bài viết trong chuyên mục "Tín ngưỡng Dân gian"

12 con giáp năm bính thân 2016 12 cung hoàng đạo chòm sao tử vi tây phương Áo Dài âm dương tổng luận bát trạch bát tự bếp bí ẩn giấc mơ biểu phí bủa trú phù ấn phong thủy Căn duyên tiền định câu chuyện phong thủy câu hỏi hay quan tâm Cầu Tự Pháp - Phép Đặt Bếp Cầu Con cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ Chọn tuổi xông đất chuyện phật giáo chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học khai trương và cúng giao thừa năm Đinh dậu khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lễ hội đền phủ lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nghi nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phật giáo tổng hợp phong thủy 2021 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy tân sửu phong thủy tân sửu 2021 phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH PHONG-THUY-DUONG-TRACH phongthuyviet Quan Họ sao và vận hạn 2021 thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch tu vi 2017 TU-VI-DAU-SO tử bình tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi 12 con giáp từng năm tử vi năm 2021 tử vi tổng hợp tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem bói tổng hợp xem chân gà Xem Mũi biết bệnh xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo Xem tuổi xông nhà xông đất năm 2021 xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tín ngưỡng Dân gian. Hiển thị tất cả bài đăng

Trừ tà tháng cô hồn: Dùng lửa, muối và đeo vật phẩm phong thủy

 Tháng 7 âm lịch còn được gọi là “tháng cô hồn”, ma quỷ được tự do trở về dương thế nên người tiêu dùng thường hạn chế việc mua sắm. Tuy nhiên, kinh nghiệm dân gian cho rằng, bạn nên mua những thứ này vì chúng có tác dụng trừ tà tháng cô hồn, mang đến vận may.
Theo quan niệm dân gian, tháng 7 âm lịch hàng năm là tháng cô hồn, Diêm Vương sẽ mở Quỷ Môn Quan để các vong hồn thoát khỏi chốn địa ngục khổ đau lên ngao du nhân gian.

Vì lẽ đó, nhiều người cho rằng đây là thời điểm họ dễ gặp nhiều xui xẻo nhất trong việc làm ăn. Thậm chí, nhiều người cứ gặp điều gì không may là đổ tại tháng cô hồn.

 
Tháng cô hồn là tháng mấy? Tháng 7 âm lịch thường được mệnh danh là âm thịnh dương suy, là tháng dễ bị ma trêu quỷ ghẹo, vậy nên đa số chúng ta đều có một sự kiêng kỵ nhất định.
 
Những nhà kinh doanh có xu hướng tránh làm việc lớn, bớt đầu tư trong tháng cô hồn. Mọi người cũng kiêng không xây nhà, sửa chữa, mua xe trong thời điểm này vì sợ xui xẻo hơn những giai đoạn khác.
 
Để tránh những điều không may có thể xảy ra, nhiều người thường kiêng kỵ mua đồ mới. Tuy nhiên, nằm ngoài số đó, những vật dụng sau đây lại đắt hàng vì quan niệm dân gian cho rằng chúng sẽ đem lại may mắn và có tác dụng trừ tà tháng cô hồn.

De dang vuot qua thang co hon khi so huu nhung vat nay trong tay
 

Nên mua một chiếc bật lửa hoặc một bao diêm
 

Theo quan niệm dân gian, ngọn lửa tượng trưng cho may mắn, sự ấm áp và tài lộc hưng thịnh luôn cháy mãi không bao giờ có thể dập tắt. Lửa là cội nguồn của sự sống, lửa tượng trưng cho sự ấm no và hạnh phúc.

Vậy nên những ngày rằm, mồng 1, rất nhiều người kiêng không để tắt lửa trên ban thờ, không mong muốn nhà bị hết củi, hết ga cũng vì lẽ đó. Họ cho rằng đó là dấu hiệu của sự xui xẻo khi yếu tố Hỏa bị lụi trong nhà.
 
Đặc biệt, có một số người còn có thói quen luôn giữ một chiếc bật lửa hoặc một bao diêm bên mình. Họ để trong túi xách, trong ví với hi vọng Hỏa khí sẽ giúp sự nghiệp được thình vượng, xui xẻo phải tránh xa, có thể trừ tà tháng cô hồn.
 
Tháng 7 lịch âm được coi là âm khí mạnh, thời vận có phần lạnh lẽo, nên việc mua một chiếc bật lửa hoặc một bao diêm được nhiều người cho rằng sẽ giúp xua đi những gì đen tối, rủi ro trong tháng cô hồn. Hơn nữa, ra khỏi cửa hàng, họ sẽ ngay lập tức châm lửa và hơ đi hơ lại quanh người để xua đi tà khí.
 

Nên mua một túi muối và đặt ở góc nhà

Mua muoi va dat goc nha
 
 

Người xưa đã có câu "Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi" chính là để nói về tác dụng kì diệu của muối cũng như phong tục mua muối của người Việt ta.
 
Có thể thấy, không chỉ ngày Tết mà hầu hết khi kết thúc các buổi cúng tế, người ta thường có hành động tung muối ra ngoài đường với ý muốn xua đuổi tà ma, xua tan xú uế, loại bỏ sự xui xẻo để gia chủ được hưởng bình an.
 
Ngoài ra, muối còn tượng trưng cho sự may mắn, tình mặn nồng thắm thiết nên mua muối cũng có ý nghĩa là chúc cho gia đình thêm hạnh phúc, gắn kết thuận hòa, nhà giàu thích tích trữ bát muối phong thủy cũng chính vì thế. Quan niệm này cũng được nhiều người áp dụng trong tháng cô hồn.
 
Muối từ xưa đến nay vẫn được coi là nguyên liệu khử tà khá tốt. Trong các đám cúng chúng sinh hay cúng vong hồn không thể nào thiếu được muối và gạo.
 
Vậy nên trong tháng cô hồn, bạn nên mua một túi muối, đặt vào bát sạch và để chúng ở 4 góc nhà nhằm tẩy trừ đi những yếu tố không tốt trong phong thủy nơi sinh sống. Nó sẽ góp phần xua đuổi tà khí và giúp bạn vượt qua tháng cô hồn một cách dễ dàng hơn.
 

Nên mua những vật phẩm phong thủy có tác dụng trừ tà


Vong go tru ta
 
 
Vòng gỗ phong thủy có tác dụng trừ tà như vòng dâu, vòng gỗ trầm, vòng gỗ sưa, vòng đá phong thủy... cũng được khá nhiều người tìm mua trong những ngày tháng 7 âm lịch.
 
Trong phong thủy, vòng trầm được coi là vật phẩm phong thủy dùng nhiều cho mục đích xua tan tà khí, hóa giải những điềm xấu cũng như những xui rủi xảy ra trong cuộc sống. Do đó, nó mang lại may mắn, bình an và tài lộc cho gia chủ nhất là những người đang kinh doanh và làm ăn buôn bán.
 
Đối với phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh hay trẻ nhỏ, rất yếu bóng vía, sẽ là đối tượng tấn công của ma quỷ hay thế giới cõi âm, việc đeo một chiếc vòng dâu tằm sẽ đem lại bình an cho mẹ và bé, giúp bé ngủ ngon, ngủ sâu và không giật mình, bảo vệ bé khi đến những nơi có âm khí nặng.
 
