bài viết trong chuyên mục "LA-KINH-PHONG-THUY"

âm dương tổng luận bát trạch bát tự biểu phí bủa trú phù ấn phong thủy câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch tử bình tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn LA-KINH-PHONG-THUY. Hiển thị tất cả bài đăng

Đo hướng


Quý khách nhờ tư vấn phong thủy từ xa thì phải tự đo hướng hoặc lấy tọa độ vị trí để có cơ sở xác định hướng trên bản đồ.
Khi nói đến hướng trong phong thủy thì phải nói nó là bao nhiêu độ chứ đừng nói: "đông, tây... ghé nam bao nhiêu...", như vậy sẽ dễ nhầm lẫn.
Việc đo chính xác là rất quan trọng. Sai số cho phép chỉ nên cộng trừ 3 độ là tối đa.

* Lưu ý trước khi đo:
- Bỏ hết đồ sắt thép mang bên mình;
- Các vị trí gần sắt, thép, bê tông 1 - 2m có ảnh hưởng đến kết quả đo;
- Đường dây điện lực cách 3 - 4m cũng ảnh hưởng đến kết quả đo;
- Nhà chung cư thì bắt buộc phải đo ở ngoài tòa nhà;
Thực hiện đo với nhiều vị trí khác nhau và so sánh kết quả.

1/ Đo bằng điện thoại:
Mở phần mềm đo hướng. Để cạnh điện thoại song song với hướng cần đo (phía tai nghe xoay ra hướng cần đo); đọc độ số trên phần mềm điện thoại.

2/ Đo bằng la bàn:
a, La bàn thường:
- Đặt la bàn nơi bằng phẳng xa cách vật nhiễm từ;
- Xoay la bàn để kim la bàn trỏ về 0 độ;
- Căng một sợi dây qua tâm la bàn theo hướng công trình;
- Đọc độ số trên la bàn nơi sợi dây đi qua;


b, La bàn quân sự:
- Đứng ở ngoài nhà, cách tường và những vật nhiễm từ > 3 m;
- Cầm la bàn trên tay cho chuẩn, không nghiêng ngả;
- Mắt nhìn qua khe, sợi giây chuẩn và hai cọc tiêu (hoặc 2 cạnh nhà). Có thể kết hợp bắn tia laze theo cạnh từng nhà để định hướng.
- Nhìn qua mắt kính xuyên xuống vạch vàng để đọc độ số.


3/ Đo bằng la kinh:
- Bỏ hết đồ sắt thép mang bên mình, tìm vị trí ít ảnh hưởng bởi sự nhiễm từ, thường là bên ngoài nhà, tránh gần cột bê tông, hàng rào thép, dây điện lực...
- Đặt la kinh thăng bằng (giọt nước ở giữa);
- Sợi dây cước ngắm theo hướng công trình;
- Xoay la kinh để mũi tên chỉ 180 độ (loại la kinh kim chỉ Nam);
- Đọc độ số trên la kinh nơi sợi dây song song hướng công trình;


4/ Đo bằng Google Earth:
Hướng trên Google Earth là hướng bắc thực. Hướng bắc từ có khác so với bắc thực. Độ từ thiên này thay đổi theo từng năm và từng địa điểm. Ở Việt nam giá trị này chỉ vài độ. Một số nơi trên thế giới giá trị này giao động 10 - 15 độ.

- Mở Google Earth, dùng công cụ thước đo như hình dưới:


- Bấm chuột tại hai điểm tạo thành đoạn thẳng theo hướng cần xác định. Đọc độ số trên hộp thoại như hình dưới:


- Vào trang http://magnetic-declination.com/ để tìm giá trị độ lệch từ thiên. Bấm chuột vào địa điểm cần xác định.
Ví dụ: ở Ninh Bình đo trên Google Earth được 20 độ; tra giá trị từ thiên được - 1 độ 20'. (Xem hình).

Vậy hướng từ thực là: 20 độ + 1 độ 20' = 21 độ 20'.

