phượng và long mạch nhỏ, long huyệt...để các gia đình có người chết mang ra nghĩa địa chôn thân nhân may ra có Phúc táng trúng Long huyệt sẽ được những ngôi mộ....Kết, giúp cho cả dòng họ đó phát mạnh, người phát khoa cử làm Quan, người phát kinh doanh làm giầu, dòng họ nhiều người trường Thọ sống lâu...; rồi Thầy địa lý-phong thủy sẽ phải xác định được vị trí đất Xấu nhất trong vùng đất mới có nhiều khí Âm độc và lạnh chỉ hợp với người Âm-đã Chết....nơi có nhiều Vong hồn lang thang hay tụ tập về đó quấy phá mà người dương không thể sống An lành ở đất đó được cho xây Chùa...và những người có số Kiếp đặc biệt như chết non, cao số vất vả đường chồng-vợ-con...hết Phúc, có số phận kém xa những người dân bình thường thì các Cụ hay khuyên đi tu....làm Sư (không lấy vợ hoặc không lấy chồng...) nhằm Tu nhân tích Đức tăng Phúc thọ, thay đổi phần nào số phận xấu và hàng ngày-đêm tụng kinh gõ mõ, cúng lễ hương khói tại Chùa ăn mày Phật thánh, chiêu dụ các Vong hồn (người âm hay...Ma) lang thang tập trung về chùa hưởng hương hoa lễ vật của Chùa không vào khu dân cư phá phách, dọa trẻ con,...! Từ việc xem Địa lý-Phong thủy khi lập Làng ấp xưa đã cho chúng ta thấy rất rõ một vấn đề về An sinh Bền vững là đất Chùa chỉ hợp với người Âm( đã chết-Ma) nên từ xa xưa đến nay ông cha-bố mẹ chúng ta vẫn có tục lệ là nhà có người sau khi chết hay mang Hài cốt lên chôn nhờ đất chùa-mang tro cốt hoặc di ảnh lên Chùa cho mát mẻ...chứ không ai được phép mang hài cốt hay di ảnh người chết lên Đình làng...!!! Như vậy, đất Đình là nơi linh thiêng-Vượng khí là nơi đất ấm tốt nhất trong một vùng-trong làng xã...còn đất Chùa là nơi đất lạnh, xấu nhất trong một vùng (chỉ hợp với người Âm-người chết)...nên từ xa xưa ông cha ta đầu năm bao giờ cũng ra Đình làng tụ hợp thắp hương khấn cầu trời đất...mưa thuận gió hòa rồi già trẻ-gái trai mang hơi Ấm từ Đình làng về nhà thắp hương cầu khấn Trời đất thánh thần phù hộ cho một năm mới An khang Tươi tốt....,....rồi sau đó những nhà có người chết gửi di ảnh-tro-hài cốt trên Chùa họ sẽ tản mạn lên Chùa thắp hương tưởng nhớ người thân đã mất...! Thời nay tuy nhiều người có học-có tri thức...nhưng Họ không có sự hiểu biết thật sự về Tâm linh...nên có một bộ phận người cứ đầu năm là kéo lên chùa nơi đất Xấu cúng lễ khấn khứa xin giải hạn....làm nhiều người a-dua kiểu bầy đàn nườm nượp đầu năm kéo nhau lên Chùa thắp hương nghi ngút cầu xin đủ....mọi thứ và bị Vong nhập vào từng người, mà Họ không hiểu rằng đầu năm đi các Chùa là Họ đã tự nguyện rước hàng đống Vong trên chùa mang về nhà...thờ phụng, mà Thờ thì dễ...giữ Lễ thì khó...Thờ cúng không liên tục như trên Chùa thì các Vong tự rước ở đất Chùa về lúc no lúc đói-lúc vui lúc buồn sẽ quấy phá gia chủ, người có Hạn nhẹ sẽ bị Hạn nặng hơn, người đang may mắn sẽ kém may mắn...tuy một số vị Cao tăng biết rõ điều này nhưng Họ lờ đi, khi Sư muốn chia sẻ bớt Vong cho các phật tử gánh Hạn đưa Vong về nhà quấy nhiễu gia chủ...., Sư lại muốn có nhiều Phật tử đến Chùa cúng lễ thì thu nhập tiền của Chùa càng cao, càng nhiều...Tiền tỷ...để Sư ăn chơi, rượu chè...cờ bạc...; như các Sư chùa Liên Phái (q.Hai Bà) - Hà Nội chuyên bán 500.000 đồng/1 tờ bùa và cúng lễ trấn yểm khi nhà nào có người chết đều mất 35- 40 triệu đồng mua Bùa nên cứ 10 nhà có người mới chết thì Sư chùa Liên-Phái xem Bói phán láo là 8 nhà có chết Trùng tang, trụ trì cờ bạc nợ chồng chất, trốn...! Các sư chùa Phúc Khánh-Hà Nội tháng Giêng hàng năm nhận ....Tiền cúng lễ giải Hạn cho hàng vạn người...giải hạn từ bệnh tật, ốm đau...nhưng khi các Sư bị Hạn ốm và bị ngã đau thì toàn chú em tôi là Lương y Vũ-Bình ở nhà A khu TT.quân đội Nam Đồng-Hà Nội vào chữa bệnh...Không công(khuyến mại) cho các Sư và các Sư ...ný nuận... là "Dao sắc không gọt được chuôi" để che đậy sự Cúng giải Hạn...Bịp cho hàng vạn dân Hà Nội !!
Nếu, các bạn chưa tin điều này thì các bạn cứ đọc kỹ vài lần rồi tự suy ngẫm sẽ hiểu rõ bản chất vấn đề Địa lý-Phong thủy đúng-sai ntn, tự rút ra bài học khi đầu năm mới có nên liên tục đi Chùa cúng cầu xin...đủ mọi thứ không(?)....cũng như tại sao khi Thầy xịn đặt mộ cho bất cứ ai, Thầy cũng nói rõ sau mấy năm thì mộ Kết hoặc Phát...đất ở mộ nở ra gây nứt mộ từ móng lên trên mộ, còn "thầy" đểu tự đọc sách xưng Thầy thì đặt Mộ cho thiên hạ sau 20-30 năm Vẫn Y Nguyên là...không thấy Mộ và đất ở Mộ thay đổi gì !! Đây cũng là điều vì sao đến nay mộ tướng Giáp đã chôn mà chưa xây...vì các "thầy" Phong thủy đang lo...đặt chưa chuẩn Long huyệt, các "thầy" Phong thủy vẫn đang nghe ngóng và ....đợi....(Vị, Chân Nhân Thánh Quan đang cắm mũi kiếm trấn địa và ngón tay chỉ Thiên...bắt quyết...đe giặc phương Bắc !!!).,.



