bài viết trong chuyên mục "TIN TỨC"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy 2022 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN TỨC. Hiển thị tất cả bài đăng

Giáo sư Ngô Đức Thịnh, một trong những người dày công tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu đã có trao đổi với phóng viên về việc này và về "căn đồng".
 

Theo thông tin từ Cục Di sản văn hoá (Bộ VH-TT&DL), ngày 1/12, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, nước CHDC Liên bang Ethiopia, di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


Hiện nay, trong các hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng đang tồn tại ở nước ta, kể cả các Đạo giáo du nhập và tôn giáo bản địa đang có sự đan xen và hòa nhập, thì tín ngưỡng thờ Mẫu có những nét rất riêng biệt với yếu tố bản địa rõ ràng, mang đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Nét đặc trưng riêng đó được thể hiện ở lễ hội và nghi lễ, nó mang nhiều sắc thái độc đáo để phân biệt với tín ngưỡng, tôn giáo khác. Tập trung nhất là nghi lễ lên đồng (hay còn gọi là hầu đồng-hầu bóng), kèm theo các động tác múa đặc trưng của từng vị Thánh nhập đồng, thực hiện nghi lễ trong môi trường âm nhạc, ca hát tưng bừng.

Theo nhìn nhận của một nhà nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, trong môi trường hành lễ trang nghiêm và tâm linh như vậy, người có hệ thần kinh yếu rất dễ chịu tác động của không khí buổi lễ, dẫn đến làm thay đổi thần thức, cảm giác hoà nhập với không khí linh thiêng thần thánh. Trong cuộc sống thường nhật, những người như vậy cũng thỉnh thoảng hay rơi vào cảm giác ảo, mơ thấy thần thánh, thân mình bay bổng… Về mặt Thần kinh học, người ta cho rằng những người đó có hệ thần kinh yếu, dễ xúc cảm. Khi có tác động bên ngoài, tâm thức những người đó có xu hướng hoà nhập với môi trường.

Người ta gọi hiện tượng trên là “ốp đồng”. Người rơi vào trạng thái trên gọi là người bị ốp đồng. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Đức Thánh Trần, những người như vậy được cư dân tín ngưỡng gọi là người có căn đồng. Căn đồng là một hiện tượng được nhiều người quan tâm nhưng không phải ai muốn là có căn.


 GS Ngô Đức Thịnh. Ảnh Vietnamnet 

Trao đổi với phóng viên Chất lượng Việt Nam, Giáo sư Ngô Đức Thịnh, một trong những người dày công tìm hiểu đạo Mẫu và viết nhiều công trình giá trị cho biết: "Những người có căn đồng, tham gia hầu đồng - Đây không phải mê tín dị đoan mà nhân tố quan trọng nhất đó chính là niềm tin vào những thứ mang tính chất siêu nhiên, những cái con người không giải thích được”.

“Cho nên, việc hầu đồng sẽ giúp người đó tái hòa nhập cộng đồng tốt hơn”, Giáo sư Ngô Đức Thịnh nói.

Nét đẹp trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, thông qua các giá đồng, các vị "thánh" được lịch sử hoá, được tôn thờ là những người có nhiều công trạng với quê hương, dân tộc, chứa đựng tinh thần yêu nước. Đây cũng là kho tàng về những huyền thoại, truyền thuyết về các thần linh, trong đó có hình thức văn học truyền miệng, diễn xướng với âm nhạc, múa và các hình thức trang trí kiến trúc.

“Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu văn hoá trong nước và quốc tế đều cho rằng: Tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng mang giá trị văn hóa tinh thần cao đẹp của Việt Nam, đó là tinh hoa chắt lọc suốt chiều dài lịch sử, đó là biểu tượng cho sức mạnh cộng đồng, cho sự sáng tạo và phát triển không ngừng của dân tộc Việt Nam”, Giáo sư Ngô Đức Thịnh nhìn nhận.

H.N

Theo VietQ.vn

Đạo Mẫu quan tâm trước hết đời sống trần gian của con người về nhiều mặt như sức khỏe, tiền tài, may mắn, hạnh phúc...


"Tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức Người Việt" là chủ đề chương trình tọa đàm, trình diễn do Trung tâm Giao lưu Văn hoá Phố cổ Hà Nội, Diễn đàn Hát văn Việt Nam và Văn phòng Đại diện Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của LHQ (UNESCO) tại Việt Nam phối hợp tổ chức tại Hà Nội.


Diễn xướng hầu đồng do các thanh đồng thể hiện với các giá quan lớn đệ nhất, quan lớn đệ ngũ 

Tại buổi tọa đàm, các đại biểu khẳng định: Thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt có bề dày lịch sử lâu đời nhưng phát triển mạnh sau thế kỷ 16 với sự xuất hiện của Thánh mẫu Liễu Hạnh, trở thành thần chủ của đạo Mẫu tam phủ, tứ phủ. Đạo Mẫu quan tâm trước hết đời sống trần gian của con người về nhiều mặt như sức khỏe, tiền tài, may mắn, hạnh phúc...

Với việc lịch sử hóa hệ thống thần linh-hầu hết là những người có công trong quá trình dựng nước và giữ nước được nhân dân suy tôn là thánh- Đạo Mẫu đề cao chủ nghĩa yêu nước, đặc biệt là sự trân trọng với phụ nữ. Hiện nay, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt có ở nhiều địa phương, nhiều nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ.

Tuy nhiên, cũng như nhiều hiện tượng xã hội khác, Đạo Mẫu và Hầu đồng, bên cạnh những giá trị kể trên, tùy từng thời kỳ cũng thể hiện những khía cạnh phản giá trị; Lợi dụng Đạo Mẫu và Hầu đồng để mưu cầu lợi ích cá nhân và làm giầu bất chính. Tính phân tán tản mạn, tùy tiện trong thực hành nghi lễ đang là thực tế nhức nhối của Đạo Mẫu trong xã hội hiện nay.

Anh Võ Văn Nhất, Chủ nhiệm Diễn đàn Hát văn Việt Nam cho biết: "Đến thời điểm này thì đã bắt đầu có sự thăng hoa, cần có sự gìn giữ tín ngưỡng thờ Mẫu sao cho đúng. Mình phải nhìn vào những giá trị ngày xưa các cụ để lại. Ngày xưa khăn áo hầu đồng, nghi lễ và cách hầu đồng như thế nào thì các cụ đều có những chuẩn mực rõ ràng. Thời gian gần đây điều đó bị biến tướng đi. Do vậy mình phải tìm về những giá trị cốt lõi và gìn giữ nó trước khi tô vẽ thêm màu sắc trở thành mê tín".

Trong khuôn khổ chương trình, công chúng cũng được thưởng thức màn diễn xướng hầu đồng do các thanh đồng thể hiện với các giá quan lớn đệ nhất, quan lớn đệ ngũ./.

Phương Thúy/VOV-Trung tâm Tin

Quan niệm “tốt lễ, dễ kêu” trong các vấn hầu đồng đã khiến cho nhiều thanh đồng đua nhau sắm lễ hàng trăm triệu đồng dẫn tới trường hợp có những thanh đồng lao đao vì vay mượn, nợ nần. Liệu có phải lễ hoành tráng được ban lộc nhiều, lễ đơn sơ thì ban lộc ít? Bài viết của một thanh đồng Đền Mẫu (xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định) sẽ giúp độc giả trả lời câu hỏi này.
 


 Thanh đồng Vũ Thanh Bình trong một vấn hầu đồng. 

Tán gia bại sản vì “đồng đua”, “đồng đú” 

Quan niệm “tốt lễ dễ kêu”, dùng đồ lễ to, tiền phát lộc mệnh giá cao, mã lớn như thật… trị giá hàng trăm triệu để cúng lễ đúng yêu cầu, rải thật nhiều tiền để được thánh “ban” nhiều phúc, nhận tài lộc, may mắn đã khiến không ít người tán gia bại sản. Họ chưa hiểu biết khi tham gia vào thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu sao cho đúng với ý nghĩa nhân văn nguyên bản.

Đó là những người chưa hiểu rằng Mẫu là Mẹ, ân đức mẫu là bao dung tất cả, không phân biệt con giàu, con nghèo, chỉ quan tâm tới các Mẫu, các thánh ban “tiền rừng bạc bể”, mà quên lãng giá trị nhân văn “tâm nhất nguyện nhất ứng” và làm biến tướng nghi lễ hầu đồng.

Hiện nay, có rất nhiều thanh đồng hầu từ 50-100 triệu đồng/vấn. Chuyện biến tướng hầu đồng tốn kém nhiều là có thật, xảy ra cả với người có “căn” hay không có “căn” và đã có nhiều trường hợp tán gia bại sản, vỡ nợ vì hầu đồng không đúng giá trị nguyên bản.

Bản chất tâm linh là tốt nhưng bên cạnh những thanh đồng thực hành đúng giá trị hầu đồng chân chính, thì có những người được gọi là “đồng đua” “đồng đú” học đòi, hoang tưởng là được siêu nhiên trợ độ, khi bước chân vào hầu đồng chưa được bậc tiền bối dạy đúng phép tắc của tín ngưỡng nên đã thực hành sai lầm.

Họ cứ nghĩ lễ hoành tráng, vật chất cao là được Thánh chứng giám, ban nhiều tài lộc. Cho nên họ đã vay nợ tiền bạc chồng chất để làm đàn to, lễ lớn, vẽ ra nhiều cái quá sức nhằm “hút” con nhang đệ tử là người giàu, đại gia đến dâng lễ trọng, lễ nhiều.

Ở Hà Nội có những bản hội hầu đồng, các thanh đồng góp 2-3 triệu đồng/năm vào quỹ chung, 30 người đã có 90 triệu đồng. Họ luân phiên nhau nay người này hầu, mai chị kia hầu thì phát cho nhau, vừa giúp đỡ tương trợ nhau, lại không tốn kém.

Có lời đồn là “không có vài chục triệu thì đừng mong hầu ở các phủ chính”, như thế là không đúng, vì các nhà đền không đòi tiền. Ở Phủ Dày bao sái từ cung, tới điện nước tới phục vụ chỉ thu 1 triệu đồng/chiếu hầu, thậm chí nhà nghèo thì nhà đền giúp đỡ, không thu tiền cung. Còn hầu 5 triệu đồng hay 50 triệu đồng, hay hơn nữa là tùy thanh đồng, chứ không phải nhà đền thu.

Trước khi ra hầu đồng, các thanh đồng thường làm nghi thức trình đồng mở phủ, không có định mức nào quy định chi phí, mà tùy hoàn cảnh của thanh đồng mà lễ diễn ra đơn giản, hay hoành tráng. Có người khó khăn được thầy cho tiền giúp đỡ mở phủ và thực tế khi đệ tử báo thầy là “mai con phải hầu, nhưng không có điều kiện, thầy giúp cho”, thì người thầy sẽ lựa theo hoàn cảnh, điều kiện tới đâu làm tới đó.

Lễ sơ mỏng có lộc hay không? 

Thờ Mẫu có việc hiến lễ và thánh chấp nhận lễ. Trong đạo có câu “biến vô vi hữu, biến thiểu thành đa”, lễ bạc tâm thành không quan trọng phải sắm nhiều hay ít, mà cốt là cái tâm thành.

Sách về thờ Mẫu rất ít, tản mạn, nhưng cũng không dạy dân phải sắm lễ nhiều, lễ lớn. Sắm sửa lễ sơ, hay lễ hoành tráng thì tùy hoàn cảnh. Nhưng tự người có điều kiện thấy sắm lễ bạc như người nghèo, cảm thấy áy náy mà chọn lễ trọng. Còn người nghèo mà cố đua hầu đồng cho bằng chúng bằng bạn là không đúng.

Mẹ nào cũng bao dung, độ lượng, rất thương xót các con. Nếu con giàu thì mừng, con khó thì thương… chứ Mẫu không truyền mang nhiều tiền, vàng mã cho Mẫu. Còn các “đồng đua”, “đồng đú” quá tay ảnh hưởng tới gia đình và xã hội, sau vài vấn hầu là tự tan, bởi không có điều kiện mà cố vay hầu đồng thì lấy đâu ra mà hầu mãi.

Tín ngưỡng thờ Mẫu là tôn thờ Mẹ thế gian. Mẫu dạy con người phải sống nhân đạo, có thủy chung, kính trọng cha mẹ, yêu nước thương nòi, thương anh em, làm nhiều việc thiện cho gia đình và xã hội. Mẫu dạy con người sống có tâm, sống nhân đạo, có trước sau.