5/ Xác định hướng trên cơ sở hướng cho trước:
Khi được tư vấn lập một hướng cụ thể nào đó cho công trình, hay mộ, nếu trong tay bạn chỉ có điện thoại thì bạn làm như sau:
Ví dụ: đặt hướng công trình là 207 độ: xoay điện thoại sao cho chỉ số hướng trên điện thoại hiển thị 207 độ thì dừng lại. Khi đó cạnh dọc của điện thoại là hướng cần đo; phía tai nghe là hướng, ngược lại là tọa.
___________________________

Còn một vài phương pháp đo hướng trên bản đồ nữa, các bạn tự tham khảo trên mạng.

Một số loại la bàn:


















tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829

La kinh thấu giải viết: “Sở dĩ lập ra có qui củ (khuôn mẫu) quyền cái, khinh trọng, thành ra vuông, tròn, chẳng cái gì mà không do cái Kim Châm (kim vàng chỉ nam, bắc) và cái Thiên Trì (vòng tròn). Trước hết để định về Phong Thủy, giả sử cái La Kinh mà không có Thiên Trì, thì không quyết định được phương Tý, Ngọ; không phân biệt được Âm Dương; không hoạch định được Bát Quái, Cửu Cung ; Ngũ Hành lẫn lộn, không sử dụng được 2 đầu mối của Can Chi; không biết được Long, Hướng, Khí, Mạch hay dỡ thế nào, lấy gì mà làm căn cứ? Vậy nên phải có Kim Châm ở trong vòng Thiên Trì. Động thì Dương, Tĩnh thì Âm. Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, phân ra Bát Quái; định vị Cát Hung, tự nhiên hóa hóa, sinh sinh, vô cùng vô hạn”
Vậy vòng thiên trì là cái gì mà quan trọng vậy?
Ngày xưa cổ nhân chế la kinh rất đơn giản, họ dùng một dụng cụ đổ đầy nước và thả vào đó một cây kim bằng sắt đã từ hóa, chiếc kim nổi trên mặt nước và chỉ rõ hướng bắc nam, dựa vào đó mà định bát quái cửu cung…Vật chứa cây kim đó người ta gọi là “thiên trì” (ao trời), còn cây kim thì gọi là “phù châm” (kim nổi). Thiên trì là bộ phận không thể thiếu trong một cái la bàn, trong đó phù châm là vật quyết định để chỉ ra phương hướng. Chất lượng của phù châm ảnh hưởng đến độ chính xác khi nó chỉ nam, mà chất lượng lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Phương pháp chế tạo, từ lực, môi trường, người sử dụng …
Vậy kim la bàn nói chung và kim la kinh nói riêng (phù châm) được chế tạo như thế nào? Về lý thuyết tất cả các loại vật liệu có tính thẩm từ (nhiễm từ) đều có thể chế ra kim la bàn như: oxitsắt, sắt, thép nghèo cac bon, coban, crom, niken, silic…Thường người ta chọn vật liệu dễ gia công, có độ thẩm từ cao, từ lực bền. Đời thượng cổ người ta dùng thạch từ (đá từ), thiết từ (sắt từ). Thạch từ chính là quặng oxitsắt, nó thuộc loại nam châm vĩnh cửu nhưng có từ lực rất yếu, khó gia công thành các loại kim để làm phù châm. Điển hình cho cách chế tạo cổ sơ nhất của loại vật liệu này là người ta đẽo gọt cục đá từ thành hình một cái muôi múc canh, sau đó đặt ngửa nó lên cái mâm bằng đồng hoặc bằng gỗ, cán muôi quay về đâu thì định đó là phương nam. Độ chính xác của phương pháp này không cần bàn cãi nữa. Về sau, khi phát hiện ra tính nhiễm từ của sắt (thiết từ) người xưa đã dùng sắt để tạo ra kim la bàn, thay bằng cho chiếc kim nổi trên mặt nước họ chế cho cây kim xoay tự do trên một cái trục đỡ. Phương pháp này vẫn được giữ cho đến ngày nay, nhưng thuật ngữ “thiên trì” và “phù châm” vẫn được dùng trong chế tạo và sử dụng la kinh, mắc dù chúng chẳng có “phù, trì” gì cả.
Trong thời hiện đại để chế tạo kim la bàn người ta vẫn phải dùng các phương pháp cổ xưa trên, đó là: một là dùng thạch từ, hai là dùng thiết từ. Kim la bàn tốt nhất là được chế tạo từ nam châm vĩnh cửu.