Trò chuyện với tác giả:
-  Bác Dũng Quang Lương (dũng chân dài) này làm cho đồng bào thấy ni kỳ quá.....nhưng e nghe Lào đồn là bác cũng từng xem bói.....
- DQL: OK, mình chỉ chiêm tinh to nhất từ TBT trở xuống đến các NND ...thoai, từ năm 1990-1997 mình có nhận lời làm Cố vấn....cho 1-2 vị Bộ trưởng...thấy cũng....được( ...vấn đề này Được...như sư phụ Hà Minh Đức nguyên chủ nhiệm Khoa báo chí ĐH tổng hợp hay dùng từ ...Được...khi giảng dạy sinh viên khoa Văn và khoa Báo chí). Từ năm mình 11 tuổi đã được 1 vị Lang y người Việt gốc Hoa dạy 9 thuật bói toán và bắt phải luyện tập 1 môn Công phu rất đặc biệt để trở thành Pháp Sư với điều kiện trong thời gian luyện tập phải ăn, ở, ngủ như....Sư !! Mà mình chỉ nhăm nhăm học bốc thuốc chữa bệnh, vị Lang y gốc Trung Quốc nói : "Con có số làm Thầy cả 3 nghiệp là Thầy thuốc, thầy bói và thầy giáo....nếu học ngành Y mà con không giỏi các thuật xem bói thì chữa 10 người chết 6 vì thầy thuốc giỏi chỉ chữa đc bệnh chứ không chữa được mệnh....trời....người có số làm Thầy cứu người thì Phúc tăng đến 7 đời, người không có số làm thầy mà tự học rồi xem bói lộ Thiên cơ sẽ mất Phúc 4 - 7 đời con cháu bị điên, ung thư, chết non, tai nạn,....lụn bại !" nên sau đó tớ phải học kỹ các thuật xem Bói trước và song song Luyện tập môn Công phu cao nhất là môn Phật Bà Quan Âm...tọa sen 3 năm liền mà mới đạt Hỏa Hầu 70-75%, nên 1987 tớ đã chữa khỏi bệnh (điên) tâm thần cho Nhạc sỹ Violon Nguyễn Khắc Hoan ( nhà ở ngõ tự do-Trần Hưng Đạo-Hà Nội do chị Tuyết Minh giảng viên Piano đến nhờ tớ Cúng lễ xử lý nhà....cứu a.Hoan) là em trai Nguyễn Khắc Huề !... Đến năm 2010 tớ lại cứu sống Nguyễn Thu Thùy sinh năm 1984 là con gái đầu của "thầy" Bói kiêm thầy phù thủy Nguyễn Thắng Chuyên là Trung tá ở Z.115- Thái Nguyên thoi thóp sắp chết nằm bệnh viện ở Hà Nội gần 4 tháng không chẩn đoán ra bệnh mà thầy Chuyên đã cùng thầy Vinh ở Đình Bảng- Bắc Ninh(nguyên chủ tịch xã ĐB 10 năm liền)+ thầy Thiên(Thiện) ở Huế (mù chữ) và 6 thầy nổi tiếng VN và thêm 2 thầy Cúng 12 đèn vùng cao nữa, đã 3 lần lập Đàn Tràng cúng cứu con gái, càng cúng càng nặng....sau cú tớ cứu sống con gái thầy Chuyên thì Tớ đã gây shock- sửng sốt cho toàn bộ giới Tâm linh VN như năm 1987 tớ chữa khỏi bệnh (điên) tâm thần cho Nguyễn Khắc Hoan(rồi ẩn dật vì tớ mất nhiều tiền quá khi Cúng cứu Hoan),....sau cú cứu sống con gái thầy Chuyên ở xã Quyết Thắng- tp.Thái Nguyên thì ....tất cả các thầy hát Chầu văn, xe ôm kiêm thầy Cúng, các Sư ở chùa, thầy bói tự đọc sách đều tự nhận Họ là Pháp Sư....dù tớ không tin nhiều vào bói toán !!! ....và tớ cùng 1 nhóm PV cũng đồng tác giả viết bài " Ngoại cảm lừa....bịp", post lên mạng Vietlyso.com trong Chuyên mục các nhà ngoại cảm và tâm linh....lật tẩy trò lừa đảo của các nhà Ngoại cảm VN từ năm 1989- 2014 ! OK, see you again....!

- Vậy anh xem cho em có số làm thầy không ạ, người làm thầy phải là người như thế nào?!!!