Nếu bạn cảm thấy lo lắng, bất an về tháng cô hồn sắp tới, có thể mua một trong những đồ vật trừ tà tháng cô hồn nói trên. Chúng sẽ đem đến sự bình an về tinh thần và giúp bạn may mắn hơn trong tháng cô hồn.
tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829


Nói về tín ngưỡng thờ Mẫu tam tứ phủ không thể không nói đến tập tục hành hương đi lễ cầu an tại các phủ đền miếu điện vào các ngày đầu xuân, các ngày sóc vọng (rằm, mồng một), các ngày tiệc thánh, hội đền hay bất kỳ ngày nào trong năm. Đi lễ thánh trước hết để tỏ lòng tôn kính ngưỡng phục biết ơn chư thánh đã bảo hộ cho dân an quốc thái, cho đất nước phồn hoa , sau đó là sự nguyện ước cho gia đình bản thân những điều tốt lành, bình an, may mắn. Dời cuộc sống tất bật bon chen, người ta tới cửa thánh để du ngoạn, tĩnh tâm, nương theo Phật Thánh để tu đức tích thiện làm điều có ích. Theo phong tục cổ truyền, khi đi lễ cầu an người ta thường chuẩn bị đồ lễ, sớ văn và khấn vái như sau :

 SỬA LỄ VẬT

Thông thường, các lễ vật được sắp làm các phần lễ và bày ở các ban chính ( ban công đồng, ban trần triều, ban sơn trang, ban Mẫu….) hoặc tất cả các ban thờ trong nơi thờ tự. Các lễ vật dâng tiến thường có:

1.Trầu cau:( phù lưu)

Người xưa có câu : “miếng trầu là đầu câu chuyện”.Trầu cau tuy là lễ vật đơn sơ nhưng lại rất có ý nghĩa. Thường mỗi một phần lễ lại đặt kèm một lễ trầu cau hoặc có thể chỉ đặt đại diện ở các ban đại diện ( ban công đồng). Một lễ trầu cau có thể chỉ là một quả cau - một lá trầu hoặc một nải cau (cành có nhiều quả) hay cả buồng cau. Cau trầu khi dâng lễ thường dùng loại tươi chứ ít dùng loại cau khô. Cau thì trọn quả bánh tẻ (không già mà cũng không non quá) có vỏ xanh nhẵn không có trầy xước và có râu thì càng tốt . Lá trầu chọn loại lá tươi dày, màu xanh hoặc hơi ánh vàng. Thường chọn số quả cau là số lẻ như 1, 3, 5, 9… với quan niệm số lẻ là số âm : tương ứng với sự huyền ảo linh thiêng và cũng là tổng của hai số chẵn và lẻ : sự thuận hòa âm dương, hay quan điểm cho rằng số lẻ là số phát triển và số chẵn thì không tăng thêm nữa, vậy thì sẽ không có thêm tài thêm lộc được .Cũng có khi chọn số chẵn như 12, 36 ,72… (những số này đều có thể chia ra thành ba phần ) hay số 100 (tượng trung cho sự trọn vẹn hoàn mĩ). Có một điều lưu ý là số 7 tuy là số lẻ nhưng cũng rất nhiều người kiêng vì cho rằng 7 lễ đọc theo tiếng hán là thất lễ đồng âm dị nghĩa với từ thất lễ trong nghĩa là làm không đúng lễ phép( vô lễ). Về số lượng của các lễ vật khác cũng tương tự như ở phần này nên sẽ không nói lại nữa.
Ngoài trầu và cau ta có thể đặt kèm một ống vôi hay quết một it vôi ở phần đầu của lá trầu. Vôi để dâng lễ thường là vôi đào (vôi hồng), ngoài ra còn có thể dâng thêm thuốc lào, vỏ quạch, vỏ chay.... Ngoài dâng trầu nguyên lá, cau nguyên quả, người ta còn dâng trầu têm cánh phượng đặt vào đĩa hay cắm vào các que tre vót nhọn hay cắm cùng các cành hoa nhìn cũng rất đẹp và trang trọng ( Nhưng vẫn nên có một đĩa trầu nguyên lá cau nguyên quả)


2.Các đồ lễ chay: Hương, hoa, đăng, trà, quả, thực (lục cúng)
Lục cúng gồm sáu phẩm vật chay tịnh dâng cúng Phật Thánh
- Hương : ở đây nói về phần hương sống ( hương chưa đốt) để đặt vào phần lễ. Có thể dùng hương thẻ, hoặc hương vòng hay hộp hương trầm. Phần hương này thường sẽ để nhà đền thắp sau này. Phần hương đốt ( hương thắp) sẽ nói sau.
- Hoa : thường dùng loài hoa có cả hương cả sắc. Dâng hoa lễ thánh là tiến dâng vẻ đẹp ( sắc) và lòng thành tâm ( hương) tới chư vị Phật Thánh. Hoa có thể cắm vào bình, lọ hay bày vào đĩa. Hoa để dâng tiến thường không giới hạn về màu sắc. Ví như hoa màu trắng thường được ít mua về thờ tại nhà ( màu tượng trưng cho sự tang tóc buồn bã) mà thường mua hoa đỏ ( màu cát tường) hay hoa vàng ( màu phú quý..) nhưng với tín ngưỡng tứ phủ thì màu trắng lại là màu tượng trưng cho thủy phủ ( cõi sông nước) . Tại các đền thờ về thoải phủ hay vào ngày tiệc các vị thánh thoải người ta thường dâng hoa hay các lễ vật màu trắng.
- Đăng ( đèn): tượng trưng cho nguồn sáng, trí tuệ, hay sự linh thiêng. Các đền thường thắp đèn dầu hoặc đèn điện, còn người dâng lễ thường dâng nến cây hoặc nến cốc…
-Trà ( chè): có thể dâng trà gói ( trà khô) hoặc trà đã pha hay các loại nước khác như nước trắng, nước hoa quả, nước hương nhài…
- Quả : mùa nào thức ấy, dâng tiến các loại quả tùy tâm.
-Thực: các loại oản, bánh kẹo, xôi, chè kho …

3.Rượu và các đồ lễ mặn:

Người xưa có câu “vô tửu bất thành lễ” ( không có rượu không thành lễ nghi). Rượu thường được đựng trong bình nhỏ hoặc rót ra chén và bày trên ban công đồng, ban Trần triều hay ban thờ các nam thần cùng các đồ lễ mặn như các loại thịt được nấu chín như thịt gà, thịt lợn… hay chế biến thành giò, nem, chả…
Các đồ lễ như thịt sống, trứng ,gạo muối thường được bày riêng ở ban thờ hạ ban (thờ ngũ hổ, thanh xà, bạch xà). Thịt sống, trứng (vịt) được bày năm quả để dâng các quan ngũ hổ, trứng (gà) bày hai quả riêng để dâng thanh xà bạch xà.
Ngoài ra trong những dịp cần thiết người ta dâng lễ tam sinh là ba loại động vật khác nhau như : gà , ngan, cá hay gà lợn cá,……. . Các đồ lễ dâng sơn trang như cua, ốc, cá khô… cũng thuộc loại đồ lễ mặn

4. Đồ mã, tiền vàng (kim ngân minh y)

Đi lễ hành hương, người ta thường dâng các đồ mã đơn giản như nón hài, các loại giấy tiền, giấy xu, giấy vàng, hay các loại vàng tứ phủ. Vàng tứ phủ là các loại vàng được xếp từ các phong vàng nhỏ thành từng cây. Vàng tứ phủ có các màu theo tứ phủ như màu đỏ ( thiên phủ), màu xanh( nhạc phủ), màu vàng ( địa phủ), màu trắng (thoải phủ) và màu tím hay màu xanh lam đậm. Loại vàng này có các kích cỡ từ nhỏ đến lớn và dâng các vị thánh theo cấp độ tương ứng. Thí dụ như vàng dâng các quan lớn thường to và nhiều hơn vàng dâng các thánh cô.
Rượu và các đồ lễ mặn chỉ để dâng thánh không được dâng ở ban thờ Phật. Các đồ lễ khác thì có thể dâng ở tất cả các ban.