Còn những biến tướng, mê tín, hoang tưởng là do con người thực hành. Việc truyền miệng dân gian cũng không truyền thanh đồng phải sắm mã lễ bao nhiêu nên nhiều người hiểu lầm và thực hành sai.

Hầu bóng thực hành đúng thì không có mê tín, không quy định người dân cầu tài lộc phải bỏ ra nhiều tiền, sắm nhiều lễ trọng. Bản thân người hầu cần có yếu tố thiêng là có “căn” mới thực hành được, chứ không phải ai lên đồng cũng được và rất nhiều người mới có một người được chọn.

Một trong những nguyên nhân khiến người dân mê tín là do mù mờ về đạo Mẫu, nên bị lợi dụng, cho là sắm lễ lạt nhiều mới được chứng, được tài lộc, bình an. Họ không hiểu quan điểm Phật giáo và đạo Mẫu là không hù dọa, quở mắng, trách phạt “người trần” mà chỉ ban phúc lành, che chở cho nhân gian.

Không thần linh nào đòi hỏi lễ lạt, buôn thần, bán thánh, mà chỉ có con người làm xấu đi các giá trị nghi lễ tốt đẹp và nhân văn…

Nét đẹp trong hầu đồng là cách đối nhân xử thế, tôn kính của người dưới với bề trên. Nguyên gốc hầu đồng là tôn thờ yếu tố thiên nhiên, thể hiện lòng hiếu thảo của con với mẹ, tùy vùng miền nhưng phong tục tập quán đa dạng vẫn chủ yếu là yếu tố nhân văn, đạo lý.

Hầu đồng chính thống không mang màu sắc mê tín, dị đoan mà chủ yếu là khuyến thiện. Tôi khuyên các thanh đồng hãy hầu bóng bằng cái tâm trong sạch, ước muốn những điều có trong thực tế và đời sống và hầu thánh theo khả năng mình có.

 Đừng phê phán khi thấy lễ hoàng tráng

Lễ to, lễ hoành tráng hay lễ sơ cần nhìn nhiều khía cạnh. Cuộc sống hiện tại có nhiều người rất có điều kiện, họ luôn biết lựa chọn đồ ngon phù hợp với điều kiện sống của họ. Đi hành lễ, họ lựa chọn hoa thơm, trái đẹp, bánh kẹo, đồ uống dâng lên Thánh – theo quan điểm tùy gia biện lễ, đó là phong cách sống ngoài đời dùng đồ lịch sự của họ. 

Ví như hoa cúng, phải là các loại hoa quý như lan, ly, hướng dương… rực rỡ, thơm đẹp, bền, thể hiện lòng tôn kính. Bánh kẹo, đồ ăn uống, vật dụng gương lược… đều hàng ngon, đẹp. Mã phải đẹp và cầu kỳ. Vì thế buổi lễ hầu trông sang trọng, hoành tráng và càng có điều kiện thì họ càng thích dâng Thánh những đồ tố hảo (tốt đẹp) – điều này thì không nên phê phán. 

Người có điều kiện sắm lễ theo số lượng người đến dự lễ để phát lộc cho những người được mời dự hầu, mỗi người một chút để vừa lòng, mãn nguyện sau lễ. 

Hoa thơm quả đẹp, tiền bạc dâng lên Mẫu rồi thì chia lộc đều cho người dâng, người hầu như nhau, thầy đồng cũng có túi lộc như khách, thể hiện Mẫu không phân biệt, con nào cũng như nhau và đó là nét nhân văn rất riêng của hầu đồng, cái này chúng ta cũng không nên phê phán người có điều kiện dâng lễ hậu. 


Vũ Thanh Bình (Viện Nghiên cứu Tiềm năng con người) 

Theo Gia đình và Xã hội

Khác với các hình thức văn hóa phi vật thể khác luôn ở trong tình trạng dễ bị mất đi, vì không còn người kế truyền, thì nghi lễ hầu đồng lại ở tình trạng bùng nổ. Hăng hái nhất là các nghệ sĩ đã dày công dàn dựng các vở diễn, giá hầu để đưa lên sân khấu. Nhưng cũng có nhiều lo ngại, khi nghệ sĩ sân khấu hóa không khéo, có thể làm sai lệch, biến dạng di sản.



 NSND Lan Hương thăng hoa trong một giá đồng. 

Có nên sân khấu hóa Tín ngưỡng thờ Mẫu? 

NSND Lan Hương là người đầu tiên đưa hầu đồng lên sân khấu, với việc tái hiện 13 giá đồng trong “Tâm linh Việt” cho đoàn kịch Thể nghiệm của Nhà hát Tuổi Trẻ vào năm 2011. “Tâm linh Việt” có lợi thế là sự trình diễn chuyên nghiệp của các nghệ sĩ được đào tạo bài bản, đặc biệt là giọng hát văn của NSƯT Văn Chương, một trong những cung văn tài năng đắt giá nhất hiện thời. Nhưng sau vở diễn đã làm rộ lên những tranh cãi, về việc nên hay không sân khấu hóa hầu đồng.

NSND Lan Hương đã từng có cuộc tranh luận gay gắt với GS. Ngô Đức Thịnh để tìm ra một hướng đi cho “Tâm linh Việt”. Và theo chị, nếu cứ để di sản biểu diễn ở các cửa đền, cửa chùa thì sẽ rất khó để quảng bá. Việc sân khấu hóa là cần thiết, để góp phần quảng bá, tuyên truyền tới công chúng. Còn các nhà nghiên cứu thì cho rằng, tín ngưỡng Thờ mẫu cần được thực hành ở nơi linh thiêng, chỉ những nơi có ban thờ Mẫu, còn việc sân khấu hóa là làm “tầm thường hóa di sản”.

Dù còn nhiều bàn cãi, nhưng có một thực tế, ngày càng nhiều nghệ sĩ đưa hầu đồng lên sân khấu. Sau NSND Lan Hương, các nhà hát ca kịch truyền thống thi nhau dàn dựng tiết mục “Ba giá đồng” để đưa vào kịch mục phục vụ khán giả. Nhà hát Chèo Việt Nam đưa hầu đồng thành điểm nhấn giới thiệu văn hóa truyền thống đến du khách. Sân khấu kịch nói cũng cho ra đời chương trình “Ngũ biến” của êkíp NSND Anh Tú, Lệ Ngọc.

Gần đây, mượn địa điểm của Nhà hát kịch Hà Nội, Rạp Công Nhân, đạo diễn trẻ Việt Tú đã trình diễn chương trình “Tứ phủ” và có những phản hồi tốt. Suốt 1 năm qua, “Tứ phủ” đã trình diễn ở nhiều sân khấu trong và ngoài nước. Mỗi suất diễn dài 45 phút, được đầu tư khá công phu, đưa người xem vào thế giới tâm linh với sự kết hợp giữa hiệu ứng âm thanh, ánh sáng và hình ảnh. Hay NSƯT Xuân Hinh, Hoài Linh trong các liveshow của mình cũng đưa Tín ngưỡng Thờ mẫu lên sân khấu, trình diễn các giá hầu để phục vụ khán giả. Từ chỗ thành kính tôn sùng như một tín ngưỡng lâu đời, nhiều người đã dần coi tín ngưỡng thờ Mẫu trở thành một loại hình nghệ thuật.

Không “cấm”, nhưng cần “quản”

Trước hiện tượng bùng phát sân khấu hóa hầu đồng, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền bày tỏ quan điểm: “Với một thực tế tín ngưỡng như hiện nay, thì việc sân khấu hóa hầu đồng, đưa hầu đồng lên sân khấu chuyên nghiệp phần nào là cách để chúng ta gìn giữ những chuẩn mực của một nghi thức tín ngưỡng đã được các nhà nghiên cứu lưu trữ, phổ biến trong các công trình khoa học”. GS.TS. Nguyễn Chí Bền thì cho rằng việc sân khấu hóa di sản là cần thiết, nhưng ông kiến nghị cơ quan quản lý cần có những quy định để cụ thể về việc này, nhằm hạn chế việc biểu diễn tùy tiện, làm sai lệch đi giá trị của di sản.

“Nếu như việc bảo tồn loại hình tín ngưỡng thờ Mẫu trong dân gian thiên về yếu tố tâm linh thì khi đưa lên sân khấu, người nghệ sĩ có xu hướng cách điệu và làm cho công chúng có thể hiểu được. Bộ VHTT&DL cần có những văn bản, hướng dẫn cụ thể, để định hướng nghệ sĩ thực hiện việc sân khấu hóa một cách đúng đắn. Từ việc quy định về trang phục, hát chầu văn, đến nhạc cụ… Nếu nghệ sĩ sáng tạo mà đi quá xa quy chuẩn, yếu tố gốc thì cũng cần nhắc nhở, thậm chí xử phạt để răn đe, góp phần bảo vệ di sản” - GS. Nguyễn Chí Bền kiến nghị.

LƯU LY

Theo Báo Lao Động

Nhiều người đi xem bói được các thầy phán có “căn đồng” của ông này, cô nọ và phải mở phủ rất tốn kém chưa kể rất nhiều việc mê tín dị đoan gây hệ lụy xã hội khác.



Thanh đồng Lê Bá Linh trong một buổi hầu đồng. Ảnh: T.G 

Cứ khổ sở, vất vả, đi xem bói là “có căn”?

“Cuộc sống của em rất khó khăn, hay mơ thấy ma quỷ nên em đi xem bói. Thầy phán em có căn Cô Chín, căn Ông Hoàng Bảy, phải mở phủ để hầu đồng, nếu không sẽ chết sớm giống bố em. Mẹ em cũng đi xem bói cho em, thầy cũng bảo em bị “bắt đồng” rất sát. Thấy bảo có căn tứ phủ phải đi trình đồng, hoặc tiễn căn nếu không cuộc sống sẽ gặp nhiều khó khăn trắc trở, tai ương bất ngờ. Em chưa biết gì, nhà lại nghèo, làm đâu hết đó nên cũng muốn tìm một thầy đồng giỏi, có tâm với trò để giúp em ra đồng hầu. Nhưng em rất lo vì việc được biết việc mở phủ tốn rất nhiều tiền, khoảng 70 triệu đồng. Mở phủ xong còn lo các vấn hầu. Em rất muốn khất đồng vì chưa thể có khả năng để hầu”. Đó là tâm sự của một cô gái 29 tuổi và cũng là tâm sự của nhiều người đang gặp phải vấn đề “căn cao, số nặng”.

Ông Đàm Quang Vinh (thành viên Diễn đàn văn hóa phương Đông, Face book Hầu đồng theo pháp cổ) cho biết, theo tín ngưỡng thờ Mẫu (đạo Mẫu - hay đạo thánh Tứ phủ) lưu truyền trong dân gian thì người có “căn đồng” là người đã được các thánh “chấm đồng, bắt lính”. Hiểu đơn giản theo dân gian thì “có căn” là người có những nghiệp duyên, nghiệp chướng tiền kiếp. Khi “quả chín” sẽ phải chịu kiếp khổ sở, nhưng may mắn họ được các thánh chấm chọn cứu giúp trong đời này để có cơ hội làm công đức, làm việc phúc thiện để trả nghiệp dần (như người có tội được pháp luật cho phép đi làm công ích để giảm tội), nhằm chuộc lỗi lầm tiền kiếp để có cuộc sống an nhiên và sẽ viên mãn sau khi thoát sinh.

Cũng theo ông Đàm Quang Vinh, đạo Mẫu còn có thuật ngữ “có căn”, hay “sát căn”, “nặng căn” tương tự như “nghiệp quả”, “nghiệp chướng”, hay “căn nghiệp” trong đạo Phật - để chỉ những người nhạy cảm, dễ cảm nhận và tiếp xúc với sự linh ứng tâm linh. Có 3 cấp độ “căn đồng, số lính”. Nhẹ nhất là đội bát hương - trình trầu; cấp 2 là tiễn căn, cấp 3 là phải hầu đồng 1 năm vài vấn; cấp 4 là thờ Thánh tại gia (lập Điện thờ Thánh) - hoặc phải đến chùa, đền, phủ ở. Người có “căn” thường mạnh khỏe cả thể chất và tinh thần, nhưng hay rơi vào cảm giác ảo, thân mình bay bổng, hay mơ thấy thần thánh… Họ cứ đến nơi đền, phủ có hương khói, đàn ca, múa hát hầu đồng là thấy phiêu phiêu, mất kiểm soát nên phải múa may… có thể mất tự chủ - dấu hiệu này hoàn toàn khác với người bị bệnh tâm thần phân liệt.

Làm sao biết mình “có căn”?