- DQL: Người có số làm Thầy, nếu đã từng Tu tâm tập luyện môn Công phu đặc dị đạt đến 70% Hỏa Hầu trở lên sẽ có 1 điều lạ là Bản thân người đó như 1 cây Bùa sống, nếu người đó đi đến đâu hoặc thường xuyên đến chơi, nhất là ăn ở ngủ lại ở nhà ai ( như môn khách) dù nhà đất của người chủ đó dữ và nhiều Vong thì các Vong chạy sạch. Ví dụ: Có những nhà đất dân sinh sống có nhiều Vong dữ hay quấy cho trẻ con từ sơ sinh đến 5 tuổi, ngày ngủ- đêm thức từ 9g tối ---> 4g sáng quấy khóc quằn quặt, đã dùng đủ loại bùa chú trấn yểm, dao sắt của lò mổ, da hổ, móng rùa, nanh cọp,....sừng tê giác....để trong nhà, để đầu giường vẫn không có tác dụng....nhưng khi các vị Pháp Sư này có mặt ở nhà đất dữ nhiều Vong hồn người âm đó ( dù họ chưa Cúng lễ gì thì thì trẻ con đã ngủ rất ngoan) các Vong tự chạy....bán sới ra khỏi khu nhà đất đó ! Đây, cũng là 1 trong những điều để kiểm tra các thầy Bịp tự xưng....Họ là Pháp Sư, cũng là sự giải thích vì sao các gia đình Quan lại giầu có thời Phong kiến....đc cho là lạc hậu hay mời các Thầy địa lý, Pháp Sư ... đến ăn, ở, ngủ, nghỉ....sinh sống tại nhà các Quan lại làm Môn khách hàng năm trời là như vậy !!!! Vì hiện nay có nhiều xe ôm kiêm thầy cúng...bịp, mấy vị đi hát chầu văn, các thầy bói, các Sư ở các Chùa luôn luôn nhận nhằng- xập xí xập ngầu Họ là Pháp Sư. Vậy, muốn nhận biết Ai là Pháp Sư thì mọi người cứ quan sát ở đuôi 2 lông mày của bất kể Thầy nào khi thầy nhướng mắt lên sẽ thấy 2 gai xương(còn gọi là Sừng) mọc nhú lên đội lồi da ở đuôi lông mày, nếu thầy cho phép dùng 2 ngón tay sờ vào đuôi 2 Lông mày của Thầy ta sẽ thầy 2 mỏm gai xương nhọn (gọi là Sừng) mọc nhú trồi hẳn lên thì Thầy đó mới là Pháp Sư, như các Cụ xa xưa nói về Pháp Sư "Thầy này giỏi lắm đấy, thầy này thuộc loại có Sừng có mỏ...." là như vậy và PS chuyên Cúng ban đêm-không dùng ánh sáng !!!

(Còn nữa)


Thầy Địa Lý ( Phong Thủy Sư – Địa Sư ) mỗi khi đi tới một nơi nào đó để xem xét Phong Thủy, tất nên đề cao cảnh giác, đặc biệt những vùng đất thuộc vào hạng “Phong Thủy Bảo Địa” rất dễ dẫn đến Xung Phạm Địa Sư. 
Ngoài ra các vùng đất thuộc bại tuyệt đặc biệt, do âm khí, tà khí quá nặng hoặc có tà tinh dị linh nằm bên dưới cũng dễ xung sư phạm sư. Ba là các mộ mà chôn dưới đó là những người bị chết hung, chết dữ cũng dễ xung sư phạm sư. Bốn là khi bản thân Địa Sư thân thể bất ổn, tâm tình không yên lại gặp nơi tuyệt địa dễ xung phạm Địa Sư. Năm là dùng ngày xung sư phạm sư mệnh của Địa Sư, nếu là xung Nhật Trụ càng nên tránh thì hơn. Sáu là điểm huyệt phạm vào độ số xung sư phạm sư. Bảy là người chết có mệnh chủ không hợp với Thầy thành ra xung sư phạm sư. Tám là khi sắp ra khỏi cửa hoặc lúc ra mới ra khỏi cửa, gặp phải điềm hung hoặc vật không cát tường, cũng dễ xung phạm Địa Sư.
Ảnh minh họa: Phong thủy địa lý tổ sư Dương Cứu Bần Dương Quân Tùng
Xung phạm Địa Sư có một vài biểu hiện. Nhẹ nhất và trực tiếp là tại hiện trường La Kinh bị đảo lộn hướng chỉ của kim nam châm, hoặc bổng lên, chìm xuống ( Đây gọi là Kỳ Châm Bát Pháp ). Các biểu hiện lâu dài gồm : Một là bỗng nhiên họa đến, đại nạn giáng xuống đầu, bênh tai bất ngờ. Hai là mắt mù tai điếc, đầu óc không minh mẫn, bệnh nhanh khó lường. Ba là bệnh đến từ từ, chữa lâu không khỏi , lại không tìm ra nguyên nhân. Bốn là ảnh hưởng đến sức khỏe người trong nhà, nhà cửa ngày càng suy, bệnh tật không ngừng, hay phạm quan tư khẩu thiệt. Năm là tự mình và người nhà đột nhiên ăn nói hay suy nghĩ hay bất đồng, mặt mũi biểu hiện tình cảm kỳ quái. Đó là một số hiện tượng phát sinh sau khi xem xét âm trạch, đó chính từ căn nguyên xung sư phạm sư mà ra. Đã biết nguyên nhân như vậy ! Rất cần có các vật hộ thân, chống lại tà tinh dị linh, tà khí, sát khí. Các bảo vật hộ thân này thường do những người trải qua Tu Luyện Huyền Thuật, Mật Tông luyện thành bằng các Bí Pháp mật truyền. Nếu Địa Sư chưa từng trải qua Tu Luyện thì nên nhờ người có công phu tu luyện lâu dài giúp cho. Tuy nhiên bản thân cũng tu tập rèn luyện hoặc Khí Công, hoặc Thiền Quán để phòng hộ thân mình thì tốt hơn!
Cách phòng tránh :  Lập quẻ trước khi đi và nên biết chính xác địa chỉ nơi sắp đến để thỉnh cầu Chư Phật, Chư Thánh, Chư Thiên cùng Hương Linh gia tộc phù và quan trọng nhất phải có Linh Phù HỘ THÂN.
Linh phù hộ thân có nhiều loại :
1. Thần Phù NGŨ LÔI 
2. Thần Phù BÁT BỘ KIM CANG
3. Thần Phù KIM CANG PHẪN NỘ
4. Thần Phù CỬU THIÊN
5. Thần Phù Ông TỀ 
6. Thần Phù THÁI THƯỢNG 
7. Thần Phù DÒNG PHÁI ........
Tùy theo cơ duyên mà các THẦY sẽ tự trang bị Thần Phù HỘ THÂN.
Ngoài ra, khi đi xem Âm Phần về thì nên dụng các pháp giải trừ ám chướng, tà khí, âm khí ... ra khỏi cơ thể người THẦY vì ít nhiều gì thì cơ thể của các THẦY cũng sẽ bị cảm nhiễm một ít hay nhiều phần ... còn có trường hợp khi THẦY làm Âm Phần tốt cho hương linh A thì hương linh B lại ganh tỵ sanh lòng chọc phá hay thử tài của THẦY hay muốn THẦY siêu độ cho họ...!!!
 Riêng với nữ nhân cần chú ý 5 điểm sau: Không mặc phục trang lộ thân ( hở da thịt) nhiều. Không đến nơi mộ phần và nhà thờ khi trong chu kì kinh nguyệt. ( ngày nào trong chu kì đến nhà chung cư hay nhà 3 gian 5 gian có phòng thờ tầng trệt phải đi qua lửa 9 lần mới đc vào nhà gia chủ. Riêng ban thần tài thổ địa không bị kiêng vậy). Làm mộ phần và hành đại lễ kiêng sinh hoạt tình dục ngày đó. 2 ngày đầu tháng và ngày 15, 16 cũng kiêng shtd. Làm thầy phong thủy có tu theo Mật Tông nam nữ đều cấm ăn tiết canh, thịt chó, thịt mèo, cá chép, rùa, baba, cao hổ, rắn, trăn. Kiêng ăn các loại mắm tanh trước khi đi làm.
Theo tuvantuvi.net 