5.Bảo vật

Các cụ có câu “ tốt lễ dễ kêu”, càng dâng tiến đồ lễ chau truốt cầu kỳ tố hảo thì càng dễ kêu cầu đắc lễ đắc bái. Dâng lễ vật là để tỏ lòng thành kính ngưỡng mộ và mong cầu chư thánh bảo hộ gia ân. Bảo vật ở đây là đồ lễ quý báu cao sang, nó quý hơn cả vàng bạc kim cương. Đó chính là tâm bảo. Phật Thánh tại tâm. Những đồ lễ giới thiệu ở trên cũng xuất phát từ lòng thành tâm ngưỡng mộ Phật Thánh. Tùy vào điều kiện mà mỗi người có thể sắm sửa các đồ lễ phù hợp. Không nên quá chú trọng vào đồ lễ vật chất mà cần thiết hơn cả là tâm bảo – đồ lễ quý giá mà một người đi lễ nên có

Bài viết : Soạn Giả Phúc Yên 
Đăng : mantico


Các bài văn khấn thường được đọc trước ban thờ hoặc có thể in viết ra giấy rồi tiến dâng như sớ văn. Các bản văn khấn thường được làm theo các thể thơ lục bát, song thất lục bát, đồng dao, sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ.... với những lời lẽ giọng điệu trau chuốt kính cẩn. Các bản văn khấn thường dùng là các bản khấn nôm gần gũi, vần điệu, dễ hiểu dễ đọc , bên cạnh đó là các bản văn khấn hán tự mang sắc thái trang nghiêm đĩnh đạc hơn. 
Thông thường các bài văn khấn thường có các nội dung:
- Khấn danh hiệu chư vị Phật Thánh
- Khấn ngày tháng địa chỉ nơi cư ngụ, tên tuổi... của hương chủ và gia quyến
- Khấn sám hối các lầm lỗi và kêu cầu các ước nguyện

Sau đây là các mẫu bài văn khấn thường dùng


Bản 1:

Nam mô đức Phật Di Đà
Nam mô đức Phật Thích Ca giáng trần
Nam mô Bồ Tát Quan Âm
Công đồng tam phủ lai lâm độ trì
Kim niên kim nguyệt nhật thì
Hương hoa lễ vật thầm thì ngâm nga
Lời kêu như phượng như hoa
Lời kêu thấu đến mọi tòa chứng minh
Trước thời tâu tới thiên đình
Sau thời thoải quốc động đình vua cha
Tấu lên quốc mẫu bơ tòa
Hội đồng quan lớn chầu bà sơn trang
Tâu lên tứ phủ thánh hoàng
Tiên cô thánh cậu tòa vàng châu cung
Lòng thành sửa lễ kính dâng
Nguyện xin Phật Thánh công đồng gia ân
Nhất nguyện xá lỗi xá lầm
Nhị nguyện Phật Thánh chứng tâm lòng thành
Tam nguyện phú quý khang ninh
Tứ nguyện quốc phú thái bình dân an
Lòng thành con thắp tuần nhang
Kính trình Phật Thánh đáo đàn chứng minh

Đệ tử con tên là..........................................
Ngụ tại.......................................................
Ngày hôm nay là ngày................................
Đệ tử con cùng đồng gia quyến đẳng một dạ nhất tâm
thiết lễ kính ngưỡng, cúi xin Tam Bảo Chư Phật Chư Bồ Tát Hiền Thánh Tăng
Tam phủ công đồng - tứ phủ vạn linh
chứng minh công đức -cho đệ tử con:
Cầu được ước nên - hữu duyên hữu phúc - hữu lộc hữu tài
Cầu một được mười - cầu người được của
Cho rồng bay phượng múa - muôn thủa hưng long
Cho chốn gia trung- thuận hòa gia nội
Xá lầm xá lỗi -muôn tội tiêu trừ
Rộng mở lòng từ - tả phù hữu bật
Nay con :
Tâm thành như nhất- lễ vật tiếng dâng
Phật Thánh chứng tâm- chư thần bảo hộ
Kính xin Chư Phật Thánh chứng giám lòng thành .
Nam mô A di đà Phật. 3 lần


Bản 2:

Nam mô A di đà Phật. 3 lần
Con lạy công đồng tam tứ phủ
Quốc Mẫu vua bà
Tam tòa Thánh mẫu
-Đệ nhất Thượng thiên
-Đệ nhị Thượng ngàn
-Đệ tam Thoải phủ
Con lạy năm dinh quan lớn
Mười dinh các quan
Con lạy tứ phủ chầu bà
Thập nhị chầu bà
Tứ phủ thánh hoàng
Thập nhị tiên cô
Thập nhị thánh cậu

Nay nhân ngày … tháng …năm…
Tín chủ con: ..................…
Ngụ tại … .........................
Nhất tâm tưởng, vạn tâm cầu
Mang miệng đến tâu- mang đầu vọng bái
Chắp tay con vái- trước cửa Tam tòa
Lòng con thiết tha- cầu xin Thánh Mẫu
Cùng cô cùng cậu- rủ lòng thương xót
Trước sau như một- đội đức từ bi
Lầm lỗi điều gì- xin Mẫu đại xá
Phù cho tất cả- con cháu khang ninh
Tỏ đức hiếu sinh- anh linh Thánh Mẫu
Cứu khổ trừ tai- tiến phúc tăng tài
Xin ngài chứng giám . Nam mô a di đà phật ( 3 lần)



Bản 3:

Văn Khấn ở đền phủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật
Ngũ phương ngũ phật, thập phương thập phật
Hằng hà sa số Đức Phật công đức, công lượng vô biên

Cung Phật thỉnh Thánh, cung thỉnh thiên cung tấu thỉnh thiên đình, sám hối
Tam phủ thần vương, tứ phủ thánh đế
Con xin sám hối con lạy đức Cao thiên Thượng thánh- Đại từ Nhân giả - Huyền khung Cao Thượng đế -Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn
Con sám hối Đại Thánh Nam Tào Lục Ty duyên thọ tinh quân
Con sám hối Đại Thánh Bắc Đẩu Cửu hoàn giải ách tinh quân
Bắc Cực Trung Thiên Tam nguyên tam phẩm tam quan
Cửu tinh thiên chúa thập nhị bát tú
Dưong phủ ngũ nhạc thần vưong
Địa phủ thập điện minh vưong
Con xin sám hối đến Thái Ninh Phủ ,Bát Hải Linh Từ sám hối Vua Cha bát Hải động đình

Con sám hối tấu lạy quốc mẫu vua bà bơ tòa tiên thánh tứ phủ Thánh Mẫu:
Kính lạy Cửu trùng thánh mẫu .bán thiên công Chúa Thiên tiên thánh mẫu
Kính lạy Địa tiên thánh mẫu quỳnh hoa Liễu Hạnh Vân Hương Thánh Mẫu
Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mấu.
Kính lạy Thánh Mẫu Đệ Tam thủy cung, Xích Lân long Nữ,Thủy Tinh Công chúa
Kính lạy Đức Mẫu thượng ngàn Diệu nghĩa diệu tín thiền sư
Tuần Quán Đông Cuông đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.
Con lạy trần triều hiển thánh Hưng Đạo Đại Vưong
Trần triều Khải Thánh , Vương Phụ Vưong mẫu Vương phu nhân
Tứ vị Vưong tử- Nhị Vị Vương cô- vương tế vương tôn
Liệt vị tướng tướng công đồng Trần Triều

Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh
Bách vị các quan ngũ vị tôn quan
+ Quan đệ nhất Thượng Thiên
+Quan đệ nhị thượng ngàn
+Quan đệ tam thoải phủ
+Quan đệ tứ khâm sai
+ Quan đệ ngũ tuần tranh
Con sám hối điều thất tôn quan- Hoàng triệu tôn quan

Con lạy tứ phủ chầu bà thập nhị chầu bà
+ Chầu đệ nhất thượng thiên
+ Chầu đệ nhị thượng ngàn
+ Chầu đệ tam thủy phủ
+ Chầu đệ tứ khâm sai
+ Chầu năm Suối Lân
+ Chầu sáu Lục Cung
+ Chầu bảy Kim Giao
+ Chầu tám Bát Nàn
+ Chầu chín cửu tỉnh
+ Chầu mười Mỏ Ba
+ Chầu Bé Bắc Lệ
+ Chầu bà bản đền

Con lạy Tứ phủ thánh hoàng thập vị thánh hoàng
Sám hối ông bơ thoải quốc, ông bảy Bảo Hà, ông mười Nghệ An

Sám hối tứ phủ thánh cô

+ Cô đệ nhất thượng thiên
+ Cô đôi Đông Cuông
+ Cô bơ Thác Hàn
+ Cô tư địa phủ
+ Cô năm Suối Lân
+ Cô sáu Lục Cung
+ Cô bảy Kim Giao
+ Cô tám đồi chè
+ Cô Chín Sòng Sơn
+ Cô mười Đồng Mỏ
+ Cô bé sơn lâm
+ Cô bé bản đền

Sám hối tứ phủ thánh cậu: cậu cả cậu đôi cậu bơ cậu bé
Con lạy ngũ dinh thần tướng-ngũ hổ thần quan
Con lạy thanh xà tướng quân- bạch xà tướng quân