Thạch từ như trên đã nói, trong tự nhiên nó là một loại quặng oxitsắt được lấy trong các mỏ quặng, tuy nó là một loại nam châm vĩnh cửu nhưng từ lực yếu nên không dùng. Nam châm vĩnh cửu ngày nay sử dụng công nghệ kết dính và các bột hợp kim (phương pháp chế tạo nam châm vĩnh cửu các bạn tham khảo tại đây: http://namchamtoancau.com/…/cach-che-tao-nam-cham-vinh-cuu.…). Như vậy việc chế tạo ra một cây kim la kinh như hiện nay bằng vật liệu nam châm vĩnh cửu là rất khó, nếu có chế tạo được thì giá thành cũng rất cao và không thể sản xuất thương mại được. Loại kim này có ưu điểm vượt trội là không bị từ hóa, không bị khử từ, từ lực rất mạnh, không bị yêú đi theo thời gian, trong bất cứ môi trường nào (trừ nung nóng ở nhiệt độ cao).
Để thay thế phương pháp này người ta dùng vật liệu từ mềm (vật liệu sắt từ mềm), đây là loại vật liệu rẻ tiền nhất, dễ chế tạo nhất, có thể tạo ra các loại hình dạng tùy theo ý muốn. “Với đặc tính dễ từ hóa, dễ khử từ (các bạn lưu ý 2 đặc tính này nhé) vật liệu sắt từ mềm thường được làm vật liệu hoạt động trong trường ngoài, ví dụ như lõi biến thế, lõi nam châm điện, các lõi dẫn từ…” (sách đã dẫn).
Trên thị trường hiện nay các loại kim la bàn, kim la kinh đều được chế tạo từ loại vật liệu này. Ở Việt Nam 100% thiên trì nhập từ Trung Quốc về để lắp ráp la kinh cũng không ngoại lệ.
Để chế tạo các bộ phận máy móc thì các tính chất của loại vật liệu từ mềm là ưu việt, nhưng để chế tạo dụng cụ đo lường như kim la kinh chẳng hạn thì các tính chất như : dễ từ hóa, dễ khử từ lại trở thành yếu điểm.
Tại sao lại là yếu điểm?
Vật liệu từ mềm có tính từ hóa cao vì vậy độ từ thẩm cũng rất cao, nó có độ từ thẩm cực đại “Là giá trị cực đại của độ từ thẩm trong toàn dải từ trường từ hóa. Trên thực tế, nếu từ trường ngoài vượt ngưỡng (đủ để quá trình từ hóa vượt qua quá trình từ hóa ban đầu (xảy ra bước nhảy Barkhausen) thì giá trị độ từ thẩm sẽ đạt cực đại, sau đó sẽ giảm dần khi vật liệu tiến tới trạng thái bão hòa từ”. (sách đã dẫn)
Người ta từ hóa kim la bàn đến giá trị cực đại của độ từ thẩm để duy trì mức từ lực cao nhất “Giá trị độ từ thẩm ban đầu rất có ý nghĩa trong việc sử dụng các vật liệu sắt từ mềm vì vật liệu từ mềm rất dễ bão hòa và cần sử dụng trong từ trường nhỏ”. (sách đã dẫn). Kim la bàn có từ lực rất yếu và mỏng manh do khối lượng nhỏ, vì vậy độ từ thẩm cực đại rất dễ bị bão hòa trong môi trường có từ trường kể cả lớn hoặc nhỏ, khi đó từ lực của kim la bàn dần bị triệt tiêu và biến thành từ thiên.
Yếu điểm thứ 2 là dễ bị khử từ, vì làm bằng loại vật liệu từ mềm, từ trường có được thông qua thẩm từ (từ hóa), chứ nó không phải là một loại nam châm vĩnh cửu nên rất dễ bị khử từ (mất từ) do tiếp xúc với các vật liệu có tính thẩm từ. Khi ở gần các loại vật liệu có tính thẩm từ nhưng chưa bị từ hóa (từ trường xấp xỉ bằng 0) thì kim la bàn lập tức bị khử từ, mức độ nặng nhẹ phụ thuộc vào thời gian, khoảng cách, khối lượng của vật liệu đó đối với kim la bàn. Khi kim bị khử từ thì từ lực sẽ giảm dẫn đến từ thiên.
Như vậy kim la bàn hoạt động thiếu chính xác do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Từ thiên do vị trí địa lý (không lớn lắm)
- Từ thiên do vượt giá trị cực đại của từ thẩm bị bão hòa