Trong đám mấy thầy nghiệp dư cũng có lắm kẻ ngọa hổ tàng long, mấy thầy hành nghề thứ thiệt nhiều khi không thể tưởng tượng được đâu, phải đợi khi họ ngứa nghề giở vài ngón ra mới biết họ thâm tàng bất lộ, không biết mà xem thường họ thì chả khác nào múa rìu qua mắt thợ vậy.
Hồi vừa rồi khoảng tiết Thanh Minh năm 1983 tôi (Liễu Vô Cư Sĩ) đi vân du Đài Trung, có quen một ông chủ tiệm tạp hóa khoảng chừng năm mươi tuổi đổ lại, đầu hơi hói, nhưng tinh thần rất sung mãn tráng kiện. Ông ấy mời tôi và bạn đồng hành uống Lão nhân trà, bộ ấm chén và dụng cụ pha trà không thật cầu kỳ nhưng lá trà thì tuyệt đối vào hàng thượng phẩm.
Ông chủ tiệm nhờ tôi xem mệnh cho đứa con đang học lớp 11 của ông ta, xem coi có vô nổi đại học hay không. Tôi lật qua lật lại xem thử lá số rồi bảo ông ấy rằng, nguyện vọng một không dám chắc, nguyện vọng hai thì OK. Ông chủ tiệm gật gù:” Tôi cũng thấy thế, nếu đã vậy thì đành phải xem tạo hóa của nó thôi.”
Hóa ra ông chủ tiệm này là dân chơi Tử Vi nghiệp dư, không chỉ học Đẩu Số 15 năm mà là mỗi ngày đều học, công phu cao cỡ nào thì ông ta cũng không rõ, theo một cao thủ ở địa phương để bái sư xin học, từ từ dần rồi cũng thông thạo môn Tử Vi Đẩu Số. Ông ấy tự xem cho mình biết rằng không phải mệnh phát tài cho nên dẹp luôn ý nghĩ kinh doanh hoành tráng, chỉ mở một tiệm tạp hóa nho nhỏ kiếm chút đồng vô đồng ra thôi, sống một cuộc sống nhẹ nhàng ung dung.
Tôi mới hỏi: “Tôi mới lộ ngón nghề ra chắc là múa rìu qua mắt thợ, thậm chí múa bút qua cửa nhà Khổng với anh, là vì tôi nghe người ta nói nền tảng Quốc học của anh khá lắm, sánh với Vương Vân Ngũ còn được.”
Ông chủ tiệm cười ha ha: “ Làm gì có, tôi dân ngu khu đen có biết gì đâu. Dù cho tôi có xem được lá số thì cũng phải tham khảo ý kiến người khác là điều tất nhiên, trí giả thiên lự tất hữu nhất thất mà, vả lại tôi cũng đâu phải trí giả.”
Thời điểm ấy cũng là lúc sắp tổ chức cuộc thi Trà dịp mùa xuân ở làng Trần Cốc, chúng tôi vừa uống danh trà vừa bàn luận về trà. Ông chủ tiệm có cậu em họ trồng trà Ô Long ở núi Đỉnh Đông, từng 3 lần đoạt giải Quán quân, cứ sau mỗi cuộc thi trà thì chú ấy xuống núi chơi vài ngày, nhân tiện xách theo vài cân trà thượng hảo hạng, có khi thì ông chủ tiệm cũng lái xe lên núi giúp chú em hái trà và đóng gói.