Con lạy công đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.
Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện, thổ địa thần kỳ thần linh bản xứ
Đê tử con là:...............................................................................
Ngụ tại:.............................................................................................
Kim niên kim nguyệt ,cát nhật lương thời
Mậu tý niên...nguyệt.....thời
Đệ tử con nhất tâm nhất lễ đêm tưởng ngày mong nhất tâm chí thiết nhất dạ chí thành
nhất tâm tưởng vạn tâm cầu -tu thiết nhang hoa lễ vật tờ đơn cánh sớ
Mang miệng tới tâu-- mang đầu tới bái--cửa đình thần tam tứ phủ .
Trên mẫu độ dưới gia hộ mẫu thương --vuốt ve che chở --phù hộ độ trì
Cho con: ba tháng hè chín tháng đông--đầu năm chí giữa nửa năm chí cuối ,
Tứ thời bát tiết--tháng thuấn ngày nghiêu--phong thuận vũ hòa --tai qua nạn khỏi.
Mẫu cho con được sáng hai con mắt-- bằng hai bàn chân--,
Mẫu ban lộc dương tiếp lộc âm-- cho lộc mùa xuân cho tài mùa hạ
Cho tươi như lá cho đẹp như hoa--phúc lộc đề đa tiền tài mang tới,
Mẫu cho con lộc ăn lộc nói-- lộc gói lộc mở,lộc gần lộc xa,
Hồ hết lại có hồ vơi lại đầy--điều lành mang đến điều dữ mang đi.
Mẫu cứu âm độ dương cứu đường độ chợ-- vuốt ve che chở nắn nở mở mang.
Cải hung vi cát cải hạo vi tường--thay son đổi số nảy mực cầm cân.
Mẫu phê chữ đỏ Mẫu bỏ chữ đen--cho con đựơc trăm sự tốt vạn sự lành
Trên quý dưới yêu trên vì dưới nể--cho gặp thầy gặp bạn gặp vạn sự lành
Mẫu ban danh ban diện ban quyền-- cho con có lương có thực có ngân có xuyến- tài như xuyên chí lộc tựa vân lai
Cầu tài đắc tài cầu lộc đắc lộc --cầu bình an đắc bình an
Trồng cây đắp phúc cho con được nở cành xanh lá phúc lộc đề đa
Cho trên thuận dưới hòa-- trên bảo dưới nghe trên đe dưới sợ.
Mẫu cho nước chảy một dòng-- thuyền xuôi một bến,bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ
Năm xung Mẫu giải xung-- tháng hạn giải hạn
Cho gia trung con dc trong ấm ngoài êm nhân khang vật thịnh duyên sinh trường thọ
Đệ tử con người trần mắt thịt nhỡn nhục nan chi việc âm chưa tường việc dương chưa tỏ.
Tuổi con còn trẻ, tóc con còn xanh ăn, con ăn chưa sạch, con bạch chưa thông
Ăn chưa nên đọi, nói chưa nên lời, không biết kêu sao cho thấu, tấu sao cho tường ,
Con biết tới đâu con tâu tới đấy, ba điều ko sảy bảy điều ko sai.
Trăm tội mẫu xá vạn tội mẫu thương.Mẫu xá u xá mê xá lỗi xá lầm.
Mẫu soi đường chỉ lối cho con biết đường mà lội biết lối mà lần
Hôm nay đệ tử con lễ bạc tâm thành con giàu một bó con khó một nén giàu làm kép hẹp làm đơn,
Thiếu mẫu cho làm đủ vơi mẫu cho làm đầy .
Mẫu chấp kỳ lễ vật-- chấp lễ chấp bái
Chứng tâm cho lời kêu tiếng khấn của con bay như phượng lượn như hoa tới cửa ngài ngồi tời ngai ngài ngự
Cho con sở nguyện như ý sở cầu tòng tâm .
Con nam mô a di đà phât(3 lần)


Bản 4:

Nam mô A di đà Phật. 3 lần
Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư Phật mười phương
Con lạy tam phủ thần vương tứ phủ thánh đế
Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng đế ,Tả quan Nam Tào Hữu quan Bắc Đẩu
Con kính lạy Vua Cha bát Hải Động Đình
Long Cung trấn thủ coi trấn Thái Ninh
Thoải quốc động đình Anh Linh giáng hạ

Con lạy tứ phủ chúa bà Tam Toà Thánh Mẫu
+ Mẫu đệ nhất cửu trùng thiên tiên thanh vân công chúa
+ Mẫu đệ nhị địa tiên Vân Hương Thánh Mẫu ,Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mấu.
+ Thánh Mẫu Đệ Tam Xích Lân long Nữ Thủy Quốc Động Đình
+ Đức Mẫu thượng ngàn Tuyên quan trấn ngự, Tuần Quán Đông Cuông, đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh
Ngũ vị tôn ông hội đồng quan lớn
+ đệ nhất Thượng Thiên
+đệ nhị thượng ngàn
+đệ tam thoải phủ
+đệ tứ khâm sai
+ Quan đệ ngũ tuần tranh

Vâng lênh bài sai thỉnh mời chầu chúa. Sơn Lâm công chúa tứ phủ chầu bà Trên ngàn dưới thoải cai quản sơn trang các chúa mán mường nùng dao sơn trại

Đệ tử bách vái tứ phủ Thánh Hoàng
Ơn lộc sơn trang các cô Thổ mán anh linh lai giáng tứ phủ cậu hoàng
Cung thỉnh hạ ban ngũ dinh thần tướng nhị vị xà thần
- Con lạy cộng đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.
- Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện
Đê tử con là:...............................................................................
Cùng đồng gia quyển đẳng, nam nữ tử tôn
Ngụ tại:.............................................................................................
Hôm nay là ngày ........ tháng ….năm mậu tý

Đệ tử con nhất tâm nhất lễ một dạ chí thành có cây hương tờ vàng cánh sớ trước cửa đình thần tam tứ phủ . Cúi xin chư vị Phật Thánh giáng ngự điện tiền chứng tâm công đức, phù hộ độ trì, hộ quốc an dân, độ cho bách gia trăm họ muôn nhà muôn lộc, phúc đức tiến tài. Độ đệ tử con ngũ phúc lâm môn, bốn mùa cát khánh, vun trồng cây đức, tụ phúc tụ tài ,trừ tai giải ách, muôn sự thành công, hanh thông hạnh phúc
Nay đệ tử con nguyện lòng thành kính chẳng dám đơn sai, Kính xin chư vị tôn thánh chứng lễ, tâm lưu ân giáng phúc

Nam mô a di đà Phật (3 lần)

Nguồn bài viết : Soạn Giả Phúc Yên 
Link :  PHÚC YÊN 


Nắng vàng vàng thì ông đồng đi làm về! Chỗm trệ trên chiếc xe tồng tộc, mồ hôi vã ra với đủ các thứ quà: hoa quả, vàng tiền, trầu cau... chuẩn bị cho ngày mai nhà có giỗ. ông đồng chào mẹ rồi vội vã đi ra giếng. Trong nhà bà mẹ nói vọng ra : Con ơi sáng nay mẹ đi chợ mua ốc, bánh đa nướng, gạo nếp cẩm rồi... còn thiếu đậu phụ, với bánh giầy thì sớm mai mua con nhỉ ? Em dâu mày nó bắt được ít cáy ở ruộng nhà, mai mẹ nấu canh cua với bún thế là có canh...

Ông đồng vẫn vội vã vồn nước giếng lên mặt cho tỉnh táo, sau một chặng đường dài từ nơi làm về cùng với cái nắng đầu hạ nồng nàn khiến trong người mệt mỏi ,  ông chỉ trả lời một câu gọn nỏn: Vâng ạ ! rồi đi mau sang sân Phủ xem mấy bác thợ còn đang cắm cúi xây tường hoa bao quanh . Giọng ông lo lắng :  Mấy chú ơi kiểu này cháu lo quá, mai đã là Giỗ Mẫu , chẳng còn mấy là hầu rồi mà mọi việc còn thế này thì ... anh cả lên tiếng: Chú cứ yên tâm cả nhà sẽ cố gắng hoàn thiện cơ bản trước khi Hầu Ngài hai ngày . Tay rót nước chè xanh mời mọi ngưòi lòng ông đồng thấy yên tâm hẳn.