- Từ thiên do bị khử từ
- Hoạt động của kim bị cản trở do oxy hóa trục đỡ kim tạo thành ma sát.
Các nguyên nhân này bằng mắt thường không thể biết được, muốn kiểm tra thì phải có dụng cụ chuyên dụng để test. Việc dùng một vật kim loại đưa vào gần kim nam châm để kiểm tra chất lượng của kim là hoàn toàn kém hiểu biết. Cách làm này chỉ kiểm tra được khoảng cách ảnh hưởng đến sự chuyển động của kim la bàn khi nó ở cách các vật liệu có tính thẩm từ mà thôi, chứ không kiểm tra được các yếu tố khiến cho kim la bàn bị từ thiên. Khi đưa các dạng vật liệu có tính thẩm từ đến gần kim la bàn sẽ có 2 trường hợp xảy ra
- Kim la bàn lay động
- Kim la bàn đứng im
Ở trường hợp thứ nhất, do loại vật liệu dùng để thử đã bị nhiễm từ, nó trở thành một thanh nam châm, thanh nam châm này sẽ hút hoặc đẩy thanh nam châm thứ 2 là chiếc kim la bàn khiến nó dịch chuyển.
Trường hợp thứ 2, nếu vật liệu đó là loại vật liệu đã được khử từ thì nó không phải là một thanh nam châm, nó không có từ tính, vì vậy nó chẳng hút, đẩy gì cái kim kia, vì vậy kim vẫn đứng im.
Như vậy đừng dựa vào sự chuyển động cơ học do tác động của trường ngoài mà đánh giá chất lượng và độ chính xác của kim la bàn. Chính “từ hóa” và “khử từ” mới là kẻ từ từ giết chết chiếc kim la kinh của bạn mà bạn không nhìn thấy, không làm cách nào biết được.
Đồng hồ đeo tay cơ học, khóa dây lưng… đều được chế tạo từ hợp kim, trong đó có nhiều kim loại có tính thẩm từ, vì vậy chúng vẫn bị nhiễm từ bình thường trong quá trình bạn sử dụng (tham khảo đồng hồ bị nhiễm từ tại đây: http://donghohaitrieu.com/…/dong-ho-bi-nhiem-tu-va-cach-khu…). Vậy là khi nó bị nhiễm từ thì nó sẽ làm cho giá trị cực đại từ thẩm của kim bị bão hòa, còn khi nó đã được khử từ sạch sẽ thì lại đóng vai là vật liệu dùng khử từ cho kim la kinh. Hai trường hợp trên đều ảnh hưởng đến từ thiên của kim như trên đã giải thích. Sự ảnh hưởng nặng nhẹ còn tủy thuộc vào thời gian, cự ly tiếp xúc, khối lượng của vật liệu tiếp xúc…chứ không phải là tuyệt đối không có. Sự ảnh hưởng này còn tăng lên khi trục đỡ của kim la kinh bị oxy hóa, cong vênh, làm tăng độ ma sát cản trở sự linh hoạt của cây kim, khiến nó hoạt động càng mất chính xác.
Như vậy là đã rõ! Không chỉ có đồng hồ đeo tay, khóa dây lưng mà bất cứ vật liệu nào có tính chất thẩm từ, vật liệu có sẵn từ trường mà để gần hoặc tiếp xúc với kim la kinh được chế tạo từ vật liệu từ mềm đều ảnh hưởng đến từ lực của nó.
Tác giả xin lưu ý các bạn! Nếu các bạn đeo đồng hồ thì khi bạn cắp chiếc la kinh đi làm việc, hoặc đứng tạo dáng để chụp ảnh, vô tình bạn sử dụng cánh tay có mang đông hồ làm việc này thì chiếc đồng hồ của bạn sẽ tiếp xúc đúng vào giữa vòng thiên trì (trừ la kinh tróc long, bạn có thể thử). Chỉ cần 2 đến 3 lần như vậy là kim la kinh của bạn sẽ vứt đi, bất kể là bạn dùng loại đồng hồ gì (chắc trừ chiếc đồng hồ của vua Bảo Đại). Bạn nên thay thiên trì ít nhất là 1 lần trong một năm nếu bạn sử dụng ít.
Kết: Xin cảm ơn bạn Hưng Nguyễn bên nhóm TLPT, chính vì có bài viết của bạn nên mới có bài viết này phục vụ đến quý độc giả.
Tác giả cũng thành thật xin lỗi các vị tự xưng là nhà sản xuất la kinh khi đọc bài này mà cảm thấy xấu hổ vì đã lỡ buông lời khiếm nhã với tác giả.
Bài được “NỔ” tại Quảng Ninh hè năm Đinh Dậu
Mời các quý vị “NỔ” cho vui
Bài “NỔ” hơi dài, mong quý vị chiếu cố, xin đa tạ.