Cũng theo ông Đàm Quang Vinh, trình đồng, mở phủ là nghi lễ trình diện - như lễ kết nạp người được chọn mới. Sau đó họ phải tìm thầy – là những thanh đồng lâu năm để học các lễ nghi, vũ đạo, hát văn, các lề lối vào giá, ra giá, trang phục, bày lễ... Sau khi được thừa nhận, họ sẽ làm lễ ra đàn để trở thành thanh đồng, mỗi năm phải lên đồng ít nhất một lần (vấn, khóa).

“Ngày nay, do nhiều người không hiểu về “căn đồng”, lại nhiều thầy tứ phủ xem bói vì tiền hơn vì tâm đã phán bảo về căn số để người dân phải trình đồng, mở phủ, khiến nhiều người sai lầm tâm linh, tự mua dây buộc mình, gia đình bất hòa, làm nhiều việc mê tín dị đoan sinh ra hao tiền tốn của và thời gian. Khi cứ nghe các thầy phán mình có “căn đồng” mà cố tình làm theo sẽ rất tốn kém. Vì một số thầy đồng không theo đạo Mẫu đúng đắn đã lôi kéo người dân tham gia để thu nhận đệ tử, vụ lợi, làm tiền. Việc biện lễ lớn còn làm mở rộng cái tâm tham, đua tranh giữa các tín đồ, và như thế càng có nhiều tội, đi ngược lại sở nguyện thánh thần là giúp con người vơi bớt tội lỗi”, ông Đàm Quang Vinh nhận xét.

Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Dân gian, Phó Chủ tịch Hội đồng Folklore châu Á cũng nhận định, xưa kia chỉ những người được cho là có căn, có quả thì mới ra hầu đồng lập phủ với mong muốn người có căn quả được thanh thản, nhẹ nhàng. Nhưng nay lượng người ra hầu đồng ngày một nhiều với không ít tư tưởng là hầu đồng để mà xin lộc Mẫu trong tiền tài, danh vọng thăng quan tiến chức. Từ đó kéo theo một chuỗi những sự trục lợi, làm méo mó đi nghi thức hầu đồng – một bộ phận của loại hình thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tốt đẹp vốn có.

 “Việc bói toán bảo người này, người kia có “căn”, nhưng việc này chưa ai chứng? Xã hội tuy biến đổi, nhưng việc đạo đều có nền tảng, gốc rễ. Người dân không nên coi việc đạo là trừu tượng, mơ hồ, xa rời cuộc sống. Thực tế việc đạo, tâm linh cần vận dụng gần gũi đời thường sẽ chính đáng, quý giá hơn nhiều. Tín tâm thì việc đạo sẽ trang nghiêm, thanh cao. Nhưng sai lệch một chút là đạo sẽ không gần gũi với đời, còn bị mê hoặc, nhạo báng thì xấu hổ, ảnh hưởng tới cuộc sống và đạo”. 

(Thanh đồng Lê Bá Linh, Câu lạc bộ Đạo Mẫu Việt Nam, Thủ nhang đồng đền của Đền Nguyên Kiết, Hàng Bạc, Hà Nội) 

Uyển Hương 

Theo Gia đình và Xã hội

Làm sao để tín ngưỡng thờ Mẫu sau khi được vinh danh được phát triển, lan tỏa một cách lành mạnh?

Dùng hình ảnh “ngựa phải có dây cương”, ông Nguyễn Văn Thư, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Nam Định, thành viên tham gia giúp tỉnh Nam Định chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO, cảnh báo: Không nên hiểu việc tín ngưỡng được thế giới vinh danh như là việc được cấp thẻ hành nghề hầu đồng để rồi khắp nơi tổ chức hầu đồng, đưa hầu đồng ra cả nhà văn hóa, lên sân khấu. “Chầu văn (hầu đồng) là một nghi lễ thực hành tín ngưỡng và không phải ai cũng có thể thực hành được, nói như dân gian thì phải là những người có “căn quả” mới có thể “bắc ghế hầu thánh”.



 Biểu diễn nghi lễ hầu đồng của đạo Mẫu tại Phủ Dầy, Nam Định (Ảnh minh họa)

Liên quan đến việc một số đơn vị nghệ thuật tổ chức trình diễn các giá hầu đồng trước công chúng, ông Thư nhìn nhận: Việc sân khấu hóa, cách điệu hóa hầu đồng với mục đích giới thiệu, quảng bá văn hóa là cần thiết, nhưng không được mập mờ giữa việc trình diễn, sân khấu hóa và việc thực hành tín ngưỡng.

Cùng mối bận tâm này, ông Trần Vũ Toán - Thủ nhang Phủ Nguyệt Du Cung (Quần thể Phủ Dầy - Nam Định) chia sẻ: “Thực hành tín ngưỡng là việc làm cả đời không hết, cần sự thực tâm khi đến với Thánh. Có người sẵn sàng bỏ tiền, cả trăm triệu đồng để tổ chức những giá đồng, mua vui nơi đền phủ. Sau những lần “bốc đồng” như vậy lâm cảnh nợ nần, gia cảnh lục đục, quay sang oán thán, đổ lỗi cho Mẫu. Nếu thực tâm, chỉ với vài quả quýt cũng có thể ngồi hầu Thánh, hầu đồng cả buổi”.

Cũng cần phải nói thêm, các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng đều phải được đặt dưới sự quản lý của nhà nước. Tuy nhiên, theo nhìn nhận của ông Trần Văn Chung - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Nam Định, công tác quản lý nhà nước ở Quần thể di tích Phủ Dầy lâu nay còn nhiều hạn chế. Tại đây vẫn tồn tại những mâu thuẫn, xung đột về lợi ích giữa một số đền phủ, giữa các đền phủ và chính quyền địa phương.

“Nguyên do nằm ở vấn đề lợi ích. Ở di tích Đền Trần, địa phương đã thành lập riêng ban quản lý... Tuy nhiên, khi tỉnh áp dụng mô hình quản lý này ở Phủ Dầy, ban hành quy chế quản lý thì có việc phản ứng của người dân” - ông Chung cho hay. Trên thực tế, đến nay, chính quyền tỉnh vẫn chưa thể thành lập được Ban quản lý ở quần thể di tích Phủ Dầy.

Trần Duy Hưng

Theo Tạp Chí Ngày Nay

Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vừa được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Theo nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, đây là một niềm vui đối với người dân Việt Nam, song cũng còn nhiều thách thức trong việc thực hành đúng, không làm sai lệch tín ngưỡng thờ Mẫu.
 

Sức sống mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ Mẫu

Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, một hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi, hình thành và phát triển mạnh mẽ. Từ thế kỷ XVI, việc thực hành tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân.


Hầu hết khoảng các vị thần mà tín ngưỡng thờ Mẫu tôn thờ là những nhân vật lịch sử có công với dân tộc hay đã được dân tộc lịch sử hóa 

Theo GS.TSKH Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu, bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, cho biết, tín ngưỡng thờ Mẫu có bốn vấn đề gắn với cộng đồng. Một là tín ngưỡng thờ Mẫu coi tự nhiên là một người mẹ và tôn thờ; hai là mang cho con người sống ở trên đời này ba điều: Phúc - Lộc - Thọ, đó là những ước muốn vĩnh hằng của con người. Ba là, thể hiện đậm nét chủ nghĩa yêu nước đã được tâm linh hóa, tín ngưỡng hóa. Điều này thể hiện rất rõ qua việc hầu hết các vị thần (khoảng 50 vị) mà tín ngưỡng thờ Mẫu tôn thờ là những nhân vật lịch sử có công với dân tộc hay đã được dân tộc lịch sử hóa, ví dụ như Đức Thánh Trần trong tín ngưỡng thờ Mẫu chính là Trần Hưng Đạo. Bốn là, tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng đa văn hóa, thể hiện sự gắn kết giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

“Đây là ý nghĩa duy nhất chỉ có ở tín ngưỡng của Việt Nam. Trong số khoảng 50 vị thần mà tín ngưỡng thờ Mẫu tôn thờ thì có tới hơn chục vị thần là người dân tộc thiểu số. Điều đó cho thấy, ngay từ rất sớm, người Việt Nam đã ý thức được vấn đề hòa nhập văn hóa. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu không phân biệt dân tộc, đa số cũng như thiểu số, rất bình đẳng và luôn sẵn sàng mở cửa để tiếp nhận đa văn hóa. Đây là vấn đề của cả nhân loại, cả thế giới đang kêu gọi”- GS Ngô Đức Thịnh khẳng định.

Bởi ý nghĩa tốt đẹp đó, tín ngưỡng thờ Mẫu có sức sống mạnh mẽ và bền bỉ trong đời sống nhân dân. Theo thống kê sơ bộ, hiện nay, trên phạm vi cả nước có khoảng 7.000 đền, phủ (chưa kể các điện thờ tư nhân) liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu.

Tuy nhiên, do Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt phân bố ở nhiều địa phương cho nên xuất hiện việc biến đổi, không thống nhất trong thực hành tín ngưỡng, thậm chí, có những sai lệch, biến tướng mà theo các nhà nghiên cứu, cần điều chỉnh và loại bỏ.

Cần nhận thức đúng về Hầu đồng, Hát văn

Theo GS Ngô Đức Thịnh, Hầu đồng, Hát văn chỉ là một nghi lễ trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Bỏ qua yếu tố tiêu cực, hầu đồng, Hát Văn là hai di sản có giá trị quý báu của Việt Nam. “Nghệ thuật Hát văn, Hầu đồng là tổng hợp của nghi thức thờ Mẫu. Chưa nói đến Hầu đồng, riêng giá trị nghệ thuật Hát văn đã là một di sản rất độc đáo, việc bảo vệ di sản này cần được khuyến khích nhưng mặt trái là một số người lợi dụng thực hành tín ngưỡng để vụ lợi, kiếm tiền”- GS Ngô Đức Thịnh nhận định.


 Tín ngưỡng thờ Mẫu có sức thu hút rất lớn đối với cộng đồng 

Theo PGS. TS Nguyễn Thị Hiền, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam- Ủy viên thư ký Ban Xây dựng hồ sơ đề cử quốc gia về Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt: Hát văn cũng như Lên đồng chỉ là một nghi lễ thực hành của tín ngưỡng thờ Mẫu. Việt Nam làm hồ sơ “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” thể hiện quan điểm nhất quán về một tập tục thờ cúng Mẫu của người Việt bao gồm nhiều yếu tố tín ngưỡng, nghi lễ, văn hóa truyền thống ở trong đó. Điều quan trọng là chúng ta nhấn mạnh đến những bản sắc văn hóa, tín ngưỡng, được trao truyền, kế tục giữa các thế hệ. Ở đây, không chỉ có Lên đồng, mà còn có cả lễ hội, cả việc đi lễ và cả một hệ thống tri thức, văn hóa truyền thống của người Việt hội tụ trong tín ngưỡng thờ Mẫu.

PGS.TS Nguyễn Thị Hiền cho hay, sau khi Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được vinh danh, Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam sẽ có phương hướng bảo tồn riêng. Đó là không chỉ hướng tới tổ chức các Liên hoan hầu thánh, tách nghi lễ ra khỏi bối cảnh của điện thờ Mẫu, mà sẽ hướng tới việc khôi phục những yếu tố lễ hội bị mai một, tiếp tục tư liệu hóa những loại hình của di sản như hát văn, âm nhạc, tiếp tục hoàn thiện danh mục kiểm kê về các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Viện mong muốn có những biện pháp tích cực hơn nữa nhằm tôn vinh các nghệ nhân hát văn, hiểu thân phận và chức năng của những ông, bà đồng trong việc thực hành nghi lễ lên đồng và vai trò tích cực của các thành viên cộng đồng, của các thủ nhang đồng đền tổ chức lễ hội truyền thống tôn vinh các vị thánh của thần điện Mẫu.

Cùng quan điểm, GS Ngô Đức Thịnh cho rằng, khi Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, việc cần thiết là nghiên cứu, tìm hiểu, khôi phục lại những làn điệu Hát văn đã thất truyền, đưa vào phục vụ đời sống. Bên cạnh đó, phải nhận diện, kiên quyết loại bỏ những sai lệch những “trò lố lăng”, sai với tín ngưỡng trong Hầu đồng. “Trước đây, một số trò lố lăng mà người dân không biết, đã thực hiện làm biến tướng Hầu đồng. Giờ đây, những điều đó đã được loại bỏ, nhưng nguy cơ vẫn còn, vì vậy phải chuẩn bị một sự hiểu biết, một lực lượng nghiên cứu tốt, sự nhận thức của người dân không tốt thì sẽ bị lợi dụng để làm sai lệch tín ngưỡng”- GS Ngô Đức Thịnh nhận định./.