Sau bữa cơm tối quyếnh quáng, ông thân lên nhà trên chuẩn bị viết sớ sách, bà thân với con dâu út cũng vội vàng sửa lễ ngày mai. ông đồng ngồi trên bực cửa hỏi mẹ : ơ thế ngày mai nhà ta có bao người vậy mẹ ?
Bà thân nhẹ nhàng : Mẹ thấy con cuối tuần trước nói lần này giỗ Mẫu nhà mình cơm canh còn tất cả đợi đến Rằm, sớm nay các bác các cô với ông Cả nhà mình có hỏi mẹ cũng bảo vậy ! Lại chỉ thấy vâng một cái nhẹ tênh, ông đồng thay đồ vòng qua sân lên Phủ.

Tiếng chuông , tiếng mõ đều đều sau khoa Phổ Môn, ông tụng kinh Địa Mẫu. Thằng Tôm cháu ông đi chơi dưới ngoại giờ mới về í ới ngoài sân Phủ , miệng vừa lạy cụ lại vừa gọi bác ngọng nghịu . Ông chỉ cười rồi lại quay vào tụng kinh tiếp , khi cô em dâu bế thằng Tôm ra ngoài miệng dịu dàng : Lạy các cụ, cháu còn nhỏ cho 
con xin.
Giọng bà thân mắng iu cháu: bố anh chỉ được cái mau chân, mau miệng thôi!
nhà ở biệt lập , mà phúc đức cho ông đồng lại có gia trung hoà thuận chứ hầu hạ Bồn Phủ đâu có dễ . Bạn bè , rồi những người đến lễ bái thường khen thế, những lúc như vậy chỉ thấy ông thoáng vui , bởi lòng ông cả trăm ngàn mối.

Năm giờ sáng ông vừa thức giấc thì đã thấy dưới nhà lịch kịch , xoong chảo , tiếng cười nói vừa nghe của mấy người đến giúp việc. Hôm qua chắc mệt quá mà bác cả ngủ quên vẫn chưa dậy bà nhỉ ? Tiếng chị Uyên hỏi bà thân: ừ, chắc thế cô ạ !

Tiếng dép lẹp kẹp , ông đồng đi xuống chào mọi người rồi đi ra vườn , mùi hoa cau , hoa bưởi... dìu dịu , ngọt ngào khiến lòng ông phấn trấn. đang lòng vòng quanh sân tiếng chuông điện thoại reo, bản văn Công đồng ông mới cài làm nhạc chờ vang lên hào khí. ông bắt máy, bên kia giọng người một người đàn ông lạ: Dạ Thầy đó ạ, con Xuân hôm rồi đến mà không có Thầy ở nhà... ông nhẹ nhàng: Vâng, nhưng tôi không phải thầy anh anh ạ, con nhà Thánh xin anh cho tôi nói thật... cuộc hội thoại tiếp tục... ông gọi ông thân: Bố ơi có anh Xuân ở Quảng Ninh xin về làm lễ ạ, bố giúp anh ấy một lá sớ cúng Mẫu nhé! ông thân trong nhà đang điền tên mấy người con nhang của phủ đáp: ừ, bố biết rồi.

Lễ nghi đã chỉnh chu , trên Công đồng bày mâm ngũ quả , trầu cau , hương hoa ly, hoa cúc , ngọc lan hoà quyện với nhang trầm, nhìn lên Tam toà ,  ông Đồng thấy thanh tâm cưòi tủm tỉm. Đài âm dương trong tay ông tung lên thành kính , gia quyến cùng con công đệ tử đồng thanh: nam mô a di đà... Tiếng mõ, tiếng kinh a Di đà lại vang vang, thánh thót... Ngày Tiệc Mẫu.

bài viết :  Phủ Triều Linh Từ
Gửi tặng : mantico blog 

Đây là vấn đề: trong phụng vụ Công giáo cũng như trong lễ nghi Á đông, người ta vẫn xông hương hay đốt hương không những trước thi hài người quá cố, mà cả trước người còn sống nữa. Trong Thánh lễ, chủ tế, các thừa tác viên, lễ sinh và cộng đoàn đều được xông hương. Người xưa khi nghe đọc sắc chỉ của vua thì bày hương án, đốt hương và quỳ mà nghe sứ giả đọc. Nhưng không bao giờ cúng người sống.

I. NHỮNG Ý NGHĨA (CÓ THỂ GẶP THẤY) CỦA VIỆC CÚNG TẾ.

1- Việc cúng tế đã hoàn toàn mất hết ý nghĩa.
Trường hợp thấy tận mắt: Bà chủ xe khách mỗi sáng bắc ghế, vói tay lên am lấy mấy cây hương tàn quăng xuống đống rác dưới am, hất ly nước lạnh vào đống rác (giẻ rách, vỏ chuối, tàn thuốc...), đặt lên am ly nước khác, thắp nén hương khác, thế là xong. Nhận xét: Ở đây, việc cúng tế hằng ngày (ly nước) đã mất hết ý nghĩa, vì đáng lẽ bà chủ phải uống ly nước đó. Chỉ còn là một nghi thức máy móc mà thôi.

2- Người chết hưởng hơi.
Trường hợp thường thấy: Trước quan tài, bày chén cơm quả trứng. Sau đó đem quăng (có thể đổ cho heo). Nhận xét: Đây là việc mê tín: tin rằng người chết hưởng của ăn vật chất. Nghịch đức tin.

3- Tỏ lòng hiếu kính.
Bày tỏ lòng mình muốn phụng dưỡng ông bànhư khi còn sống, tiếc rằng ông bà không còn để hưởng của ăn ngon béo đang bày ra. Thí dụ: Vua Minh Mạng vi hành ban đêm, nghe tiếng khóc than trong gia đình nọ. Vua vào, thấy thầy thư lại ngồi trước bàn thờ tổ tiên mà khóc. Vua hỏi duyên cớ, thầy kể: lương tiền ít quá, ngày giỗ ông bà không sắm được mâm cỗ để cúng ông bà. Nhận xét: Đây là quan niệm quá vật chất về hạnh phúc: phải có của ăn ngon béo mới tỏ lòng hiếu kính xứng đáng và đúng mức. Nghịch với đức cậy Phúc Âm: Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người (x. Mt 6,32t).

4- Trình tổ tiên thức ăn từ sản phẩm.
Do mình làm ra hoặc do ông bà để lại và mình đã làm cho phát triển. Thí dụ: Sau khi thống nhất sơn hà, vua Gia Long làm lễ tế cáo tại nhà Thái miếu: trình tổ tiên nhà Nguyễn sản phẩm tượng trưng của giang sơn mà các tiên vương đã gầy dựng, và mình đã giành lại rồi mở mang thêm(Đàng Trong và Đàng Ngoài). Vua nước Ngô là Phù Sai bại trận về tay vua nước Việt là Câu Tiễn. Phù Sai xin tha, Câu Tiễn thương tình cấp cho một ấp 100 hộ để hưởng hoa lợi tại đất Việt. Phù Sai xin chết. Lý do: không còn gì để cúng tế tổ tiên, có cúng thì cúng vua nước Việt mà thôi, như lời nhắn với Câu Tiễn: "Tôi già rồi, không thờ đức vua được nữa".

Nhận xét: Đây là quan niệm coi vật chất là giá trị cao nhất: chỉ có sản phẩm vật chất mới làm cho tổ tiên được vẻ vang. Nghịch Phúc Âm vì: a/ giá trị con người không phải ở nơi vật chất, mà nơi đời sống công chính. Dụ ngôn người giàu khờ dại: "Làm giàu cho mình thay vì làm giàu trước mặt Thiên Chúa" (Lc 12,15tt). b/ trường hợp sản phẩm đó là do ông bà hoặc chính mình làm nghề bất lương mà gầy dựng nên: của cải vật chất trở thành bằng chứng ô nhục, không phải vinh dự cho cả ông bà lẫn con cháu.