La bàn có nhiều vòng khác nhau, có vòng thì phối bát quái, âm dương, ngũ hành, đối với khí trường thì cảm ứng chỉ bắc đối nam rất nhạy, Thánh Hiền xưa chiếu theo thiên trì mà làm việc, lấy đó mà suy luận sự phát sinh biến hóa của khí trường, tức là Kỳ Châm Bát Pháp`.
1.Đường Châm:
Khi kim cứ lay động không yên, không quy về trung tuyến. Đoán rằng nơi đó có quái thạch sâu bên dưới, ở đó tất có họa, nếu kim tại Tốn Tỵ Bính vị mà bồng bềnh, thì rất dễ phía dưới 9 thước có vật dụng xưa, ở đó dễ xuất người nam nữ tửu sắc, thầy bà, cô quả bần hàn.
2.Đoái Châm:
Đầu châm bỗng ngóc lên, cũng gọi là phù châm, đó là vì âm khí giới nhập, nếu chẳng phải tổ tiên nhà đó cũng là, phúc thần hộ pháp.
3.Trầm Châm:
Đầu châm bỗng hạ xuống, đó là do âm khí giới nhập, đó là âm mà không ác âm, cũng là oan hồn uổng tử, hoặc chết không bình thường, là do họ cảm mà ra như vậy.
4.Chuyển Châm:
Chỉ châm chuyển mà không dừng. Ác âm giới nhập, đó là khí oán hận liên tục không dừng, ở đó tất gặp tai họa.
5.Đầu Châm:
Chỉ châm nửa nổi nửa chìm, hoặc nửa nổi mà không đến đỉnh, chìm cũng không đến đáy. Dưới đất có mộ phần, ở đó tất hay khóc nhiều, nên đề phòng quan tư khẩu thiệt.
6.Nghịch Châm:
Châm quy trung tuyến nhưng không thuận, hoặc châm tà phi. Đất đó tất xuất hiện người ngỗ nghịch, bại cả người lẫn tiền bạc, phong thủy nói không được.
7.Trắc Châm:
Châm mà dừng yên tĩnh, nhưng không quy về trung tuyến. Đất đó vốn là Thần Đàn Cổ Tháp, nhà ở không được.
8.Chính Châm:
Không dị dạng, không nghiêng không lệch, đất đó là đất chính thường, đất đó có thể đắn đo châm chước mà dùng.
Kỳ Châm Bát Pháp là giải thích rõ ràng các lực khí quái dị, nên Phong Thủy Địa Sư khi thăm khám đất không thể không biết.
>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
THẤT CHÂM BÁT PHÁP
Bạn dùng la kinh, bạn đã biết "Thất châm bát pháp" chưa? "Kỳ châm bát pháp"chỉ là phụ nhé!
Sau đây lão "hủ nho" này xin được giới thiệu đến các bạn, còn nội dung thì xin khất ạ.
THẤTCHÂM
-Nhất đường, nhị đoái, tam khi.
-Tứ thám, ngũ một, lục toại, thất trắc.
BÁT PHÁP
-Thanh bàn pháp
-Thác bàn pháp
-Cách sơn chiếu pháp
-Thánh mễ chưởng bàn pháp
-Tỵ tà pháp
-Phòng sư pháp
-Xuất sát pháp
-Thất tinh truy nguyệt pháp
Xung quanh cái la kinh cũng còn nhiều điều bí ẩn và thú vị phải không bạn?
"LA KINH TẠI THỦ, VẠN SỰ VÔ ƯU"
Bạn nghe thấy bao giờ chưa?