Bài, ảnh: Hà An

Theo Tổ Quốc

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là một niềm tự hào vô cùng to lớn của mỗi người Việt Nam. Tuy nhiên, để phát huy những giá trị tích cực, tránh bị lạm dụng sa vào mê tín dị đoan, đòi hỏi trách nhiệm vô cùng to lớn từ mỗi người dân và các cơ quan quản lý.


Đam mê, kỹ năng và trình độ 

Theo TS Nguyễn Ánh Hồng (Trưởng khoa Văn hóa phát triển - Học viện Báo chí & Tuyên truyền): Tín ngưỡng thờ Mẫu được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại bởi vì tín ngưỡng này chứa đựng trong đó những tri thức văn hoá. Nó không chỉ là vấn đề tín ngưỡng, không chỉ có đức tin được linh thiêng hoá mà còn thể hiện tri thức văn hoá của nhân dân. Thứ hai, tín ngưỡng thờ Mẫu còn là một tổng hợp của tất cả tôn giáo tín ngưỡng. Trong đó nó chứa đựng cả triết lý Phật giáo, cả yếu tố của Đạo giáo. Tín ngưỡng thờ Mẫu chứa đựng cả ước muốn sinh sôi phát triển, chứ không chỉ có mục đích thờ cúng. Đây là một hỗn dụ của các yếu tố văn hoá, tinh lọc ở mỗi một tín ngưỡng những yếu tố cốt lõi, làm nên một tổ hợp. Thứ ba, là cách thể hiện độc đáo qua hầu đồng và hát chầu văn. Các nghi lễ hầu đồng và hát chầu văn vừa mang yếu tố tâm linh của tín ngưỡng, vừa mang yếu tố nghệ thuật có tính cộng đồng.

“Hình thức của tín ngưỡng được biểu diễn bằng việc hát chầu văn. Hát chầu văn có cung văn, tức người hát, có nhạc cụ đi liền với nghi thức hầu đồng. Nội dung của nó là ca tụng công đức thông qua các nhân vật phụ tá cho Mẫu như cô Ba, cô Bảy... Ca tụng cảnh sắc cảnh đẹp, ca tụng tình cảm mang tính nhân văn và giá trị thẩm mỹ. Hát chầu văn không chỉ phục vụ trong tín ngưỡng thờ Mẫu mà còn là một loại hình sinh hoạt đời thường, là một nghệ thụât biểu diễn, tạo nên một sức sống lớn và mang tính độc đáo. Bởi tín ngưỡng mang trong nó những yếu tố tích cực, nhưng suy cho cùng là để giáo dục, hướng thiện cho con người và đề cao những khát vọng của con người, làm cho con người sống tốt đẹp hơn.” - TS Nguyễn Ánh Hồng nói.


Nói về hiện tượng lợi dụng, biến tướng nghi thức hát chầu văn thành mê tín dị đoan, TS Nguyễn Ánh Hồng cho hay: Do có một số người lợi dụng nghi thức hát chầu văn, làm biến tướng nghi thức này đi. Một số người đã lợi dụng nghi thức chầu văn, sử dụng tín ngưỡng này vì những mục đích vụ lợi, không trong sáng. Thực chất về căn đồng, căn bóng, nói theo góc độ của đời thường, thì những người tham gia vào hát chầu văn, hầu đồng phải hát, phải có các kỹ năng để chơi các nhạc cụ, am hiểu nhạc lý. Điểm thứ hai là phải có đam mê. Có những người người cảm thấy say mê thật sự muốn cống hiến cả cuộc đời cho loại hình nghệ thuật như vậy. Người ta tìm đến với hát chầu văn vì người ta ký thác, gửi gắm niềm tin vào đó. Người ta quan niệm tín ngưỡng thờ Mẫu sẽ giải thoát được, đẩy lùi được những rủi ro và Mẫu sẽ che chở, bao bọc, ban phước lành cho họ. Những yếu tố kỹ năng, trình độ và sự đam mê chính là cái căn, cái duyên mà người ta vẫn thường hay nhắc tới.

Để bảo tồn và phát huy hiệu quả tín ngưỡng thờ Mẫu, trước hết phải để người dân phải hiểu biết các giá trị của các loại hình nghệ thuật này, để từ đó có ý thức tự hào về các di sản văn hóa. Di sản văn hóa phải sống trong đời sống của cộng đồng, sống trong đời sống của dân gian, nó không phải sống trong đời sống bó hẹp trong cung đình, nghiên cứu...

Nhiều thách thức trong việc bảo vệ di sản văn hóa 

Theo GS Đào Trọng Thi (nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh niên - Thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội): Cùng với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu được xem là một tín ngưỡng rất độc đáo, đặc trưng và rất lâu đời của dân tộc Việt Nam.

“Tôi nghĩ rằng ngay cả việc chúng ta chuẩn bị hồ sơ trình với UNESCO xin công nhận đây là một di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại thì đó là chúng ta đã vượt qua chính chúng ta để chúng ta khẳng định rằng, đây là một nét đẹp, một truyền thống văn hóa dân tộc tích cực. Chúng ta đã vượt qua rào cản của chính mình để quảng bá cho bạn bè thế giới biết được đến những điểm độc đáo của các loại hình tín ngưỡng này. Thực tế có rất nhiều người vẫn cho rằng, việc thờ cúng, hầu đồng là một hiện tượng phản văn hóa. Do đó, vừa qua di sản văn hóa này đã được công nhận là một thành công rất lớn” - GS Thi nói.

Theo GS Thi, tín ngưỡng thờ Mẫu đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể rồi, thì chúng ta phải phát huy yếu tố tích cực để bảo vệ di sản không bị lạm dụng, không bị biến tướng thành mê tín dị đoan. Đây cũng là một thách thức trong bối cảnh chúng ta phải đối mặt với nhiều mặt trái của cơ chế thị trường. “Tôi cho rằng đây là một điều rất khó, ranh giới rất mỏng manh. Nếu trước kia chúng ta chỉ có làm việc đó để bảo vệ truyền thống văn hóa của chúng ta, thì bây giờ chúng ta còn có nhiệm vụ bảo vệ di sản văn hóa được công nhận và việc này sẽ bị kiểm soát bởi UNESCO. Nếu trước kia chỉ là trách nhiệm nội bộ của chúng ta thì bây giờ là trách nhiệm của chúng ta với thế giới. Chúng ta có cả chính sách pháp luật về di sản văn hóa trong đó có cả về di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể. Trong đó có rất nhiều quy định cụ thể để chúng ta thực hiện việc bảo tồn di sản văn hóa để chúng ta bảo vệ, phát triển, phát huy hiệu quả của nó. Tôi nghĩ trước tiên cần thực hiện tốt Luật Di sản văn hóa, những quy định liên quan trực tiếp đến bảo vệ văn hóa phi vật thể” - GS Đào Trọng Thi nhấn mạnh.

VƯƠNG TRẦN

Theo Lao Động

Ngày 1/1, “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt” chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại. Và, so với 10 Di sản tương tự của Việt Nam được vinh danh trước đó, hiếm có trường hợp nào phải đi theo một cung đường lận đận và đầy tranh cãi như nó, trong hành trình tìm sự thừa nhận đích thực cho mình.
 

1. Ngay khi được vinh danh ở cấp quốc tế, vẫn còn rất nhiều người nhầm lẫn giữa Tín ngưỡng thờ Mẫu (TNTM) và hầu đồng – hình thức diễn xướng cơ bản nhất của nó. Thực tế, 2 chữ "hầu đồng" ấy cũng một thời đi kèm với những ngần ngại và e dè trong cách nhìn, bởi những hệ lụy về mê tín dị đoan đi kèm.

GS Ngô Đức Thịnh (nguyên thành viên Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia) kể rằng: cái mốc quan trọng nhất trong sự trở lại của di sản này được đánh dấu với việc hầu đồng xuất hiện tại lễ hội Kiếp Bạc năm 2006. Để làm được điều ấy, giám đốc ngành văn hóa Hải Dương phải tìm gặp, mượn một số cuốn sách về TNTM do GS viết và chuyển cho các lãnh đạo tỉnh đọc rồi mới dám… xin phép.


 Thực hành Tín ngưỡng thờ mẫu tại VN 

3 năm sau Kiếp Bạc là lễ hội Lảnh Giang (Hà Nam), là những chuỗi liên tiếp giới thiệu và trình diễn hầu đồng tại hàng chục đô thị trên miền Bắc.Tất cả những buổi giới thiệu ấy đều đặc kín người. Điển hình, buổi giới thiệu hầu đồng ở Trung tâm văn hóa Pháp vào đầu năm 2011 của GS Ngô Đức Thịnh gặp cảnh “vỡ sân” – khi mà nói như lời ông, số phận "nửa kín, nửa hở" của hầu đồng luôn kích thích sự tò mò cao độ.

Đáng nói, chỉ một năm trước đó, trong bản dự thảo về thông tư quản lý lễ hội của ngành văn hóa vào giữa năm 2010, ý tưởng "cấm lên đồng" vẫn… tiếp tục được nhắc tới. Tuy nhiên, điều này đã được sửa đổi khi dự thảo được thông qua.

2. Bước tiến của TNTM nhanh tới chóng mặt, khi mà chỉ 7 năm trước, ý tưởng đi di sản này “ứng thí” trước UNESCO còn liên tục nhận về những băn khoăn, thậm chí là phản ứng gay gắt của giới chuyên môn.

Bởi vậy, năm 2011, thay vì "hầu đồng", khái niệm "nghi lễ chầu văn" ra đời. Như giải thích của người trong cuộc, chầu văn (loại âm nhạc sử dụng khi hầu đồng) với các "nghi lễ" đi kèm, là trung tâm của việc lập hồ sơ. Có nghĩa, di sản được nhìn từ yếu tố âm nhạc là chính, chứ không phải tín ngưỡng. 2 năm sau, "nghi lễ chầu văn" trở thành Di sản Phi vật thể cấp Quốc gia và được lên kế hoạch đệ trình tới UNESCO.

Nhưng, trong những cuộc hội thảo và tổ chức liên hoan "biểu diễn nghi lễ chầu văn" sau đó lại vẫn các chuyên gia phân tích: cách tiếp cận di sản theo hướng này sẽ bỏ qua rất nhiều yếu tố giá trị văn hóa ngoài âm nhạc trong hồ sơ.

"Trong một hội thảo tại Mỹ, tôi kể về tín ngưỡng thờ Mẫu. Khi biết tục thờ Mẫu đề cao bà mẹ thiên nhiên, coi người mẹ là yếu tố sinh ra vạn vật, các chuyên gia Mỹ vỗ tay và nói vui rằng chúng ta còn tiến bộ trước họ về mặt nữ quyền" – GS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội văn nghệ dân gian, kể. "Bỏ đi "phần hồn" ấy, thứ di sản được trình lên UNESCO chỉ còn là những diễn xướng mô phỏng…”

Như lời GS Ngô Đức Thịnh, một trong những người xây dựng hồ sơ, cái tên "nghi thức chầu văn" ấy tồn tại trong một giai đoạn ngắn cũng bởi... sự e dè của các chuyên gia khi đề xuất .

Tháng 3/2014, phải tới sát thời điểm trình lên UNESCO, sau khi xin ý kiến Chính Phủ, bộ hồ sơ đã được Ban chỉ đạo đổi sang tên gọi "Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt" với lý do tên gọi cũ "không phản ánh được hết giá trị đặc trưng của di sản".

Một tháng sau đó, cuộc Liên hoan “Nghi lễ chầu văn” tại Hà Nội cũng được đổi sang tên gọi “Liên hoan Tín ngưỡng thờ Mẫu”. Di sản đã có được một tên gọi thống nhất và chuẩn xác cho đến thời điểm được UNESCO vinh danh vừa qua.

Cúc Đường - Mỹ Mỹ 

Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

Bộ VH-TT-DL đã phê duyệt lịch trình cho các hoạt động bảo tồn di sản thờ Mẫu từ năm 2017 - 2022. Theo đó, từ năm 2017 - 2019 tập trung thực hiện các hoạt động nhận thức xã hội về lên đồng, phục hồi một số hoạt động lễ hội, sưu tầm, nghiên cứu, tư liệu hóa, xây dựng trang web về tín ngưỡng thờ Mẫu; từ năm 2020 - 2022 tập trung thực hiện các hoạt động truyền dạy hát văn, quảng bá di sản, hoàn thành và cập nhật kiểm kê quốc gia về việc thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ nói riêng, thờ Mẫu ở VN nói chung. Tổ chức giao lưu hát văn, lên đồng tại các đền phủ và với các hội shaman giáo ở trong lẫn ngoài nước.