5- Trình tổ tiên sản phẩm nhờ ơn tổ tiên mà có.
Đây là quan niệm cho rằng chính ông bà đã ban cho mình sản phẩm mình có ngày nay. Quan niệm này hiển nhiên nghịch với đức thờ phượng: đức thờ phượng dạy ta phải nhìn nhận mọi sự mình có là bởi Thiên Chúa mà ra. Đó là "đạo" Ông bà, thờ ông bà như Tạo Hóa. Kết luận phần này: những ý nghĩa có thể gặp thấy trong dân gian không thể chấp nhận được, vì nghịch với giáo lý Kitô giáo.

II. THỬ TÌM Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA VIỆC CÚNG TẾ.

Cúng tế là việc phổ biến trong hầu hết các tôn giáo (trong các tôn giáo lớn, chỉ Hồi giáo là không có cúng tế). Vì vậy, phải xem đó là hành vi tôn giáo sơ khai, mà ý nghĩa đích thực đã bị lệch lạc theo thời gian.

1- Tiêu chuẩn làm nên ý nghĩa đích thực của cúng tế.

Ý nghĩa đích thực phải đạt được tiêu chuẩn: a/ giải thích được việc cúng tế đối với mọi đối tượng cúng tế trong các tôn giáo: Trời, Phật, thần minh, ông bà... b/ giải thích được việc tế lễ trong Do thái giáo Cựu Ước và thánh lễ Kitô giáo.

2- Trình bày ý nghĩa đích thực của việc cúng tế.

a/ Con người là sinh vật có ý thức tôn giáo. Nhờ lý trí con người nhận thức rằng trong vũ trụ có một trật tự chung: vật lý, sinh lý, luân lý; muôn loài đều cùng một nguồn gốc và đều tuân theo trật tự chung tùy theo cấp bậc của mình: vật chất tuân theo trật tự vật lý, thảo mộc và cầm thú tuân theo trật tự sinh lý, con người tuân theo trật tự luân lý. Đây không đặt vấn đề: độc thần và đa thần, cái nào có trước? Ý thức trật tự chung có trước, và dù là đa thần đi nữa, thì các thần minh đều nằm trong trật tự đó.

b/ Do trật tự đó, thế giới hữu hình được ràng buộc (religare, religio) với thế giới vô hình. Con người nhận của cải vật chất để sinh sống; nhờ sự sống đó, con người mới hòa mình theo trật tự luân lý. Nói cách khác, con người tiếp thu sự sống sinh lý để từ đó phát sinh ra đời sống luân lý xã hội. Mọi sinh hoạt xã hội (quan hôn tang tế) chỉ có thể có nhờ sự sống sinh lý nhận được từ của cải vật chất.

c/ Chính trong khi ăn uống, con người thực hiện nhịp cầu (pontifex) từ trật tự sinh lý sang trật tự luân lý. Mọi sinh vật đều có một sinh hoạt chính yếu: ăn và dự trữ thức ăn. Nhưng nơi con người, cái sinh hoạt xem ra hèn hạ đó lại cung cấp cho con người sức sống để hòa mình theo trật tự trời đất. Như vậy, khi ăn uống và dự trữ thức ăn thức uống, con người làm một việc thiêng thánh: từ vật chất đi vào thế giới thần linh, thế giới của trật tự luân lý.

d/ Đó là ý nghĩa việc cúng tế: ăn uống với ý thức rằng mình nhờ thức ăn thức uống mà hòa mình vào trật tự thiêng thánh của trời đất. Ăn uống với ý thức đó là làm một việc thiêng thánh: sacrificium (cúng tế) là sacrum facere, làm sự thiêng thánh.

e/ Như vậy, cúng tế không phải là dâng cho thần minh (hay ông bà) lương thực, mà trái lại, là trình với thần minh phẩm vật đã nhận được từ thần minh, và ăn (hay để dành sau sẽ ăn) với ý muốn lấy từ đó sức sống để thực hiện trật tự luân lý, thực hiện đạo tự nhiên, đạo Trời đất.

III. ÁP DỤNG VÀO VIỆC CÚNG TẾ TRONG CÁC TÔN GIÁO

1- Trong đạo thờ Trời

Trong một nước, vua là người chịu trách nhiệm tế Trời. Sau đây là vài trường hợp điển hình:
a/ Nhà Chu (thế kỷ 12-3 trước CKT) phân chia thiên hạ cho chư hầu cai trị. Vua nhà Chu chỉ giữ một phần đất nhỏ trên sông Hoàng Hà, hàng năm tế trời thay mặt thiên hạ (tế giao). Ý nghĩa của việc cúng tế này là: Trời đã giao thiên hạ cho nhà Chu, vua nhà Chu nhận thực phẩm Trời ban, nhờ đó vua sống để tiếp tục duy trì trật tự thiên hạ theo ý Trời.
b/ Với chế độ thiên tử và chư hầu như trên, vua nhà Chu dần dần mất hết thực quyền. Chư hầu thôn tính lẫn nhau, thiên hạ loạn lạc. Thỉnh thoảng có một chư hầu nổi lên, như Việt Câu Tiễn (thế kỷ 5 trước CKT) lập trật tự trong vùng hạ lưu sông Dương Tử, các nước chư hầu trong vùng đều phục và tôn làm bá vương. Vua nhà Chu tế giao, gởi phần thịt cho Câu Tiễn, với ý nghĩa là Câu Tiễn nhận lấy thức ăn để tiếp lấy sức sống mà phụ lực với thiên tử duy trì trật tự theo ý Trời.

c/ Cuối thời Chiến quốc (thế kỷ 3 trước CKT), nước Tần diệt nhà Chu và mưu toan diệt luôn 6 nước chư hầu còn lại. Thái tử Đan nước Yên sai Kinh Kha đi giết vua Tần (sau này là Tần Thủy Hoàng), bày bàn thờ tế trên sông Dịch để tiễn Kinh Kha, ý nghĩa là: Kinh Kha nhận thức ăn để tiếp lấy sức sống mà thi hành kế hoạch của thái tử Đan, kế hoạch trừ bạo chúa để tái lập trật tự thiên hạ theo ý Trời.

2- Trong đạo Phật và đạo Ông bà. a/ Cúng Phật có nghĩa là: trình những thức ăn (hoa quả) mà thiện nam tín nữ và nhất là sư sãi sẽ dùng để sống theo giáo lý nhà Phật, giáo lý từ bi hỉ xả, diệt khổ, giác ngộ chúng sinh v.v...

b/ Cúng Ông bà theo đúng ý nghĩa là: trình phẩm vật mà mình sẽ dùng làm thức ăn, nhờ đó nhận được sức lực để tiếp tục cuộc sống theo trật tự trời đất mà Ông bà đã nhận rồi truyền lại cho con cháu.

3- Ý nghĩa biến dạng.

a/ Ý nghĩa đích thực đã trình bày ở trên (phần II) bắt đầu biến dạng khi có quan niệm: không phải thần minh (hay Trời, Ông bà) cho con người, mà con người cho thần minh thức ăn. Quan niệm lệch lạc tiếp theo sau đó là: con người có thể dùng của ăn mà mua chuộc thần minh, rồi: tai ương xảy đến là vì thiếu sót trong việc dâng cúng cho thần minh. Từ đó dẫn đến các ý nghĩa (sai lạc) đã trình bày ở phần I.
b/ Khi cúng tế loài động vật thì phải giết con vật. Từ đó nảy sinh ra quan niệm: thần minh khát máu, thần minh hài lòng khi thấy con vật đau đớn. Thí dụ: một dân tộc vùng cao có tục lệ khi tế thần thì cột con trâu nằm bẹp trên mặt đất, rồi lấy dao mà chặt lần từ mông lên, khiến con trâu phải đau đớn trăm lần mới được chết; làm thế, mới hả lòng thần.

c/ Biến dạng tồi tệ và ghê tởm nhất: tế người, có thể là tù binh nhưng cũng có thể là con ruột của vua quan; có khi quý tộc tranh giành nhau vinh dự được cúng con của mình. Thí dụ: dân Aztec (Mêhicô trước thế kỷ 15) ra trận cố bắt sống địch chứ không đả thương, để có thể trói sống trên bàn thờ, rồi rạch ngực, móc tim (còn đập) dâng lên thần. (Nhờ đó quân Tây Ban Nha liều chết, lấy ít thắng nhiều, tiêu diệt đế quốc Aztec).