Mỗi vùng miền, mỗi thời kì các nhau sự ứng dụng La kinh cũng khác nhau. Đơn giản nhất là vòng La kinh thứ nhất gồm 8 quẻ Hậu Thiên Bát quái. Một số La kinh có thể tàng ẩn vòng này do hầu hết các Phong thủy gia nắm vòng này trong lòng bàn tay.

4. Ứng dụng La kinh trong thuật Phong thủy

Phức tạp hơn và được sử dụng khá phổ biến là vòng phân 24 sơn hướng trong Phong thủy, khi đó bàn 360 độ sẽ phân thành 24 cung, mỗi cung quản 15 độ với việc kết hợp nạp cả Thiên can, Địa chi, Bát quái trong vòng tròn này. Cụ thể khi đó 12 Điạ chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi  kết hợp với 8 Thiên can là Nhâm, Quí, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, cùng với 4 Quẻ trong bát quái là: Càn, Khôn, Cấn, Tốn.

Đi sâu hơn, các nhà Phong thủy học cao cấp chia nhỏ tiếp 360 độ tương ứng 60 múi còn gọi là 60 Long thấu địa, 60 Long mạch doanh súc. Hoặc chia tiếp thành 72 múi với tên gọi là 72 long mạch xuyên sơn. Mỗi vòng này có sự ứng dụng khác nhau. Tinh vi hơn, cổ nhân còn chia nhỏ La kinh tới mức 120 cung và 240 cung để phân cát hung rõ hơn cho các tuyến vị trên la bàn Phong thủy này.



                                                         Hình 1: La Bàn Huyền Không

Không chỉ dừng lại ở cấp độ phân chi tiết, các nhà Phong thủy học với các quan điểm Phong thủy khác nhau cũng đưa những cái tôi riêng vào trong La kinh. Như phái Huyền không học đưa thêm các độ số chi tiết của các cung kiêm hướng, phái Tam hợp đưa thêm những kiến thức về nạp giáp nảy sinh các vòng này, phái Dịch Phong thủy đưa 64 quẻ qui nạp vào trong các tầng của La kinh. Đi xa hơn, phái này đưa thêm 6 hào trong quẻ dịch vào và phân La kinh ra thành 384 cung với độ số cát hung khác nhau.

Ở Việt Nam, xu hướng cá nhân hóa, trường phái hóa La kinh cũng đã manh nha xuất hiện. Nhiều nhà Phong thủy tự chế tạo riêng cho mình dụng cụ khi tác nghiệp. Đã có những doanh nghiệp bắt tay vào nghiên cứu chế tác dụng cụ này cho người Việt. Hiện ở Việt nam đã có những La kinh rất đáng tin cậy và có chất lượng tốt do người Việt sản xuất. Điển hình nhất là La kinh tiếng Việt của thành viên Lái đò, một người nghiên cứu nhiều năm về Phong thủy.

 5. Giới thiệu vài ứng dụng chi tiết trong la bàn Tam hợp

Trong La kinh Tam hợp có tới 3 vòng 24 sơn, tên gọi và vị trí cũng như cách dùng có sự khác nhau. 24 sơn vòng trong là chính châm địa bàn, 24 sơn vòng giữa là trung châm nhân bàn, 24 sơn vòng ngoài là phùng châm thiên bàn.

Trục Tý Ngọ trong chính châm chỉ đường Tý Ngọ, tức là một đầu chỉ về hướng chính nam 180 độ, đầu kia chỉ chính bắc 0 độ. Trục Tý Ngọ trong nhân bàn hợp thành 7.5 độ với vị trí Tý Ngọ của địa bàn thiên về phía sau theo chiều kim đồng hồ. Còn trong Phùng châm thiên bàn thì lệch so với Chính châm địa bàn 1 góc 7,5 độ nhưng thiên về phía trước theo chiều kim đồng hồ.

Chính châm địa bàn được người xưa cho là lấy theo phương vị địa từ, lấy địa từ trường làm căn cứ. Chính châm ứng dụng rất phổ biến để xác định điểm tọa lạc của kiến trúc, phương hướng trong kiến trúc .