Vừa uống vừa trò chuyện, tôi lấy từ trong cuốn sổ ghi chép tùy thân ra một tờ lá số, mời ông chủ tiệm bàn sơ qua. Tôi nói: “Đứa bé này cha mẹ ly dị, người ta mới đem nó cho một gia đình khác nuôi dưỡng, nhưng tôi không nhìn thấy trên lá số dấu hiệu nào có 2 bố 2 mẹ cả.”
Ông ấy cầm tờ lá số xem kỹ, bỗng đầu lắc nguầy nguậy, nói: “Chú có lộn không đấy, thằng nhỏ này ngủm củ tỏi từ đời thưở nào rồi!”
“Ồ! có chuyện đó thật à?” Tôi vờ hỏi tiếp: “Nếu giả sử như nó ngủm rồi thì anh xem nó làm sao mà chết?”
Ông ấy ngẩng lên ngó tôi trợn mắt: “Đừng có làm bộ. Chuyện gì cũng có thể giả sử, nhưng chỉ có chết là không thể giả sử, bởi vì tôi chưa nghe qua chuyện người ta có thể chết 2 lần.”
Tôi nói: “Đương nhiên là đã ngủm rồi, anh đoán đúng đó, tôi từng cho nhiều người xem thì nhiều lắm chỉ coi ra có bệnh hoặc mổ năm 1982. Chỉ có anh đoán chết thôi đó, bởi vậy tôi mới phục anh.”
Ông chủ tiệm châm thêm trà cho tôi rồi nói: “Nếu tôi đoán không nhầm thì nhất định có liên quan đến máu huyết, nhất thời thì nghĩ chưa ra chuyện gì, hình như trong máu thiếu nguyên tố gì đó, hoặc là kết cấu của tim và cơ năng tạo máu có vấn đề, không thể vận hành lọc máu như người bình thường.”
Cái ông này may mà không ra hành nghề chứ nếu không thì mấy thầy chuyên nghiệp húp cháo hết quá!
Ông ấy nói không sai, chẳng những không sai mà còn rất đúng nữa, đứa bé này bị chết vì bệnh “bại huyết”, chết tháng tám nhuận năm 1983. Chỉ từ một trang giấy trắng mực đen mà thấy được thiên cơ thì quả đáng sợ, nếu chưa tận mắt thấy qua mà bảo người khác chắc họ chả tin đâu.
Theo Lộc mệnh pháp thông thường thì đương nhiên có thể xem ra là tử vong, với trình của tôi thì có lẽ chỉ có thể đoán ra nhất mệnh ô hô mà thôi chứ không thể xem ra nguyên nhân của bệnh; cho dù có nói là chết do hệ thống tuần hoàn thì cũng là không hoàn hảo.
Mệnh tọa Thái Dương hội Kình Đà, đúng tiêu chuẩn cách cục phá tướng hoặc bệnh tật liên miên, và cung can của đại hạn thứ nhất (trùng với cung Mệnh) làm cho Mệnh tinh sau khi hóa Kị làm cho hiện tượng càng nổi bật. Với mệnh kiểu này thông thường phải đi qua hết đại vận thứ nhất thì bố mẹ mới yên tâm. Chúng ta tiến thêm bước nữa suy luận, nếu tổ nhà không gieo đủ phước đức cho con cháu hoặc là cha mẹ cơ địa nhân tố không thực sự khỏe mạnh thì với mệnh cách này đứa bé dễ bị tử thần đoạt mạng.
Năm Quí Hợi Tham Lang hóa Kị, làm cho cung này trở thành cách cục “Kình Đà giáp Kị”, mà cung này là cung Tật Ách của bản mệnh, tức là đến năm Hợi thì cung Tật Ách sẽ hoàn toàn vỡ nát; Tham Lang sau khi hóa Kị thì cùng với Vũ Khúc tiên thiên Hóa Kị giáp vào cung Mệnh. Năm Quí Hợi đến cung Tật Ách, Kị của Tham Lang từ cung Tật dẫn khởi, trói lấy cung Mệnh, tầng tầng lớp lớp kị sát tinh làm cho cung Mệnh và cung Tật vô phương trốn thoát, muốn đưa tay cứu cũng không cứu nổi!
Cung lưu niên Tật Ách (Ngọ), cũng hội chiếu với Kình Đà, nguyên thủy cung này đã bị Hỏa Linh giáp, nhưng chỉ nội Hỏa Linh giáp và Kình Đà chiếu không thôi thì không nhất định mất mạng, nếu Tật Ách bản mệnh bị kị sát tinh vây khốn thì “cung Ngọ” sẽ rung, gia tăng thêm nguy cơ của cung Tật tiên thiên.
Năm này Đẩu Quân tại Dậu, tháng Giêng Giáp Dần, Thái Dương hóa Kị, tại cung Mệnh tiên thiên, cung Tật của lưu nguyệt, cung này vốn đã hội Kình Đà, cho nên phát bệnh vào tháng này. Cung Thìn vốn bị song Kị giáp, tới đây đột biết thành cách cục song Kị giáp Kị.
Chết ngày 8 tháng Giêng, lưu nhật cũng tiến vào cung Mệnh tiên thiên, ngày hôm đó can chi Kỷ Mão, Văn Khúc hóa Kị, hợp vào cung Mệnh. Nhưng Văn Khúc hóa Kị ở đây không phải là quan trọng hàng đầu, không cấu thành nguyên nhân tử vong chính; nguyên nhân tử vong chính là ngày hôm đó ở vào vị trí cung Mệnh tiên thiên, chúng tôi thống kê nhiều mệnh tử vong phát hiện bất kể là chết bất ngờ, hay thọ chung chính tẩm thường tắt thở ở lưu nhật trùng vào cung Mệnh, thật khó mà tưởng tượng lại như thế.
Tôi hỏi ông ấy” “Anh đoán mệnh chính xác thần kỳ thế thì ắt hẳn phài do sư phụ anh dạy phải không? Sư phụ anh có phải là dị nhân trên dương thế không?”
Ông chủ tiệm thần sắc nghiêm trang, nói: “Minh sư chỉ đạo học sinh chân chính sẽ không dạy bạn đoán mệnh như thế nào; ông ấy chỉ cho bạn biết những quan niệm, còn lại là bạn tự đi tìm tòi, suy nghĩ. Chỉ có sư phụ hạng bét mới đem hết thứ trong bụng ra cho học sinh. Thiền tông có một công án khá nổi tiếng, có thể minh họa cho quan điểm này của tôi. Công án này chép trong “Truyền Đăng Lục” quyển 11, trong “Tục Cao Tăng Truyện” cũng có.
Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn là đệ tử của Qui Sơn Linh Hựu (171-853). Qui Sơn biết Hương Nghiêm có tuệ căn, có một lần hỏi sư: “Ta không biết ngươi học được bao nhiêu trong kinh sách rồi; ta chỉ hỏi ngươi một câu: “Khi là bào thai chưa ra khỏi bụng mẹ, trước khi biết phân biện sự vật, cái gì là ngươi?”
Hương Nghiêm không biết trả lời ra sao, trầm tư suy nghĩ một hồi rồi nêu ra một loạt các giải đáp nhưng đều bị Qui Sơn lắc hết. Thế rồi sư bèn xin lão thiền sư cho điểm phá nghi nan của sư, Qui Sơn nói: “Ta có thể nói cho ngươi đáp án, nhưng đó là của ta, đối với ngươi vô ích.”
Hương Sơn trở về thiền phòng, lật hết các bút ký ghi chép mà vẫn không thể tìm ra một câu trả lời cho rốt ráo. Sư hết sức thất vọng bèn đốt sạch hết mọi bút ký ghi chép và rời bỏ Qui Sơn mà đi. Đi cho tới khi đến một ngôi miếu cũ, ở đó có ngôi mộ của vị thiền sư đời trước là Tuệ Trung, sư bèn tạm dừng chân trú lại, ngày ngày vẫn đắm chìm suy nghĩ về công án của Qui Sơn cho sư.
Có một hôm đương lúc nhổ cỏ, sư nhặt một viên sỏi và ném vụt đi, viên sỏi bay vào bụi tre kêu đánh “chát” một tiếng, thanh âm vang vọng này làm bừng tỉnh vô thức trong sư, cái cảm giác đó rõ rệt như là đã có trước lúc được sinh ra. Hoát nhiên trở nên khai lãng, sư vô cùng sung sướng, cảm tạ lão thiền sư năm nào đã không cho sư đáp án. Vì vậy sư viết một bài kệ để kỷ niệm, hai câu đầu là: Nhất kích vong ngã tri, cánh bất giả tu trị.
“Công án này rõ ràng chỉ ra, dạy là thứ đã chết, ngộ mới là thứ sống. Nếu chúng ta đều được thầy từng câu từng chữ chỉ dạy cho thì trên đời chắc không có Trạng nguyên. Tục ngữ có câu: “ Có học sinh Trạng nguyên, không có thầy giáo Trạng nguyên” , thầy đồ già của Tam Gia Thôn cả đời không làm Trạng nguyên, nhưng học sinh của ông thì có Trạng nguyên, mà ngược lại những học sinh chỉ nghe thầy dạy mà không tìm tòi suy nghĩ thì tối đa chỉ làm thầy đồ đệ nhị mà thôi. Nguyên lý của nó rõ ràng thế đấy.”
“Anh đoán bệnh chứng chính xác thế, chả lẽ cũng do ngộ ra ư?”
“Sai.” Ông chủ tiệm trả lời: “Là do xem sách và học hỏi bạn bè làm nghề Trung Y mà ra. Tôi xem hai cuốn “Thương Hàn Luận”, một cuốn “Kim Quĩ Yếu Lược” và một cuốn “Hoàng Đế Nội Kinh”, các mặt khác như nội ngoại phụ khoa đều có nghiên cứu chút đỉnh.”
2
Tôi nói: “Tôi còn có lá số của cha đứa bé, anh có muốn xem không? Con bị tử vong là chuyện hệ trọng khó quên đối với cha mẹ, trong lá số của cha tất nhiên phải có hiển hiện.”
Ông ấy nói: “Đó là chuyện nhỏ, chắc chú cũng xem ra cả mà.”
Tôi nói tôi xem không ra. Ông ấy cười nói: “Nếu chú không xem ra thì chắc trên đời này không ai xem ra.”
Ông ấy nói thế nhưng vẫn cầm lấy lá số, xem khoảng một phút thì ngẩng lên, dùng một giọng điệu rất chi là chuyên gia giải thích: “Nè, chú xem nhé, cung Tử Tức lưu niên bị Hóa Kị đại hạn xâm nhập, hội chiếu vào tiên thiên Kị tinh, Hóa Kị tinh lưu niên tiến nhập cung Tật Ách của cung Tử Tức, hoàn toàn tương ứng với cung Tật bị phá tan trong lá số của đứa bé vừa xem hồi nãy. Nhưng tôi cho rằng, cung Tử Tức tiên thiên gặp Kình Dương và cung Tật của cung Tử Tức hóa Kị là mấu chốt quan trọng. Với loại tổ hợp này, đứa con đầu luôn khó nuôi lớn, nếu là con trai thì càng hung. Năm Quí Hợi sẽ là ngòi nổ, nó làm sao Tham Lang bị phá, tương ứng với Mệnh tinh và chủ tinh cung Tật của cung Tử Tức đều bị phá, cho nên, đứa con nào sinh ra trước thời điểm này đến năm nay e rằng khó bình an vượt qua.”
“Nếu đứa bé này sinh sau 1984 thì lịch sử có lập lại không?” Tôi tiếp theo luôn: “Giả dụ như sinh sau năm Giáp Tý, lưu niên chỉ có năm 1983 mới gặp can Quí, nhưng lúc này đại hạn đã ở cung khác rồi, đứa trẻ sinh ra sẽ sống chứ?”
Ông chủ tiệm cười khà khà nói: “Chú nói làm tôi buồn cười quá đi, lão đệ à, chú tưởng tôi là Gregor Mendel (thủy tổ môn Di truyền học, phát hiện ra Định luật Mendel) chắc? Tôi không rành về di truyền học nhưng chỉ có thể nói rằng, con người là một dạng thể hữu cơ sống, mà thời gian thì vĩnh viễn không chuyển lùi, chúng ta không thể khiến chúng lập lại một lần nữa, bao gồm cả kết hôn và sinh con, bởi vì không thể quay trở lại được cho nên mọi giả thiết đều là dư thừa. Nhưng câu hỏi của cậu vẫn còn giá trị thảo luận. Đại hạn sau Văn Khúc hóa Kị, lại tiến nhập cung Tử Tức tiên thiên, cung Tử Tức đại hạn (Tý) hội hợp Hỏa Linh Không Kiếp Kị, cũng toàn là sát tinh, với kết cấu này thì con cái sinh ra muốn được bảo toàn thì chắc phải cầu xin Bà mụ nhiều lắm mới được.”
Theo tôi biết, đương số sau khi mất con thì buồn bã, lại thêm vào vợ chồng lục đục (có thể thấy điều này trên mệnh cách), không lâu sau thì li dị, đôi người đôi ngả. Cho nên những giả thiết hồi nãy là không bao giờ có thể xảy ra được nữa.
(Hết)
Thông tin lá số:
Em bé sinh ngày al 22 tháng 7 năm Nhâm Tuất giờ Thìn
Cha em bé sinh ngày al 20 tháng 4 năm Canh Thìn giờ Tị
Geek trích dịch từ cuốn "Tử Vi Luận Mệnh", tác giả Liễu Vô Cư Sĩ, NXB HeBan - Đài Loan, trang 89-96.
Bình luận của Liễu Vô ngay dưới lá số em bé:
Hỏa Lục Cục mệnh phải 6 tuổi mới vào đại hạn, từ điểm này trở về trước có người chủ trương dùng "Đồng hạn", phối hợp "Kim Tỏa Thiết Xà Quan" để sử dụng, có người cho rằng tạm thời không dùng đại hạn, đi theo lưu niên là được (phái tiều hạn thì đi theo tiểu hạn); tôi cho rằng cái sau hiệu suất chính xác có phần cao hơn.
Thái Dương tọa mệnh tại Thìn, cung vị xem như là vượng, nhưng có Kình Đà hội chiếu thì coi như bị phá để luận, mệnh đới tật diên niên, có diên niên được hay không phải xem phúc nhà có to không. Năm Quí Hợi Tham Lang hóa Kị, tiến nhập cung Tật Ách, cũng là lưu niên Mệnh cung, đều là đại kị, còn kị hơn nữa ở chỗ biến thành song Kị giáp mệnh, cho nên là vừa đới tật vừa không thể diên niên.
Năm Quí Hợi lại vừa ngay đi vô cung Tật,Hóa Kị tinh hóa xuất từ cung Tật, giáp chế luôn cung Mệnh, tạo thành tai hại mỗi lúc một ác liệt. Tham Lang hội chiếu Hỏa Linh, lưu niên thành cách đáng lẽ phải được cứu, ai dè cung Hợi bị Kình Đà giáp, năm Quí Hợi bỗng nhiên trở thành Kình Đà giáp Kị, thế là hết thuốc chữa.
----------------
Và cách tính Hạn của cao thủ tiệm tạp hóa này cũng có điểm đặc biệt (trong trường hợp Liễu Vô không tung hỏa mù giấu nghề hoặc không nói rõ ông chủ tiệm tạp hóa có cách chơi đặc sắc riêng).