KẾT LUẬN

Việc tham dự lễ nghi cúng bái Ông Bà Tổ Tiên chỉ có thể là chính đáng khi nắm vững được ý nghĩa đích thực của việc cúng tế. Hơn thế nữa, nếu ý nghĩa đó là đúng đắn, có thể tiếp nhận việc cúng bái vào trong phụng vụ Kitô giáo với kết quả phong phú. Đó là đề tài của một bài sau, nếu được phép và thuận tiện.


Nguồn: Hồ Văn Quý Tổng giáo phận Huế

Tiết Thượng Tỵ mùng 3 tháng Ba (ngày Tỵ đầu xuân), người Việt Nam ta có tục lệ ăn tết “Hàn thực” (theo tiếng Hán Việt có nghĩa là ăn nguội), dân gian gọi nôm na là Tết mùng 3 tháng Ba hay Tết “bánh trôi bánh chay”.
Về nguồn gốc, có thể coi đây là một lễ thức nông nghiệp truyền thống ở Trung Hoa cổ đại, được đan xen vào văn hóa dân gian Việt Nam. Truyện xưa kể lại rằng nhà Tấn có người tôi trung là Giới Tử Thôi, sau bị vua hắt hủi nên dắt mẹ vào rừng ở, đến khi vua nhớ ra công trạng mời về thì Thôi nhất quyết không chịu, vua không có cách nào liền cho phóng hỏa đốt rừng hòng buộc Thôi phải đưa mẹ ra. Rốt cuộc cả 2 mẹ con chịu chết cháy. Đó là ngày 3 tháng Ba. Vua thương xót cho lập miếu thờ, hàng năm đến ngày này thì làm giỗ, có tục kiêng đốt lửa (thường làm trong 3 ngày = thời gian canh người chết), đồ ăn trong nhà phải làm sẵn từ hôm trước để hôm sau ăn lạnh (nguội). Vì vậy mà gọi là “Hàn Thực”. Đến thời Tống, sau 3 ngày còn thực hiện lễ thức “nhóm lửa lại” rồi mới nấu nướng như ngày thường. 






Thực ra, “tắt lửa” và “nhóm lửa lại” là những nghi lễ nông nghiệp có nguồn gốc xa xưa lắm rồi. Người Việt ta ăn Tết Hàn thực, có lễ thức làm bánh trôi bánh chay cúng gia tiên nhưng không kiêng đốt lửa, cũng chẳng mấy ai nhớ hay biết gì đến Giới Tử Thôi. Theo tục lệ cổ truyền người Việt, mùa xuân lấy tiết mùng 3 tháng Ba làm ngày tế tổ, đánh dấu sự chuyển thời tiết hàng năm từ mùa xuân sang mùa hạ. Vì thế đây còn là một ngày hội mùa, một dịp giải trí vui chơi, gặp gỡ giao duyên trước khi người Việt tiễn biệt những ngày ăn chơi của mùa xuân.

Món ăn nguội mà người Việt thường dùng trong Tết mùng 3 tháng Ba là “bánh trôi” và “bánh chay”. Bánh trôi là thứ bánh tròn, màu trắng, nhỏ như viên bi đất. Bánh được làm bằng bột gạo nếp bọc nhân đường phèn hay mật phên xắt vuông hạt lựu. Người ta nặn bánh rồi bỏ vào nồi nước đang sôi. Đun một lúc cho tới khi bánh nổi lên thì vớt ra đĩa và rắc vừng lên trên. Khi ăn, bánh có vị ngọt của đường/mật, vị thơm của vừng và cái dẻo ngon của bột nếp hòa quyện vào nhau rất tinh tế. Dân gian coi hình tròn của bánh là tượng trưng cho Trời (Dương), hình vuông của nhân là tượng trưng cho Đất (Âm). Trời bao bọc đất, Âm Dương tan hòa vào nhau. Ông cha ta quan niệm đó là sự giao hòa của vũ trụ, tạo vật và con người, đó cũng là lúc vạn vật sinh sôi nảy nở, cây cối tốt tươi…. Một mô típ tín ngưỡng phồn thực phổ biến trong cư dân nông nghiệp.

Còn có một chuyện kể khác về ý nghĩa của bánh trôi bánh chay. Ấy là sự mô phỏng tích trăm trứng trăm con của truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ. Lễ tục này được diễn lại vào lễ hội Đền Hùng (10/3 âm lịch) và ngày hội đền Hát Môn (5.3 âm lịch) – Đền thờ Hai Bà Trưng. Trong lễ này, dân làng làm một mâm gồm 100 cái bánh trôi để dâng cúng, sau khi thắp hương xong họ chia số bánh làm 2 phần: 50 cái đặt trên bè sen thả xuống sông, 50 cái đem rước đặt lên đỉnh núi. Đó cũng chính là biểu tượng của sự phân chia Cha Rồng Mẹ Tiên với 50 người con theo mẹ lên non và 50 người kia theo cha xuống biển. Tập tục này như vậy không chỉ mang yếu tố tín ngưỡng đơn thuần mà còn là ý thức nhắc nhở con cháu người Việt luôn nhớ tới cội nguồn, khẳng định sự đoàn kết các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam. Sau khi xong lễ đặt và thả bánh, mọi người được phép ào vào tranh nhau lấy bánh để cầu phúc lộc…


Ngoài bánh trôi còn có bánh chay, hay “bánh dùng”/”bánh mật” như thường gọi ở một số làng quê vùng Đất Tổ (Vĩnh Phúc,Phú Thọ). Bánh này hình tròn bẹt, cũng được làm bằng bột gạo nếp, khác ở chỗ nhân bánh làm bằng đỗ xanh đãi sạch vỏ rồi đồ chín được bóp nhuyễn. Khi ăn người ta không bày ra đĩa mà xếp vào bát, mỗi bát 3 chiếc bánh rồi chế nước đường hoặc bột sắn dây quấy loãng, thả thêm trên mặt bát một ít đỗ xanh đồ chín hoặc vừng. Người ta cho rằng 3 chiếc bánh tượng trưng cho Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất, đỗ và vừng là các vì sao lớn nhỏ… tất cả hợp thành vũ trụ trong món ăn. Tuy nhiên đấy là cách diễn giải cầu kỳ và lý thuyết của người phố thị, còn ở chốn thôn quê bình thường thì món bánh mật/bánh dùng được làm giản đơn hơn: Bột nếp hòa nước nguội nặn thành bánh tròn dẹt vừa trong lòng bàn tay; không cần nhân bánh; hòa mật (mía) với nước đun sôi cho vừa sánh thì thả bánh vào; bánh chín cho ra bát hoặc đĩa lõm, chan nước mật cho ngập mặt bánh, có thể rắc thêm vừng hoặc ăn vậy cũng rất ngon. Bánh này có vị ngọt đậm đà của mật kết hợp với sự dẻo quánh của nếp thơm tạo nên một ấn tượng dân dã, khó quên. Đã từng là một món quà mà lũ trẻ con rất ưa chuộng trong những năm tháng của ngày xưa, chỉ được thấy vị ngọt của kẹo của đường trong một năm đôi ba lần tết, tiệc.