Trung châm có thuyết cho rằng chỉ phương vị sao bắc cực, lấy sao bắc cực làm căn cứ. Tầng này chủ yếu để phán đoán hoàn cảnh của các kiến trúc lân cận nhưng thiên về vật tĩnh và đặc như địa ốc, núi non, rừng cây.

Phùng châm thiên bàn được cổ nhân cho là chỉ phương vị của ánh mặt trời, lấy mặt trời làm căn cứ. Tầng này dùng để phân tích các vật, ngoại cảnh mang tính động như dòng chảy, sông hồ, từ đó phân định cát hung.

La bàn trong Phong thủy là một dụng cụ thật cần thiết và tưởng chừng như không thể thiếu đối với tác nghiệp Phong thủy. Có nhiều câu hỏi lý thú đặt ra khi nghiên cứu mô hình kiến trúc hay công trình mà vì nhiều lý do không thể tìm được hướng hay phương vị. Ví dụ như trên những chiếc tàu thủy mỗi năm đi biền biệt không dừng cố định chẳng hạn. Lý do này khiến việc phân định hướng hay phương vị tọa lạc coi như bất khả thi. Những cá nhân trong những công trình kiến trúc đó khi sống lâu năm sẽ ảnh hưởng Phong thủy tới đâu? Việc định cát hung theo Phong thủy tưởng chừng như quá khó ?!

Tuy thế, thiếu đi La bàn, không rõ phương vị của kiến trúc, người làm Phong thủy cũng vẫn có những phương án để tìm hiểu về chất và lượng của đối tượng nghiên cứu. Khi đó những kiến thức Phong thủy về hình thể và cấu trúc của đối tượng lại được vật dụng triệt để mà xem nhẹ những tinh tế và phức tạp của Phong thủy về lý khí.


La bàn với kim chỉ Nam của nó là một công cụ giúp phân biệt phương hướng cho những chuyến tàu vượt ra ngoài biển khơi, giúp con người có được định hướng rõ ràng trong đường đi nước bước. Trong khoa Phong thủy, việc xác định phương vị là khâu đầu tiên và quan trọng để có thể có được những luận đoán chính xác. Vì vậy, việc nắm rõ về đặc điểm và hiểu biết chính xác về cách sử dụng la bàn trong Phong thủy là tối quan trọng trong thực hành Phong thủy.

1. Lịch sử phát triển của La bàn

La bàn với nhiều tên gọi khác nhau như La Kinh, La Kính, Kinh Bàn, Tý Ngọ Bàn, Châm Bàn vốn là một vật dụng khá quen thuộc trong đời sống đồng thời cũng là một công cụ không thể thiếu trong thực hành Phong thủy xưa và nay.

Sử sách ghi lại La bàn thuần túy là một phát minh của người Trung Hoa cổ đại cách đây khoảng 2000 năm. La bàn từ những dạng đơn giản ban đầu đến dạng phức tạp nhiều tầng nhiều lớp như ngày nay là cả một quá trình phát triển không chỉ vì kỹ thuật mà chứa đựng cả sự kết tinh của nền triết học phương Đông, của Dịch lý, Thiên văn. Vì vậy hiểu được về chiếc la bàn sẽ hiểu phần nào về kho kiến thức đồ sộ mà cổ nhân để lại.

Trong tiếng Hán, la có nghĩa là mạng lưới còn bàn có nghĩa là mặt đĩa. Ở giữa la bàn có kim nam châm. Kim nam châm của la bàn luôn chỉ về hướng Bắc (sau này chiếc la bàn sử dụng trong Phong thủy, còn gọi là la kinh, kim nam châm luôn chỉ về hướng nam) toàn bộ la bàn có vòng tròn trị số là 360 độ.

Theo những nguồn Cổ thư và kết quả nghiên cứu Khảo cổ học, người Trung Hoa cổ đại đã sớm tìm ra đặc tính chỉ hướng của kim nam châm từ tính, từ thời Chiến Quốc (403-221 TCN) đã bắt đầu sử dụng một loại la bàn dùng để bói toán gọi là Ty nam với kim lam châm hình dạng giống như muỗng canh. Trải qua quá trình phát triển, la bàn dần được cải tiến cả về hình thức và số vòng trên mâm bàn. La bàn từ chỗ ban đầu chỉ dùng để bói toán đã trở thành một dụng cụ hữu ích trong xác định phương hướng, đến thời Minh- Thanh, nó đã trở thành một vật không thể thiếu trong việc đi biển và đặc biệt la bàn đã xuất hiện thêm nhiều vòng mới, đã trở thành vật “trước thuật Phong thủy”, làm cho Phong thủy có những biến đổi phức tạp.