Cũng theo chương trình hành động này, Bộ VH-TT-DL đề xuất việc đại diện cộng đồng, các phủ thờ Mẫu phối hợp với bộ, các tổ chức phi chính phủ tổ chức các hội thảo về luật Di sản văn hóa và Công ước UNESCO về di sản. Điều này sẽ nâng cao nhận thức về di sản phi vật thể. Nó cũng giúp kết nối, tạo bình đẳng, hài hòa giữa thủ nhang, bản hội, tạo nên một cộng đồng thờ Mẫu thống nhất. Nhờ đó, giảm thiểu sự cạnh tranh không lành mạnh, tránh lợi dụng các cơ sở thờ tự để buôn thần bán thánh, thương mại hóa.

Theo Báo Thanh Niên

Lâu nay, câu chuyện tín ngưỡng hay mê tín vẫn là chủ đề không có hồi kết. Trên thực tế, không phải lúc nào cũng có thể phân biệt rạch ròi giữa tôn giáo, tín ngưỡng và mê tín dị đoan. Bởi cùng một hiện tượng, tùy vào niềm tin, tri thức, văn hóa và hoàn cảnh thực tại mà mỗi người trong chúng ta sẽ có những đánh giá khác nhau, thậm chí hoàn toàn trái chiều.



 Cổng đền Phố Cát - Thạch Thành, Thanh Hóa 

Giá trị bản địa của tục hầu đồng 

Với bản chất một tín ngưỡng như Tứ phủ, trước hết cần nhìn nhận giá trị bản địa của tục hầu đồng. Có nghĩa đây là tín ngưỡng nội sinh của dân tộc Việt Nam chứ không phải du nhập từ bên ngoài như Phật giáo hay Thiên chúa giáo... Với hệ thống điện thần hầu hết tôn vinh các nhân thần có nguồn gốc bản địa ở ngôi vị các Thánh Mẫu, Quan lớn, Chầu bà, Ông hoàng và các Cô, các Cậu.., bao đời nay, đây là một trong những niềm tin tín ngưỡng của người dân Việt Nam từ chốn cao sang cho tới nghèo hèn. Đó là một giá trị văn hóa lớn lao không thể phủ nhận. Tôi từng chứng kiến những bà đồng đã ngoài 80 tuổi đang ốm nằm mấy ngày không ăn uống gì. Vậy mà sau một vấn hầu kéo dài gần 6 tiếng, cụ đã trở nên khỏe mạnh, ăn uống và đi lại bình thường.

Ở đây, có một sự biện giải, rằng không nhất thiết phải có lý hay có thật, bởi đó là niềm tin. Thực tế niềm tin của con người có thể đem lại những sức mạnh bất ngờ ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến đổi của cuộc sống. Khoa học giờ đây đã chứng minh, niềm tin có thể tạo ra trạng thái tự kỷ ám thị, ở một mức độ có thể giúp con người phần nào vượt qua được đau khổ, bệnh tật... Có lẽ, tính hữu dụng của niềm tin tôn giáo là một vấn đề khó có thể phủ nhận. Trong cuộc sống, rất nhiều cái “ảo” mà lại có tác dụng hơn cả cái mà ta cho là “thật”!

Khác với Phật giáo hay Thiên Chúa giáo phủ dụ lòng người, xoa dịu nỗi đau trần thế bằng hệ thống giáo lý kinh kệ, tín ngưỡng Tứ phủ lại lấy nhạc Chầu văn làm phương tiện chuyển tải niềm tin. Có thể nói người ta đã phát huy tối đa vai trò của nghệ thuật âm nhạc trong hầu đồng. Với hệ thống làn điệu và lời ca phong phú, nhạc Chầu văn được xem như một thành tố hữu cơ của tín ngưỡng Tứ phủ. Cũng có thể nói chính tín ngưỡng Tứ phủ đã đóng góp cho nền âm nhạc cổ truyền dân tộc một thể loại nhạc tín ngưỡng đặc sắc mang tính chuyên nghiệp mang tên Chầu văn.

Và, người ta vẫn đánh giá một vấn hầu đồng như một sân khấu diễn xướng mang tính dân gian. Bởi vậy, bên cạnh vấn đề tín ngưỡng, rõ ràng chiếu hầu đồng còn có tác dụng như một “sân chơi” nghệ thuật khá nghiêm túc. Trong đó, như một diễn viên “sân khấu” tâm linh, chân đồng sẽ lần lượt hóa thân thành các vị thánh trên điện thần. Thử tưởng tượng khi con người bỗng chốc có thể được đám đông hò reo tôn vinh bái lạy như một nhân vật thánh thần kiệt xuất (hoặc giả một vai diễn tâm linh), âu đó cũng là một yếu tố hấp dẫn người gia nhập tín ngưỡng.

Lãng phí hay đáng tôn vinh? 

Người ngoài tín ngưỡng hay không có chung niềm tin với các ông đồng bà đồng thì ắt sẽ thấy sự lãng phí vật chất ở các vấn hầu đồng. Chuyện ban tài phát lộc hàng trăm nghìn mỗi lần vung tay hay chuyện sắm sanh đồ mã trị giá hàng trăm triệu ở đây là điều không lấy gì làm lạ. Người ta giàu có, muốn thực hành những nghi thức tốn kém để giải quyết niềm tin tín ngưỡng cho người ta, đấy là điều có lẽ khó can thiệp. Trong giới bản hội tín ngưỡng Tứ phủ, “đồng nghèo lính khó” thì nhiều khi chỉ dăm trăm nghìn đến một vài triệu là cũng có thể sắm sửa một vấn hầu đồng tươm tất. Nhưng với những chân đồng giàu có, rõ ràng tiền của bỏ ra để hành lễ sẽ không thành vấn đề.


Đó là chưa kể đến những tâm lý ganh đua thể hiện cái “tôi”, cái “oai” kiểu “làng xã” luôn song hành cùng niềm tin tín ngưỡng. Ai cũng muốn mình “sang nhất”, có “vị thế” hơn người - đó là một tâm lý tự nhiên đời thường chứ không chỉ riêng ở giới các chân đồng Tứ phủ. Tôi đã từng chứng kiến những vấn hầu đồng mà chủ nhân phải thuê cả chuyến xe tải chở đồ lễ đến để chuẩn bị cho “thánh nhập đồng ban tài phát lộc”, cũng không lấy gì làm lạ!

Nếu bình tĩnh nhìn nhận hiện tượng tín ngưỡng, sẽ thấy có nhiều điều đáng tôn vinh như những giá trị di sản văn hóa dân tộc. Những điều khác mà giả sử chúng ta không mấy hứng thú, thậm chí có thể cảm nhận là bất hợp lý hay nhăng nhố (?) nhưng nếu không xâm hại đến an ninh xã hội hay quyền tự do con người thì có lẽ cũng nên chấp nhận, như một sự tôn trọng niềm tin tín ngưỡng. Bởi ở góc độ thực dụng, tôn giáo tín ngưỡng cũng phần nào giống như nghệ thuật âm nhạc, đã góp phần xoa dịu nỗi đau con người trần thế và tạo dựng, kích thích sự hứng khởi trong cuộc sống thực tại cũng như niềm tin vào một tương lai tươi sáng.

Còn nếu chỉ đánh giá đơn thuần tính hiện thực của sự vật, sự việc, ắt sẽ phải xem lại cả những kho tàng truyện thần thoại, cổ tích, trường ca, huyền thoại dân gian... chứ không chỉ tín ngưỡng tôn giáo. Niềm tin của con người, suy cho cùng sẽ là hiện thực, là chân lý với người này, những cũng có thể là sự mông muội, hoang tưởng với người khác, tùy vào ý thức, tri thức và hoàn cảnh văn hóa của mỗi người trong chúng ta.

Bùi Trọng Hiền

Theo Pháp Luật Việt Nam

Khác nhiều di sản trong tình trạng thoi thóp, lên đồng là diễn xướng chủ đạo của tín ngưỡng thờ Mẫu phát triển mạnh mẽ, cho nên nhiều người lo ngại sự bùng nổ mới sau khi được UNESCO ghi danh.



Lên đồng ngày càng được khai thác ở khía cạnh sân khấu hóa. 

Cánh đạo diễn gặp thời

Phần đông người Việt có thể thấy xa lạ khi nghe tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ nhưng nhắc lên đồng ai cũng biết, từng xem và thích thú. Trong số hệ thống nghi lễ và lễ hội phong phú, tín ngưỡng này được trao truyền mạnh mẽ nhất qua nghi lễ lên đồng. Sức sống của nó không chỉ nằm ở phần lễ hội, tín ngưỡng thờ nữ thần, thờ mẫu trong đời sống, mà ngày càng mạnh trong nghệ thuật. Lên đồng hiện diện ở hầu khắp các nhà hát, sân khấu truyền thống dưới đủ dạng thức.

Đạo diễn Việt Tú dựng Tứ phủ rất đắt khách ở rạp Công Nhân, thậm chí đưa vở xuất ngoại. Trước đó, phải kể nỗ lực và sự say mê của NSND Lan Hương khi làm Tâm linh Việt vinh danh đạo Mẫu. Ba giá đồng được nhiều đoàn dựng và đưa vào chương trình biểu diễn bán vé, chiêu đãi quan khách quốc tế. Trong các chiếu chèo phục vụ khách của Nhà hát Chèo Việt Nam không khi nào vắng giá đồng. Ngay Liên hoan phim Quốc tế Hà Nội 4 cũng khoe di sản này qua phần trình diễn của ca nương Kiều Anh.

 Không ít con nhang đệ tử chẳng tiếc tiền đổ về các nơi thờ Mẫu, hoặc chảy vào túi một số bà đồng. Một trong những lo ngại khác là lợi dụng hầu đồng để sấm truyền, tư lợi. 

Sân khấu kịch nói như Nhà hát Kịch Việt Nam cũng ngấm di sản này. NSND Anh Tú, người yêu thích các trình thức diễn xướng dân gian, lấy cảm hứng từ các giá đồng để làm ra Ngũ biến. Chương trình dự thi và được đánh giá cao ở liên hoan sân khấu Trung Quốc-ASEAN hồi tháng 9. Khá tình cờ, lịch diễn tháng 12 này của nhà hát có nhiều suất diễn Ngũ biến.

Nay, tín ngưỡng thờ Mẫu được UNESCO ghi danh Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện nhân loại, nghi lễ lên đồng dễ xuất hiện nhiều hơn nữa trên sân khấu. Đạo diễn Anh Tú cũng nói có thể làm một vở bài bản hơn về hầu đồng hoặc lấy cảm hứng từ nghi lễ này.

“Nếu làm không cẩn thận dễ nhàm chán, bởi mỗi giá đồng thường rất dài và nhiều vũ đạo, điệu hát văn dễ trùng lắp. Đưa trình thức này lên sân khấu phải thật mượt”, Anh Tú nói. Dù các chuyên gia lo ngại sân khấu hóa hầu đồng là lệch pha, nhưng giới đạo diễn khó bỏ qua cơ hội khai thác giá trị nghệ thuật của lên đồng, nhất là khi nó đáp ứng thị hiếu của số đông.

Cẩn thận việc trục lợi 

Sức nóng của hầu đồng vài năm qua được giải mã trong hàng chục tọa đàm, hội thảo và cuộc thi liên quan chầu văn. Xung quanh tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi thức lên đồng vẫn nhiều tranh cãi, tuy thế nó có sức sống mãnh liệt trong dân gian, khi nghi thức này hiện hữu sinh động trong đời sống đương đại. Giá trị di sản được UNESCO vinh danh khá rõ ràng ở tính kế thừa, giá trị nhân sinh, ý nghĩa lịch sử thông qua việc tôn vinh các vị thánh hiện thân của các anh hùng dân tộc, cùng với giá trị văn hóa nghệ thuật đa dạng, như diễn xướng tâm linh với nhạc, ca hát, vũ đạo, trang trí.

Bên cạnh giá trị đáng quý, nhiều chuyên gia từng lên tiếng về sự lệch chuẩn của tín ngưỡng thờ Mẫu, điển hình là hầu đồng. “Thương mại hóa đạo Mẫu khiến tín ngưỡng này càng bị xói mòn những giá trị tốt đẹp”, GS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam viết trong cuốn Đạo mẫu Việt Nam. Ông từng phản đối việc đệ trình hồ sơ lên UNESCO, sau này lại là một trong số cố vấn cho bộ hồ sơ tín ngưỡng thờ Mẫu “do nhận thấy từ chuyên gia đến người dân nhận thức tốt hơn”.