Bánh trôi và bánh chay là hai thứ bánh có hương vị đặc biệt riêng của Việt Nam, lại có ưu điểm là dễ làm, chỉ xem hoặc đọc qua một lần là biết. Vì thế cho nên bánh trôi và bánh chay vẫn được dân gian bảo lưu truyền từ đời này sang đời khác, ở vùng này vùng khác. Đây là một trong những nét đẹp văn hóa dân tộc của người Việt, 
PM : " Mọi người vào blog , mời mỗi người 1 đĩa bánh trôi , 1 bát bánh chay " đề nghị không chen lấn xô đẩy "





8h sáng, bản hội lên đường, thẳng tiến đền Ông Hoàng Bảy Bảo Hà, Lào Cai. Đường mới làm xong, phẳng lì, trơn nhẵn như dải lụa, mềm mại, quanh co uốn khúc..Hai bên đường toàn gương cầu, xe nhô ra, hụp vào, xe nọ khuất tầm xe kia...Thân xe dài, đầu xe bên này, đuôi vắt bên khác, mình say lử cò bợ, nôn thốc nôn tháo, nằm bẹp như con gián...Mọi người an ủi, bảo là đêm qua ngủ muộn, lại suốt ngày nghe đt, nhắn tin, điều hành xe cộ...nên mới thế! Riêng mình, ngờ ngợ một điều...bị Ông quở, bởi vì sớm nay, sợ mọi người mệt, nên mình đã gàn, bảo ngủ rồi về, không lên Ông nữa...Y như rằng...lầm rầm khấn nguyện "xin Ông tha cho, con biết lỗi ạ"...Non 100km, tính từ Mẫu Đông Cuông...mãi rồi cũng tới nơi...Đền Bảo Hà< đền thờ thần vệ quốc Hoàng Bảy >, được xây dựng ngay chân đồi Cấm, bên bờ sông Hồng, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
                    
Khu vực đền, phong cảnh hữu tình "trên bến dưới thuyền" theo thuyết "phong thủy", có tiền án, hậu trảm, tả phù, hữu bật, là nơi thờ một danh tướng đời Lê, có công dẹp giặc, giữ nước, chiêu dụ nhân dân khẩn điền, khai mỏ, xây dựng quê hương...Đến thăm đền Ông, có thể đi bằng dường bộ, đường thủy, đường sắt một cách tiện lợi.
                     
Ông là danh tướng thứ bảy họ Nguyễn lên trấn phủ vùng biên ải, tiến dọc sông Hồng đánh đuổi giặc cướp vùng Vân Nam , giải phóng châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. Trong một trận chiến đấu không cân sức với giặc phương Bắc, ông đã anh dũng hy sinh, xác ông trôi theo sông Hồng tới Bảo Hà thì dạt vào bờ...Các triều vua Minh Mệnh, Thiệu Trị đã tặng ông danh hiệu "Trấn An hiển liệt", các triều vua nhà Nguyễn sắc phong ông là "Thần Vệ Quốc". Ngày 7/9/1998, Đền Bảo Hà được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Ngày 17/7 âm lịch hàng năm là ngày giỗ ông, khắp nơi náo nức trẩy hội, đến hương nhang, cầu ông phù hộ cho làm ăn dược an khang, thịnh vượng! Vì Ông là vị Thánh trong lòng dân, chiêu mộ được cả người Dao, người Thổ và đặc biệt là người "Nùng áo xanh" khẩn điền, khai mỏ...nên nhân dân rất yêu quí, ngưỡng mộ Ông! Họ dâng Ông quần là áo lượt, y phục mã ngựa, dâng cả các cô tiên theo hầu, bàn đèn thuốc phiện...bộ bài lá, tam cúc, cờ tướng...thôi thì đủ sở thích của con người....
                    
Con nhang đệ tử của ông, vì vậy rất đông, ở khắp mọi nơi...Từ trong đền ra ngoài sân, tấp nập chiếu hầu, tiếng hát nỉ non, đàn ca sáo nhị, trống phách tưng bừng!
                    
Bản hội dâng Ông lễ mặn lễ ngọt, y phục mã ngựa, sớ sách tiền vàng...Mình dâng thêm thẻ bài, lệnh của công ty, cầu cho các con ngựa sắt thượng lộ bình an, đi đến nơi về đến chốn, an toàn tuyệt đối, trên từng cây số!...Đi đâu cũng mua công đức, trước là lễ tạ dâng hương, sau là góp phần tu tạo...Thấy lòng nhẹ nhõm, phấn khởi, sung sướng!...Bữa trưa dọn ra, cả đoàn đói ngấu...Bắp cải luộc, tô nước nghi ngút thơm mùi gừng, đậm đà chút gia vị, thịt gà rang, ngan luộc, lợn sữa quay, kim chi muối, xoài xanh dầm mắm đường tỏi ớt uống rượu, trứng đúc thịt, bánh chưng dền xanh...Ăn như chưa bao giờ được ăn vậy! Tráng miệng bánh gio mật, chè sen thơm ngát, nóng giãy tay...hồn bay bay nghe dư âm cuộc sống!...Sang đền Cô Tân An, dâng Cô Bé, Cô Bơ quần áo, vàng mã, dâng công đức, sớ sách xin Cô cho khỏe mạnh, bình an, Cô thương các Ún Tiểu thông minh dĩnh ngộ, học hành tấn tới...Xin Cô phù hộ cho Khanh gặp quí nhân phù trợ, thành công trong học tập, tiếp tục đạt học bổng ở những năm tiếp theo!
                    
                    
Cả đoàn ra về, hí hửng vui mừng! Chuyến đi đã thành công mỹ mãn, được bao nhiêu việc! Lên xe, cơm no rượu say, nghe nhạc, ngủ khì...Càng chắc chắn mình bị Ông quở, may mà... Hú vía! 2 ngày nhận 6 chuyến xe, trôi chảy trót lọt, cấp cứu tức thì. cháy xe khét lẹt, vẫn giải quyết ngay và luôn < Ơn Trời, vái Phật, các Ngài thương!>...
                         Đường đi gấp khúc quanh co...
                   Tưởng rằng không đến...Ông cho...hết về...
                         Đã đi..đã hứa...đã thề...
                   Lần sau xin nhớ một bề...trung trinh!
                        Linh thiêng...rất đỗi...hiển linh...
                  Ngàn năm tạc dạ...tôn vinh...muôn đời!
......Đàn ca sáo nhị...thú chơi...
Ăn ngon mặc đẹp...vẽ vời bài quân
     Các nàng Tiên.. hát... quây quần
Bàn đèn thuốc phiện...muôn phần....đắm say!
                   Nhưng Ông vẫn nổi tiếng...hay...
               Lộc tài Ông vãi lát đầy...sơn lâm
                  Trời Nam nổi tiếng uyên thâm
              Ông cho một số...cả năm nằm dài!
       Vái lạy Ông! Vái lạy Ông!!!



BEE.NET.VN - Sáng 14/2 tại đình làng Thai Dương (thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế) đã diễn ra các phần chính Lễ hội cầu ngư với sự tham gia của hàng ngàn dân địa phương.
Theo thông lệ, Lễ hội cầu ngư làng Thai Dương cứ 3 năm diễn ra một lần để cầu cho mưa thuận gió hoà, dân làng làm ăn phát đạt. Lễ hội diễn ra trong hai ngày với các hoạt động như: lễ Cầu an, lễ Chánh tế, lễ Tưởng niệm, lễ Cầu ngư, đua thuyền trên phá Tam Giang…
Lễ hội là sự tái hiện một cách sinh động các hoạt động ngư nghiệp với mong muốn có một vụ mùa mới tôm cá đầy thuyền… Trong các phần lễ hội thì trò đánh "cá người" được xem là độc đáo nhất.
Một số hình ảnh lễ hội PV Bee.net.vn ghi lại:
Trong Lễ hội cầu ngư có Lễ Cung nghinh thần hoàng Thai Dương được rước đi khắp làng vào ngày 13/2
Trong Lễ hội cầu ngư có Lễ Cung nghinh thần hoàng Thai Dương được rước đi khắp làng vào ngày 13/2
Mặc dù mưa nhưng có hàng ngàn người đổ về xem lễ hội
Trời mưa nhưng hàng ngàn người vẫn đổ về xem lễ hội
Khai hội trò đánh
Khai hội trò đánh "cá người"
Những chiếc cần cầu cá đã mắc vào tham gia lễ hội
Những chiếc cần câu cá đã mắc vào tham gia lễ hội
Thuyền và người ra khơi
Thuyền và người ra khơi
Một bô lão trong là thả mồi nhử cá vào ăn (cá là các em học sinh)
Một bô lão thả mồi nhử cá vào ăn (cá là các em học sinh)
Thấy cá vào ăn các ngư dân buông lưới
Thấy cá vào ăn các ngư dân buông lưới
Và cá mắc phải lưới
Và cá mắc phải lưới
Một con cá đã bắt gọn
Một con cá đã bắt gọn
Gánh cá ra chợ đi bán
Gánh cá ra chợ đi bán
Và thành quả sau nhưng chuyến ra khơi
Và thành quả sau những chuyến ra khơi
Đắc Thành - Nguồn: Bee.net.vn.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.