* Xem cách tính đại hạn và phi hóa của ông chủ tiệm thì trên lá số chưa nhập vận của đứa bé thì tính đại vận đầu tiên ngay tại cung Mệnh, nhưng trên lá số của cha đứa bé thì cách dùng từ "cung Tử Tức lưu niên bị hóa Kị đại hạn xâm nhập" có lẽ ám chỉ về cung Lưu Tử Tức (tính theo L.Thái Tuế) năm Hợi sẽ ở Thân, bị can Canh khiến Thái Âm hóa Kị xâm nhập, ở cung Thân khỉ này mới hội chiếu về Hóa Kị gốc (ông ta gọi là Kị tinh tiên thiên) - như vậy là đại hạn có khởi trước Mệnh 1 cung (bắt đầu từ cung Phụ Mẫu, đến năm 44 tuổi thì thuộc đại hạn 36-45 trên cung Thìn).
Dùng từ "hội chiếu" chứ không phải dùng từ "ám hợp" hay "hợp vào" nên tôi cho rằng không phải là trường hợp can Kỷ của Đại Hạn trên cung Mão khiến Văn Khúc hóa Kị rồi hợp vào Hóa Kị gốc ở cung Thìn.
Như vậy cũng biết ông chủ tiệm tạp hóa này chơi can Canh thì Thái Âm hóa Kị.
* Xem cách tính Nguyệt hạn và Nhật hạn trên lá số đứa bé, thì thấy mặc dù nói Tháng Giêng Giáp Dần, nhưng khi tính Nhật Hạn thì ông ta vẫn tính ngày mồng 1 bắt đầu từ Đẩu Quân ở Dậu, nên ngày mồng 8 tháng Giêng thì mới nhập vào cung Thìn ở ngay trên Mệnh gốc (ông ta gọi là cung Mệnh tiên thiên).
Như vậy là tính Nguyệt hạn vẫn theo Đẩu Quân.
* Lại nói đến lá số người cha đứa bé, ông ta nói "Hóa Kị tinh lưu niên tiến nhập cung Tật Ách của cung Tử Tức" có lẽ đã chơi đến tổ hợp chồng chập 2 lần phép lưu cung.
Thứ nhất, cung Lưu Tử Tức của Tiểu hạn năm Hợi ở tại cung Dần, và thứ hai là cung Tật Ách của cung Lưu Tử Tức này chính là ở cung Dậu, ngay tại cung Tử Tức gốc, năm Quý nên Tham Lang hóa Kị.