Sự trục lợi, thương mại hóa đạo Mẫu không khó nhận diện. Đó có thể đơn giản, như cung văn hát sai lệch với bản nhạc gốc để “nịnh” thanh đồng lại được ban tiền nhiều hơn. Các thanh đồng chân chính từng nhiều lần tố một số người lợi dụng danh nghĩa để trục lợi, làm giàu. Có những giá đồng đắt đỏ cả chục triệu đồng vì chi phí đồ mã, đồ cúng và các khoản tiền khác. Không ít con nhang đệ tử chẳng tiếc tiền đổ về các nơi thờ Mẫu, hoặc chảy vào túi một số bà đồng. Một trong những lo ngại khác là lợi dụng hầu đồng để sấm truyền, tư lợi.

Toan Toan

Theo Tiền Phong

Đạo mẫu hướng con người về thế giới hiện tại

Theo GS Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội đồng di sản quốc gia, đạo Mẫu (tên khác của tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt) mang thế giới quan cổ xưa của người Việt. Theo đó, người Mẹ của con người cũng là người Mẹ tự nhiên, không chỉ nhân hóa tự nhiên mà còn nữ tính hóa tự nhiên, làm cho việc sùng bái tự nhiên thành sùng bái con người mang tính nữ.


“Đạo Mẫu có Mẹ Mưa, Mẹ Mây, Mẹ Chớp, Mẹ Kim... Cũng có cả Mẫu Thiên cai quản trời, Mẫu Địa cai quản đất, Mẫu Thoải cai quản vùng sông nước, Mẫu Thượng Ngàn cai quản vùng núi rừng... Cách nhận thức thế giới như vậy có mặt tích cực giúp cho con người hòa đồng với tự nhiên, cảm nhận và lắng nghe để bảo vệ tự nhiên một cách hữu hiệu hơn. Điều này càng trở nên quan trọng hơn khi hành tinh đang bị tàn phá, dẫn đến biến đổi khí hậu”, ông Thịnh phân tích.


Cũng theo GS Thịnh, đạo Mẫu xác lập một nhân sinh quan tín ngưỡng của người Việt hướng về đời sống trần thế, đó là cầu mong sức khỏe, tiền tài, phúc lộc. “Khác với một số tôn giáo tín ngưỡng khác, đạo Mẫu không hướng con người và niềm tin của con người về thế giới sau khi chết mà là thế giới hiện tại, thế giới mà con người cần phải có sức khỏe, có tiền tài và quan lộc. Đó là một nhân sinh quan mang tính tích cực trong thế giới hiện đại. Đây cũng là cách tư duy thể hiện tính thực tế của con người VN”, ông cho biết.

Ông Thịnh còn nói, một giá trị lớn khác của đạo Mẫu. Đây là thứ chủ nghĩa yêu nước VN đã được tâm linh hóa, tín ngưỡng hóa. Trong điện thần của đạo Mẫu, hầu hết các vị thánh đều gắn với công trạng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Chẳng hạn, Trần Hưng Đạo hóa thành Đức Thánh Trần. Mẹ Âu Cơ thành Mẫu Thượng Ngàn. Nguyễn Xí thành Ông Hoàng Mười... “Bằng cách đó, đạo Mẫu gắn bó với cội nguồn dân tộc đã trở thành một biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước VN, một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được tín ngưỡng hóa, tâm linh hóa, mà trong đó người Mẹ - Mẫu là nhân vật trung tâm”, ông cho biết.

“Bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc

Ông Thịnh đánh giá lên đồng là một nghi lễ quan trọng bậc nhất của đạo Mẫu, là một hình thức diễn xướng tâm linh, một “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc Việt. “Hầu đồng như một hình thức sân khấu tâm linh hay một văn hóa đạo Mẫu. Ở hình thức này có thể thấy được lối nghĩ, nếp sống, quan niệm nhân sinh, nếp ăn, cách mặc, sinh hoạt nghi lễ của cha ông xưa”, ông cho biết.

TS Nguyễn Ngọc Mai, Viện Tôn giáo, cho rằng hình thức biểu diễn văn hóa của lên đồng chính là những nguồn tư liệu quý giá từ góc độ văn hóa dân gian và nhân học. Chẳng hạn, trang phục hầu đồng tuy đa dạng nhưng vẫn có yếu tố cơ bản quy định về bản chất, gốc gác của mỗi thần thể hiện qua màu sắc của mỗi phủ. Đỏ - trời, vàng - đất, trắng - nước và xanh - rừng. Theo bà Mai, lên đồng tạo ra một môi trường cộng cảm rất tốt. “Nhất là trong những canh hầu lớn. Cung văn sành nghề biết mọi lề lối, thể thức thì hầu như bất cứ một người nào biết rung động trước cái hay, cái đẹp đều trầm trồ, say sưa và bị cuốn vào với những tiết tấu âm nhạc... Từ những bộ trang phục mà ở đó gói ghém tất cả những triết lý nhân sinh về vũ trụ, thế giới và đẳng cấp được các Đồng hóa thân vào thành Thánh Thần để rồi mỗi người một vẻ, một tác phong, một cách thể hiện khiến các điệu múa thiêng cũng mang bản sắc cá nhân rất nhiều”, bà Mai nói.

Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt là hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi, hình thành và phát triển mạnh mẽ. Từ thế kỷ 16, việc thực hành tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân. Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt còn là sự hỗn dung tôn giáo bản địa của người Việt và một số yếu tố của tôn giáo du nhập như Đạo giáo, Phật giáo. Các Thánh Mẫu, các vị thần trong điện thần tam phủ có nguồn gốc không chỉ của người Kinh, mà còn của các dân tộc thiểu số ở VN như người Mường, Tày, Nùng, Dao... Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt phân bố ở nhiều địa phương: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc bộ, bắc Trung bộ và TP.HCM mà Nam Định được coi là trung tâm với gần 400 điểm thờ cúng Thánh Mẫu. 

Hầu đồng còn được gọi dưới rất nhiều tên khác nhau như hầu bóng, ngồi đồng, lên đồng. Theo quan niệm dân gian, một cuộc lên đồng được gọi là một vấn hầu hay một canh hầu. Trong một canh hầu ở người Việt Bắc bộ có rất nhiều vị thần giáng về, nhập vào người ngồi đồng. Lúc đó chủ thể là người ngồi đồng chỉ là lấy thân xác mình làm cái cốt (xác) cho thần linh nhập vào để giáng trần. Mỗi lần một vị thánh giáng, làm việc và thăng (ra đi) được gọi là một ghế đồng. 

(Trích Nghi lễ lên đồng, lịch sử và giá trị, TS Nguyễn Ngọc Mai) 

Trinh Nguyễn

Theo Thanh Niên

Trong một lần đến VN, vô tình được tham dự nghi lễ hầu đồng, nhiếp ảnh gia người Mỹ Tewfic El-Sawy đã quyết định dành gần 2 năm để nghiên cứu và thực hiện cuốn sách ảnh về nghi lễ, tín ngưỡng dân gian của người Việt. 




Hầu đồng - The Spirit mediums of Vietnam vừa được xuất bản, trở thành cuốn sách ảnh hiếm hoi về đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng ngay tại VN cũng như trên thế giới. Sách dày 170 trang, với hơn 100 bức ảnh lớn và các trang thông tin giải thích về tín ngưỡng dân gian, nghi lễ, đền thờ và trải nghiệm của chính tác giả, do Nhà xuất bản Blurb (Mỹ) phát hành, đang được bán trên các trang mạng lớn như Amazon, Ingram...

Trải nghiệm lạ lùng 

"Nghi lễ hầu đồng đầy màu sắc, vui tươi, trái ngược hẳn so với nhiều lễ nghi tôn giáo hà khắc ở nhiều nơi. Không chỉ vậy, tín ngưỡng nghi lễ này còn ca tụng lịch sử của VN, cuộc chiến của những người anh hùng chống lại giặc ngoại xâm và củng cố tinh thần dân tộc, lòng yêu nước. Đó là điều vô cùng đặc biệt"

Tewfic El-Sawynhiếp ảnh gia Mỹ


“Tháng 9 năm 2014, tôi tổ chức một khóa workshop nhiếp ảnh cho nhóm các nhiếp ảnh gia đến từ Mỹ và Úc tại Sa Pa. Một buổi sáng, tôi nghe có tiếng nhạc vọng ra từ một ngôi đền. Tôi bước vào trong và nhìn thấy một người phụ nữ trong trang phục màu đỏ đang hát và nhảy múa. Tôi tự hỏi vì sao không hề biết đến nghi lễ tôn giáo này trước đó. Vài ngày sau, khi đến Bắc Hà, tôi lại được nghe thấy tiếng nhạc như vậy. Và đây là lần đầu tiên tôi được tham dự một buổi hầu đồng một cách trọn vẹn”, Tewfic El-Sawy nhớ lại. Ông kể về những trải nghiệm đầu tiên vừa lạ lùng vừa thú vị: “Trong buổi lễ, một người phụ nữ đưa tiền cho tôi. Tôi cảm ơn bà nhưng bảo rằng tôi không cần tiền. Còn mọi người xung quanh thì cứ khăng khăng nói tôi phải cầm lấy. Lúc sau, tôi mới biết rằng đó được coi là món quà linh thiêng, mang lại may mắn cho tôi”.

Khi trở về New York, ông ngay lập tức tìm kiếm thông tin về tín ngưỡng dân gian của người Việt. “Nhưng tôi đã rất ngạc nhiên vì có rất ít thông tin trên mạng, hay các cuốn sách tư liệu bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp về đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng. Thậm chí, tôi đã tới thư viện tôn giáo tại New York nhưng cũng không thể tìm thấy. Điều đó càng khiến tôi thêm tò mò và nảy ra ý định thực hiện một dự án ảnh về tín ngưỡng dân gian độc đáo này”, ông kể.

Tewfic El-Sawy quyết định trở lại VN, tham dự các buổi hầu đồng ở khắp mọi nơi, từ thành phố cho đến các làng quê, phỏng vấn những ông đồng, bà cốt nổi tiếng. Bên cạnh nguồn tư liệu ít ỏi có được, ông tìm hiểu, nghiên cứu về đạo Mẫu, nghi lễ hầu đồng từ chính những cuộc trò chuyện với các thanh đồng, đồng thời từ việc quan sát điệu bộ, hành động, quần áo... của họ trong các buổi lễ.

Tewfic El-Sawy chia sẻ, khó khăn của ông khi thực hiện cuốn sách là ông không thể nói tiếng Việt, bên cạnh đó việc tìm hiểu đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng cũng rất phức tạp với ngay cả chính người Việt. Cuối cùng, sau 18 tháng cùng 6 cuộc hành trình từ Mỹ tới VN, Tewfic El-Sawy đã hoàn thành cuốn sách ảnh của mình.


 Nhiếp ảnh gia Tewfic El-Sawy 

Nghi lễ có một không hai 

Đã rong ruổi đến nhiều vùng đất khác nhau tìm hiểu và ghi lại những hình ảnh các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng của người dân bản địa, Tewfic El-Sawy nhìn nhận đạo Mẫu và hầu đồng là tín ngưỡng và nghi thức tôn giáo “có một không hai”. “Với những trải nghiệm của mình, tôi nhận thấy hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt là nghi lễ tôn giáo duy nhất kết hợp giữa tôn giáo và nghệ thuật: thời trang, âm nhạc, hát, múa. Ở đó, có những con người kết nối với thần linh và những người cùng tham gia nghi lễ theo cách mà tôi chưa từng được chứng kiến trước đó”, Tewfic El-Sawy nhìn nhận.

Ông nhận xét: “Nghi lễ hầu đồng đầy màu sắc, vui tươi, trái ngược hẳn so với nhiều lễ nghi tôn giáo hà khắc ở nhiều nơi. Không chỉ vậy, tín ngưỡng nghi lễ này còn ca tụng lịch sử của VN, cuộc chiến của những người anh hùng chống lại giặc ngoại xâm, và củng cố tinh thần dân tộc, lòng yêu nước. Đó là điều vô cùng đặc biệt”.