La bàn dùng trong Phong thủy thường gọi là La kinh với nhiều vòng phân độ dày sít, ít thì vài vòng, nhiều thì hàng mười mấy vòng, rất phức tạp mà chỉ có những chuyên gia nghiên cứu lâu năm mới có thể hiểu hết được ý nghĩa của nó.

2. Cách sử dụng La bàn

Các chuyên gia Phong thủy ngoài thẩm định thế cục diện luôn dùng la bàn xác định rõ phương hướng và phương vị tọa lạc của công trình.

Tọa hướng kiến trúc có ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng hoàn cảnh cư trú.Việc lựa chọn tọa hướng kiến trúc liên quan đến điều kiện khí hậu, hoàn cảnh địa lý, tình hình đất dùng xây dựng…tức là phải suy nghĩ tổng hợp. Trong Phong thủy, yếu tố tọa hướng đóng vai trò như một nguồn thông tin đầu vào của một bài toán. Nếu như phán đoán sai tọa hướng thì sẽ sai tất cả. Vì vậy, việc thành thục những kỹ thuật sử dụng la bàn, la kinh để xác định phương hướng là hết sức quan trọng. Trước hết, cần phải hiều được một vài nguyên tắc sau:

Thứ nhất, khi dùng la bàn để đo phương hướng, là nhìn từ hướng chính diện bức tường nhà để quyết định vị trí ngôi nhà, nói một cách đơn giản, mặt cửa tòa nhà hướng ra đường lớn gọi là “hướng”, ngược lại mặt quay lưng với tường gọi là “tọa”.

Thứ hai, khi đo la bàn cần tránh đứng gần các vật làm bằng sắt thép nhiều từ tính sẽ làm sai lệch kim La bàn. Các công trình thời nay thường dùng nhiều bê tông cốt thép hoặc khối lượng sắt thép quá nhiều (đặc biệt là các căn hộ chung cư hay các tòa cao ốc) sẽ ảnh hưởng đến từ tính của kim la bàn. Vì vậy, nếu muốn biết phương vị chính xác của ngôi nhà thì nên ra ngoài cửa tòa nhà dùng la bàn để đo đạc tại nhiều địa điểm khác nhau.

Để xác định hướng, trước hết phải xác định được tâm nhà, trục nhà, sau đó đặt la kinh ở một vị trí đảm bảo không có từ tính, sau đó đặt La kinh song song với trục nhà, xoay mặt la kinh sao cho kim la kinh chỉ đúng 180 độ. Dựa vào chỉ số trên la kinh ta có thể đoán được ngôi nhà có độ số là bao nhiêu.

3. Cấu tạo của La kinh

La kinh là từ ghép của từ La bàn( từ la) và các quẻ, các độ số trong Kinh dịch (từ kinh). La kinh cấu tạo thường với phần giữa là la bàn còn các vòng chữ viết đồng tâm là các chữ và kí hiệu theo ngôn ngữ Kinh dịch. La kinh chính là phương tiện dùng trong việc tác nghiệp thuật phong thủy



La kinh gồm nhiều loại các nhau. Chủ yếu do sự phong phú của các trường phái học thuật trong Phong thủy như phái Bát quái, phái Ngũ Hành, phái Kỳ môn độn giáp, phái Tam hợp, phái Huyền không phi tinh, phái Bát trạch. La kinh cũng có sự biến đổi theo vùng miền như ở La kinh ở Hồng Công, Đài Loan sẽ không giống như la kinh ở Quảng Đông hay Quảng Tây hay ở Việt Nam.

Theo thời gian La kinh biến đổi từ đơn giản đến phức tạp, từ mức độ đơn giản khi chỉ có 5,6 vòng cơ bản. Phức tạp hơn có những La kinh với số vòng lên tới 36 tầng, thậm chí là 54 tầng bao gồm không chỉ những kiến thức thuần túy phong thủy mà còn ứng dụng trong thiên văn để coi thời tiết dùng cho nông nghiệp.


Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.