Sưu Tầm


Nhà tọa Tý hướng Ngọ, 182.5 độ, xây và vào ở năm 1958, vận 5.

Chồng sinh năm 1921 – Tân dậu, Vợ sinh năm 1923 – Quý hợi.


Mảnh đất này tọa lạc tại một vùng quê thuần nông. Người dân ở đây nghèo lắm, quanh năm cấy hái cầy bừa, sống nhờ vào mấy vụ ngô khoai, ăn còn không đủ nói chi tới học hành khoa bảng.

Vào thời điểm giáp hạt, “tháng ba ngày tám” thì thôi rồi, có khi gần cả làng đứt bữa phải ăn cơm độn với ngô khoai thái nhỏ phơi khô, có khi phải ăn trừ bữa, nhà ai có bát cơm trắng là đã khá giả lắm rồi. Những năm 85 trở về trước, nhìn cả làng chỉ thấy vài nóc nhà ngói, phần còn lại đều là nhà tranh vách đất, khá hơn chút thì có nhà trình tường mái rơm, mái rạ. Những ngày mưa bão thì sợ lắm, khi bão về với gió giật cấp 8, cấp 9 là cả làng đã nhốn nháo, nhà nào nhà nấy tất bật chèn chắn nhà cửa phòng bão, nếu mà gió giật cấp 12 thì đa phần nhà tốc mái, không thì cũng dột nát tả tơi. Ấy vậy mà vẫn có một gia đình chỉ với hai vợ chồng làm ruộng mà nuôi được 5 người con học hành. Con cái nổi tiếng hiếu học một vùng. Ba người con trai học hết đại học, hai người con gái học trung cấp. Nhà không giàu có nhưng vẫn cơm no áo ấm. Cụ ông sống thọ gần 90 tuổi, cụ mới mất cách đây vài năm, cụ bà mất trước nhưng cũng thọ 83 tuổi.

Năm 1958, vào khoảng trưa mùa hè, khi gia đình đang chuẩn bị vật liệu để xây nhà, bỗng dưng có một ông Lão trạc tuổi lục tuần, mặc bộ nâu sòng, quần sắn móng lợn, đi chân đất, tay cầm chiếc gậy tre ngà vào xin bát nước, uống cho thỏa cơn khát sau nhiều tiếng bộ hành. Nhìn cụ quắc thước lắm. Mắt sáng tinh anh, giọng nói rất từ tốn và trầm ấm, da dẻ tuy dám nắng nhưng rất “giòn” chứng tỏ là người luôn lội ruộng, thăm đồng. Chủ nhà thấy ông Lão vào chơi vốn lại có tính hiếu khách nên đon đả mời nước và ngồi cùng hầu chuyện.