GS Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian VN, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, nhận xét: “Những cuốn sách về hầu đồng bằng tiếng nước ngoài còn rất ít. Bởi vậy, cuốn sách này sẽ giúp độc giả nước ngoài hiểu thêm về tín ngưỡng, nghi lễ tôn giáo như một sân khấu dân gian rất độc đáo của người VN. Tôi chỉ mới xem một số hình ảnh trong cuốn sách nhưng thấy đó là những hình ảnh rất đắt, rất đặc trưng của nghi lễ hầu đồng. Nhiếp ảnh gia đã bắt được cái thần, tính tâm linh trên gương mặt của thanh đồng. Có thể thấy người thực hiện cuốn sách đã bỏ ra nhiều công sức, đi đến rất nhiều nơi để chụp lại những bức ảnh rất sống động này”.

Tewfic El-Sawy cho biết ông muốn thực hiện dự án ảnh tiếp theo về đạo Cao Đài, nghệ thuật ca trù hay hát chèo. Tewfic El-Sawy cũng là người đã lập trang blog nhiếp ảnh The Travel Photographer.

Ngày 28.3.2015, VN đã gửi hồ sơ Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt tới Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đệ trình là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Hồ sơ sẽ được UNESCO xem xét và quyết định vào tháng 12.2016 tại kỳ họp thứ 11 của Ủy ban Liên chính phủ công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể 2003 được tổ chức tại Ethiopia. “Các nhà khoa học và nghệ nhân đã kiên trì, làm hết sức để thay đổi nhận thức xã hội, nhìn nhận đúng đắn về giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng”, GS Ngô Đức Thịnh cho biết. Ông là một trong những thành viên tham gia xây dựng hồ sơ Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. 


Ngọc An

Theo Thanh Niên

Tại nhiều điện thờ Mẫu Tam phủ, việc sắp xếp 'dịch vụ tín ngưỡng' rất chu đáo. 

Theo một số nhà nghiên cứu, chính sự chuyên nghiệp nhịp nhàng trong tổ chức của một phủ Mẫu đã làm nên sức hút của phủ đó. Các nhân lực làm việc trong phủ còn tham gia trực tiếp vào việc tôn tạo di tích.




Nam Định được GS Ngô Đức Thịnh coi là “quê hương” của tín ngưỡng thờ Mẫu và hồ sơ UNESCO cũng ghi nhận đây là nơi có các điện thờ tập trung nhiều. Tại đây, các phủ khá lớn, thu hút vào đó nhiều nhân lực. “Quan sát và phỏng vấn các thành viên làm việc trong một điện công tại phủ Mẫu (Nam Định) tất thảy có đến 40 người vào những ngày lễ hội. Ngày thường có tới 20 người cả con cháu và người giúp việc. Toàn bộ số nhân lực này đều do thủ nhang chỉ đạo và cắt đặt công việc được sắp xếp thành các bộ phận”, TS Nguyễn Ngọc Mai viết trong nghiên cứu về nghi lễ hầu đồng của mình.

Theo bà Mai, toàn bộ số nhân lực này được phân chia công việc cụ thể. Chẳng hạn, bộ phận bảo vệ 12 người gồm các thanh niên trong khu vực, con trai, con rể của thủ nhang. Đội này do con trai trưởng của thủ nhang chịu trách nhiệm chính. Họ thay phiên nhau bảo vệ trật tự trị an của phủ vào ban ngày và đêm. Nhóm này cũng tham gia trực tiếp các công việc xây dựng trong phủ, như sửa sang chỗ hỏng, xây mới các ban bệ thờ ngoài trời, làm vườn hoa, trùng tu tôn tạo di tích... Nhóm còn làm các công việc khác như lau, kê tượng, ban thờ vào ngày thường, chuẩn bị lễ lạt cắm hoa vào ngày lễ.

Trong số những người thuộc bộ phận bảo vệ này, 2/3 được đào tạo để trở thành cung văn chính của phủ. Họ là lực lượng chính để phục vụ các vấn hầu; được nuôi cơm thường ngày tại phủ và cho hưởng toàn bộ lộc thánh trong những canh hầu. “Toàn bộ việc điều phối các tay đàn tay hát của các cung văn phục vụ tại di tích đều do người cung văn chính này đào tạo và đảm nhiệm. Bản thân cung văn chính cũng được đào tạo qua lớp huấn luyện bài bản từ đoàn nghệ thuật tỉnh”, bà Mai cho biết. Nghiên cứu của bà Mai cho thấy Ban cung văn của phủ cũng được trang bị đầy đủ các nhạc cụ dân tộc như đàn nguyệt, trống, phách, xênh tiền, nhị. Đôi khi cũng có mời thêm các nghệ sĩ của đoàn nghệ thuật tỉnh về cùng phối hợp phục vụ các canh đồng trong mùa lên đồng.

Bộ phận nhà bếp 5 - 7 người là những phụ nữ độ tuổi từ 45 - 65. Họ cũng có nhà và gia đình sống cạnh phủ. Hằng ngày, họ giúp việc ngoài phủ, đi chợ nấu cơm, rửa bát phục vụ khách. Bộ phận còn lại làm các việc thu xếp lễ, tiền... gồm 6 - 10 người, hầu hết là con gái, con dâu và cháu gái của thủ nhang.

Theo bà Mai, chính sự chuyên nghiệp nhịp nhàng trong tổ chức của một phủ Mẫu Nam Định đã làm nên sức hút của phủ đó. “Với khả năng tổ chức chu đáo, đội ngũ nhân sự thường trực nhiệt tình và chuyên nghiệp, họ tạo nên một hệ thống dịch vụ tâm linh chu đáo, nhất là đối với các hoạt động lên đồng hầu bóng”, bà phân tích.

Bản thân những người tham gia hệ thống này cũng coi việc mình làm là một nghề. Các cung văn cho biết thêm, ngoài hát phục vụ ở phủ, thỉnh thoảng họ cũng đi hát ở những nơi khác như Nghệ An, Lạng Sơn. “Nhìn từ góc độ xã hội học thì phục vụ các giá đồng hiện nay cũng là một nghề mà hiện tại tính cạnh tranh ít, thu nhập khá cao và trước mắt là không sợ thất nghiệp, lại không phải bỏ vốn đào tạo nhiều”, bà Mai đánh giá.


Cơ hội thêm “nghề” mới 

Bản thân các đồng thầy cũng tạo nên một mạng lưới quan hệ cả trong cuộc sống và công việc. Theo nghiên cứu của bà Mai, việc thường xuyên gặp gỡ nhau tại mỗi cuộc lễ lên đồng, hầu bóng nơi bản điện của đồng thầy và tổ chức đi lễ nơi xa đã tăng tình thân thiết. “Mỗi lần như vậy các đồng được chia sẻ với nhau, thăm hỏi tình hình cuộc sống của nhau. Không thiếu những trường hợp nhờ những mối quan hệ kiểu này mà nghề nghiệp, việc làm ăn của họ trở nên thuận chèo mát mái hơn”, bà Mai viết.

Một số đồng thông qua bản hội mà có thêm cơ hội để thêm nghề mới. Chẳng hạn, đồng H. sau khi trình đồng đã quen biết cung văn G. và theo anh học hát văn rồi có thêm nghề mới. Một cung văn ở Hà Nội cho biết thu nhập từ hát hầu đồng của anh chiếm tới 40% tổng thu nhập gia đình.

Những thu nhập tài chính này được bà Mai lý giải bằng kết nối mạng trong hội những người cùng theo tín ngưỡng đạo Mẫu Tam phủ. Đây là kết nối mang thiết chế lòng tin, trách nhiệm và thông tin được trao đổi chặt chẽ liên tục giữa các thành viên. “Thành quả có được từ các mối quan hệ lại càng khiến họ củng cố thêm niềm tin vào sự phù hộ của thánh”, bà Mai đánh giá.

Trinh Nguyễn

Theo Thanh Niên

“Trước buổi hầu đồng, các ông đồng bà đồng gấp trang phục các giá và cất giữ trong vali riêng”, GS Ngô Đức Thịnh chia sẻ về trang phục trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ.
 


Những ông đồng, bà đồng giàu có thường sắm riêng những bộ khác nhau. Bộ sang trọng chỉ dùng ở đền sở tại, trong các dịp lễ lớn. Các bộ khác dùng khi đi hành hương, hầu ở các đền thuộc địa phương khác. “Về nguyên tắc, mỗi giá đồng thờ một vị thần linh nào đó thì phải có một bộ trang phục riêng, không được dùng lẫn trang phục của các vị thánh khác. Nên trong một buổi hầu đồng, ông đồng hay bà đồng định hầu bao nhiêu giá thì phải chuẩn bị ngần đấy bộ trang phục”, ông Thịnh cho biết.

Tấm khăn hầu đồng hút năng lượng vũ trụ

Ông Thịnh cũng tiết lộ, với những người nông dân nghèo túng khi xưa, chỉ cần chiếc khăn phủ diện màu đỏ là đủ để hầu đồng. “Nhưng với tầng lớp thị dân, hình thức hầu đồng từ lâu đã được cung đình hóa thì trang phục trong hầu đồng thường rất hệ trọng, không thể thiếu”, ông nói.

Điều này cũng trùng hợp với kết quả nghiên cứu điền dã của TS Nguyễn Ngọc Mai, Viện Tôn giáo: “Theo trí nhớ của các đồng cao tuổi, trước đây trang phục trong lên đồng rất đơn giản và không bắt buộc. Chỉ có chiếc khăn phủ diện đỏ là không thể thiếu. Còn lại các giá thánh đều được biểu lộ bằng chiếc thắt lưng các màu. Nhiều đồng chỉ có bộ quần áo nâu mới với chiếc khăn phủ diện đỏ là được. Khá hơn nữa là có thêm bộ áo dài đỏ, hồng”.



Theo bà Mai, khăn phủ diện là tấm khăn choàng lớn, khi trùm lên người gần như che kín thân trên. “Khăn được sử dụng để phủ cho các đồng mỗi khi thánh thăng hay giáng. Khăn phủ diện luôn là màu đỏ và được sử dụng cho tất cả các giá trong hệ thống thần điện. Khăn thường được may hình chữ nhật. Trên nền khăn thêu nổi hai họa tiết phượng vờn hoa và lưỡng long chầu nguyệt, xung quanh diềm khăn được may gắn dây kim tuyến hoặc đính đăng ten màu. Cũng có một dạng khăn khác hình vuông bằng the đỏ. Chính giữa khăn là đồ án rồng bay uốn khúc trong mây. Một số trang phục giá Mẫu hiện nay còn đính thêm ngọc tím, hoặc ngọc lục bảo vào chi tiết mắt phụng hoặc mắt rồng. Dưới ánh sáng, hiệu ứng của những viên ngọc này khiến trang phục trở nên sang trọng, lộng lẫy”.

Bà Mai phân tích, màu đỏ của khăn trùm được dùng với ý nghĩa là sự tái sinh. Các căn đồng nhờ nó mà có thể đón nhận được năng lượng của vũ trụ, thần linh. Trong lên đồng cổ thời khắc trùm khăn chính là thời khắc chuyển hóa người - thần.

Mốt trang phục hầu đồng thành thị 

Tài liệu của nhà nhân học M.Durand về giai đoạn 1954 cho biết: “Để chứng tỏ là hồn đó hiện lên, ông đồng bà cốt mặc quần của hồn, nói lời của hồn và hành động như hồn hành động”. Các tư liệu khác cũng cho thấy cho đến những năm 1959, các căn đồng ở đô thị đã có những trang phục riêng để thực hành nghi lễ lên đồng.

Bà Mai cho biết, gần như trở thành một quy ước mỗi người thực hành nghi lễ lên đồng phải có tối thiểu 5 bộ quần áo với những màu sắc khác nhau để đại diện cho các giá như hàng Mẫu, hàng Quan, hàng ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu... Hiện nay theo mốt ở Hà Nội, một ông đồng có thể có từ 15 - 20 bộ khăn chầu áo ngự. Cá biệt có những đồng còn sắm đầy đủ trang phục cho 36 giá. Có những người không chỉ đủ trang phục cho cả 36 giá mà còn có cả loại dùng trong đại lễ và ngày thường. “Loại dùng trong dịp đại lễ thường được may bằng những chất liệu vải đắt tiền như nhung the hoặc satin cao cấp, gấm cao cấp. Những trang phục này thường thêu rất cầu kỳ tinh xảo bằng kim tuyến”, bà Mai nói.

Theo cuốn Nghi lễ lên đồng - lịch sử và giá trị của bà Mai, trang phục dùng trong nghi lễ lên đồng có thể không ổn định và không theo một quy luật nào về hoa văn và kiểu dáng trang phục. Tuy nhiên, màu sắc là yếu tố được coi là ổn định nhất. Tất cả những vị thánh thuộc phủ Thiên đều màu đỏ. Những vị thánh thuộc phủ Thượng Ngàn màu xanh. Phủ Thoải màu trắng. Phủ Địa màu vàng.