Ông Lão nhâm nhi bát nước chà xanh, miệng tấm tắc khen ngon. Trong khi ngồi nói chuyện với gia chủ, cặp mắt ông Lão vẫn không quên đảo quanh khu đất, dường như đang toan tính một điều gì đó. Đột nhiên ông Lão đứng phắt dậy, từ từ đi vòng vòng quanh khu đất một lượt rồi quay lại chiếc chõng tre đặt cạnh gốc mít già, nơi có chiếc tay nải mang đi đường. Ông Lão mở nải ra, lấy chiếc La kinh cũ kỹ, mặt la kinh bóng loáng, có thể soi gương được. Lão tiến lại một điểm trong khu đất rồi đưa la kinh lên, từ từ xoay mặt La kinh, ngắm nghía bốn phương tám hướng, khuôn mặt rất suy tư. Sau một hồi xem xét, Lão lấy một chiếc gậy tre to độ bằng ngón tay cái, dài khoảng 50 cm, cẩn thận cắm xuống đất. Lúc này gia chủ vẫn không hiểu điều gì đang diễn ra thì ông Lão nói, đây là tâm nhà, tôi cắm cho anh chị, nhà có phúc lắm, rồi Lão hướng về phía trước dặn gia chủ: tâm đặt đây, hướng thế này thế này,… cùng lúc Lão đưa tay chỉ về phía trước nơi sau này là hướng nhà ngó về đó. Gia chủ rất vui mừng cảm tạ ông Lão. Ông Lão nở nụ cười hiền hậu, từ biệt gia chủ rồi ra đi...



Thuật cầu đảo, cầu cho quốc thái dân an hoặc cầu mưa cho đất nước, cho một vùng thời xưa chẳng phải là hiếm. Nhưng người chủ lễ là Vua làm cho toàn dân, là Quan làm cho một vùng mình cai quản. Phép cầu đảo là phải chọn ngày lành, giờ tốt, lập đàn cúng tế linh đình, cái này phải theo nghi thức đàng hoàng. Nếu không phải là Vua, thì người chủ tế, người đứng ra làm lễ cầu đảo phải là người có đức độ, được nhân dân kính trọng, đâu phải ai cũng làm được, mà cũng đâu phải ai cũng “trèo được lên cái đàn tế” ấy. Trong truyện Tây du ký ta có thấy một đoạn nói về cầu mưa. Thầy trò Đường tăng đi lấy kinh gặp nơi khô hạn, dân tình đói rét, gặp quan phủ thì quan bảo đã làm hết cách rồi, cầu hết rồi mà chẳng có mưa. Tôn Ngộ Không sau đã biết là do ông quan này làm việc sai trái, nên bị trời trách phạt (đại loại thế), do đó ông ta có cầu cũng không ứng. Trong Thái Ất hình như cũng có nói rằng “Vận xấu thì cầu đảo tất qua”.


Ảnh minh họa: Thiên Phù

Thực chất của việc cầu đảo là dùng năng lượng ý chí, năng lượng tinh thần của người “Đức độ”, kết hợp với năng lượng ý chí toàn dân, giống như (hò dô ta kéo pháo) ấy, một người liệu làm có đặng? phải có hợp sức thì mới mạnh, mới cảm ứng, mới thông được tới “Thần minh”, “có cầu tất ứng”, hay “sở cầu tất ứng, sở nguyện tất thông” là thế. Vẽ vời mấy thứ, lễ lạt linh đình, cốt là cái mồi để dẫn dắt ý chí hướng tới một mục đích, năng lượng hướng về một việc mà sức mạnh được nêng lên. Như trong truyện huyền bí ở Tây tạng, các sư ngồi niệm chú mà đá bay từ dưới đất lên hang động trên cao (Cái này mình nghe thôi, chưa biết thực hư).  Thuật cầu đảo là dùng sức mạnh ý chí, tinh thần. Như kinh sách có nói: “Thiên động thì nhân ứng, nhân động thì thiên ứng, địa động thì thiên liền ứng theo”. Đó là nói rằng nếu có một cái động, tất thiên địa nhân ứng hòa theo. Bởi vậy xưa kia nhìn thiên tượng mà biết có biến, nhìn nhân vật mà biết họa phúc, …

Ảnh minh họa

Sách có chép rằng: “Luận về việc cầu mưa làm sao cho đúng phép, thời trước hết phải làm sao cho lòng mình được thẳng thắn, lòng có thẳng thắn mới hợp với lòng trời. Sau đó phải làm cho cái khí của mình được thuận, mới có thể hòa đồng với cái khí của trời đất. Vì thế trong lời tiểu thú của sách trung dung có nói: Lòng của ta chính thời lòng của trời đất cũng chính, khí của ta thuận thời khí của trời đất cũng thuận. Người đời gặp nghịch cảnh, ý muốn thay trời hành đạo, phò tá mọi người mọi vật. Muốn như vậy, trước hết phải làm cho lòng mình đoan chính, và trong lúc bình sinh không bao giờ làm điều sai quấy. Hết thảy mọi việc phải đúng theo thiên lý, nhân tâm, lấy nhân đức mà chứa âm công. Dù có gặp được sự lợi ích ngoài ý muốn cũng không nên tham lam vơ vét cho mình. Giữ được cái tâm chính thuận như thế mới có thể gọi là chính nhân. Đã là chính nhân, thời nói ra một lời là trời đất tin, làm một cử động là quỷ thần sợ, dẫu có tà ma yêu quái, nghe thấy tiếng của ta là sợ hãi thu mình rút thể, thấy mặt ta là rút xương tróc da. Được như thế, thời đối với việc cầu mưa tất nhiên là phải cảm ứng”.


VẬY ĐẤY, ĐỦ THẤY CẦU ĐẢO ĐÂU PHẢI DỄ DÀNG GÌ, ĐÂU PHẢI AI CŨNG LÀM ĐƯỢC, MÀ CŨNG ĐÂU PHẢI KHÓ KHĂN.

FB: Tuan Duong LaiDo
Ghi chép này phỏng theo ''Tang thương ngẫu lục'' nên cũng có thể gọi là ''Tang thương ngẫu lục vậy''.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.