Trang phục hầu đồng mang yếu tố bản địa 

Theo nghiên cứu của bà Mai, những giá thánh của địa phương có thể kéo theo trang phục có yếu tố bản địa. Chẳng hạn, Chầu Hòa Bình là người vùng cao nên trang phục của giá này là áo ngắn giống như áo ngắn của dân tộc Mường các tỉnh phía bắc. Chất liệu bằng satin màu trắng không thêu hoa văn 8 phượng mà chỉ viền nẹp cổ áo, tay áo và gấu áo bằng dây đăng ten kim tuyến. Hay, giá Chầu Lục sử dụng khăn của dân tộc thiểu số. “Phía đuôi khăn là hai hàng hoa tám cánh 11 bông, may bằng hình thức ghép vải màu. Đây là kỹ thuật của người Dao Tiền. Tiếp đến là hàng đồng tiền bạc và hạt nhựa xanh...”, bà Mai viết.

Trang sức trong hầu đồng cũng khá phong phú. Chẳng hạn dùng cho các giá hàng Chầu Bà gồm hoa tai, nhẫn xuyến, vòng cổ và những bộ xà tích. Khi các thánh bà múa đồng thì lục lạc, xà tích phát ra tiếng kêu vui tai. Cũng có thể thấy dấu ấn thời trang qua các thời kỳ trong trang phục hầu đồng. Chẳng hạn, theo bà Mai, khăn vấn tóc của các bà các cô Hà thành hồi năm 1902 được giữ qua chiếc khăn vấn đội đầu ở giá hàng Mẫu. Hay, chiếc yếm cổ dây của các bà các cô đồng bằng Bắc bộ màu hồng đào, hoa lý cũng được sử dụng linh hoạt trong các giá hàng Cô.

Trinh Nguyễn

Theo Thanh Niên

Để tổ chức một buổi hầu đồng thời gian kéo dài khoảng từ 3 đến 6 tiếng tùy giá hầu nhiều hay ít. Và cũng tùy túi tiền của gia chủ để làm lễ to hay lễ nhỏ, lễ mâm cao cỗ đầy, hay lễ sơ sài đơn giản. Ông Đạt, một cung văn đi hát hầu đã sáu, bẩy năm kể lại: Ngày trước ông đi làm cung văn cho những người lễ hầu dâng thánh, có gặp một bà cụ tuổi ngoài 70 tuổi ở Lạng Sơn kiếm sống bằng mở quán nước chè, thu nhập cả ngày được dăm chục một trăm. Hàng ngày trừ khoản tiền sinh hoạt ăn uống mỗi ngày, bà tiết kiệm để mỗi năm bà hai vấn hầu, đầu năm và giữa năm.



 Ngựa xe vàng mã chật kín trong một giá đồng giàu có. 

Ông Đạt bảo: "Bà lão tuy nghèo nhưng hát để cho bà hầu rất thích vì bà rất am tường lời thơ trong văn hầu các giá. Bà hiểu và thuộc hết tích của các vị thánh trong những giá hầu. Bà lại nhập đồng múa dẻo và hưng phấn nên những người hát văn như ông gặp người hầu như thế như cá gặp nước, cảm thấy vô cùng hưng phấn nên tiếng hát văn cũng vì thế mà du dương trầm bổng sâu lắng hay hơn rất nhiều.

Ông Đạt kể, trong những lần làm cung văn cho những người nhà giàu nhưng họ lại có những yêu cầu lạ lùng. Chẳng hạn như họ đề nghị mấy anh cung văn đưa đẩy thêm tí quan họ cho luyến láy sôi nổi, hào hứng?! Hay giá cô Bơ buồn lại mong cung văn hát vui cho cô đỡ sầu, đỡ tủi. Với khổ chủ như vậy thì những người như ông Đạt đôi lúc phải ngậm bồ hòn làm ngọt, ngậm ngùi đồng ý cốt để kiếm chỗ đi lại. Làm hôm nay còn có bữa ngày mai.

Ông Đạt nói: "Làm cung văn cũng cơ cực chẳng đã, làm nghề này như làm dâu trăm họ, không để thanh đồng phật ý, thanh đồng phật ý đưa ít tiền cho cung văn, thanh đồng đắc ý sẽ thưởng cho cung văn lắm lộc, nhiều tiền...".

Đúng vậy, như mắt thấy tai nghe ở khắp các đền các phủ: Đồng giàu vung tiền không tiếc, gọi là cơn mưa lộc lá, những tờ tiền mới tinh thơm phức mệnh giá 200 nghìn, 500 nghìn được thanh đồng xòe ra tung rải không tiếc tay. Đồng nghèo tờ 500 đồng "con", cả những tờ tiền cũ mới lẫn lộn, được nâng lên hạ xuống một cách tùng tiệm, dè xẻn. Đồng giàu ngút ngát vàng mã hương hoa đẳng vật linh đình. Đồng nghèo tùng tiệm, giản đơn. Đồng giàu trang phục cầu kì, gấm lụa Hàng Châu, kĩ lưỡng thêu tay họa tiết cầu kì tinh xảo. Người xe, ngựa, voi vàng mã dựng kín ngoài sân. Đồng nghèo tâm thành lễ mọn, áo quần đi mượn hoặc qua loa đại khái, nhàu nhĩ cũ kỹ. Người ta cứ nghĩ hầu thánh sẽ được ban lộc phát tài, lợi dụng lòng tin của người dân mà không ít các thầy đồng cứ khuyên nhủ các con nhang đệ tử, phải ra hầu đồng, trình đồng dâng thánh. Rồi không ít các thầy đồng bà cốt giả làm thánh nhập về phán nọ, phán kia; tất cả cũng chỉ là mượn oai thánh thần, trục lợi kiếm tiền.

Mỗi lần khăn tay, khăn áo, trà thuốc, hoa quả lễ vật lòng thành như vậy ít nhất cũng tốn kém dăm bẩy triệu, nhiều thì vài chục triệu, hoặc nhiều nữa thì vài trăm triệu, thậm chí cả tỉ. Nếu dùng tiền tiết kiệm, tiền chính đáng gọi là những đồng tiền mồ hôi nước mắt, đồng tiền sạch để hầu thánh thì cũng không sao nhưng không ít người vay mượn, hay tiền từ buôn lậu, trốn lậu thuế, tiền sang đoạt, tiền tham ô, tham nhũng, tiền lừa đảo để trình đồng dâng thánh để rồi nhà tan cửa nát, sạt nghiệp, cả mất mạng cũng không phải là hiếm.

Tất cả đều bắt đầu khởi từ tâm của con người. Nói như nghệ sĩ chèo Xuân Hinh, đồng thời anh cũng là một nghệ nhân hát văn, thì "đồng tiền có gai, mà thánh thì có mắt" nên ông đồng, bà cốt cũng đừng nên lòe bịp thiên hạ để hại người lợi mình. Gieo nhân nào gặp quả đó. Tích thiện được phước, ác giả ác báo là luật nhân quả ở đời.

Mỹ Trân

Theo ANTG

GS Ngô Đức Thịnh - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam cho biết: "Văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ của người Việt, hạt nhân là hầu đồng, một thời bị coi là mê tín dị đoan xóa bỏ, bây giờ đã được Nhà nước nhìn nhận đúng, nhưng hiện nay cũng bị biến tướng nhiều. Nhiều người lợi dụng để kiếm tiền trục lợi chuyện hầu đồng. Hầu đồng có hai loại. Một là người có căn quả, người ta gọi là "người có căn đồng số lính" họ phải ra trình đồng thì họ mới sống được, còn bây giờ có một dạng nữa mà dân gian gọi là đồng đua, đồng đú, đó là hiện tượng ra đồng để giải tỏa những dồn nén của kinh tế thị trường xã hội hiện đại".



Đúng như những gì Giáo sư Ngô Đức Thịnh, người đã cả đời dành tâm huyết về đề tài khoa học, đạo Mẫu trong tín ngưỡng thờ cúng của người Việt đã nói, có một nghệ sĩ là diễn viên chèo, anh hát văn hay nức tiếng trong giới hầu đồng kể: Người ra đồng thì đủ cả, người làm ăn thua lỗ, muốn kiếm được lời họ cũng ra đồng để mong thánh thiêng, thánh ban lộc phát tài.

Người lấy vợ, gả chồng lâu năm, thuốc nam thuốc bắc, chữa đông tây kim cổ, thụ tinh nhân tạo mãi từ bệnh viện Từ Dũ, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến bệnh viện Phụ sản Hà Nội không có được mụn con nào cũng ra hầu đồng, mong thánh thương thánh giúp cho nhà thêm con, thêm cháu.

Người cầu quan, cầu chức, cầu lộc, cầu tài cũng muốn ra hầu đồng. Người kinh doanh thích mua một bán mười, mua may bán đắt cũng ra hầu đồng trình thánh để xin lộc rơi lộc vãi. Hay người cao số khó lấy chồng, lấy vợ cũng bắc ghế ra hầu đồng xin thánh. Thậm chí người chẳng làm sao chỉ muốn khoe mình lắm của nhiều tiền, múa giỏi, lễ hay cũng hầu đồng ở đền to, phủ lớn…

Trong kì Hội thảo "Bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ Mẫu Tam - Tứ phủ của người Việt" ở Hải Phòng, cậu đồng Nghĩa nức tiếng trong giới mở đồng ở miền Bắc cho biết: "Hầu đồng ai cũng muốn oai, oai cái gì và oai đến đâu. Oai phải là phong thái lên đồng.

Các cụ bảo: "Đồng khôn bóng ngoan, đồng sang bóng lịch sự". Lịch sự không phải là nhiều tiền, lịch sự là cung cách biết xử sự, thánh (người hầu đồng) biết cho ai trước ai sau, thánh biết nghe hát nghe văn thế nào. Đấy là lịch sự. Chứ bây giờ lên đồng lại cứ nhảy loạn lên bảo tôi sang tôi nhiều tiền thì không phải. Bây giờ các vị đồng đền rất nên cho ai ra đồng và không nên cho ai ra đồng. Vì đồng bây giờ người ta chả làm sao, thua cờ bạc nó cũng ra đồng?

Hồi xưa các cụ bảo "Sạch sành sanh mới được anh áo đỏ". Không ốm đau, không điên rồ làm sao ra đồng? Không chiêm bao báo mộng làm sao mà ra đồng? Nhà tôi một năm mở phủ có 200 người. Ba năm nay tôi chỉ mở phủ có 40 người. Tôi chả mở nhiều. Mở nhiều làm gì?! Nó cờ bạc, lô đề, bóng bánh, nó thua nó lại bảo thánh không thiêng rồi nó lại đi thay thầy khác, thế thì hơi đâu mà mở? Có người đến gặp tôi nằng nặc: "Con phải ra đồng".

Tôi can: "Không có căn có mạng con ạ, chờ ba năm sau hãy ra đồng". Ba năm sau người ta làm ăn được thì ra đồng, không làm ăn được thì họ bỏ. Bây giờ ông đồng bà đồng nào cũng thích đi mở phủ kiếm được vài triệu bạc cứ tưởng là to thì tự nhiên mất tiếng của thánh đi, lại không đúng. Tôi kính mong nhất các vị đồng đền, các vị thủ nhang, các vị thanh đồng giữ làm sao chấn chỉnh việc hầu thánh".

Nhớ lại lời của GS Ngô Đức Thịnh, ông bảo: "Không có tín ngưỡng nào trên đời này dạy con người làm những điều xấu xa, chỉ có con người lợi dụng nó cho những mục tiêu xấu xa. Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt của nó, ở đâu đó thì hầu đồng đang bị biến tướng, nhiều người lên đồng vì những lợi ích vật chất, và sự biến tướng này có nguy cơ trở thành môi trường kiếm tiền, làm giàu, trục lợi…"

Mỹ Trân 

Theo ANTG

Chả biết tự bao giờ người ta lại có một loại thuật ngữ để phân biệt ra những thanh đồng (người ra hầu đồng) thành "đồng sang" (đồng giàu), "đồng nát" (đồng nghèo), "đồng đua", "đồng đú" hay thậm chí cả "đồng non" (đồng trẻ tuổi) với "đồng già" (đồng nhiều tuổi)… Kể cũng lạ, tưởng thế là hết rồi, vậy mà mới đây một nghệ sĩ hát văn nức tiếng, anh cũng hay ra hầu đồng bảo giới hầu đồng có nhiều tên gọi khác nhau cho những thanh đồng như đồng khôn, đồng giỏi, đồng điên, đồng rồ, đồng hâm, đồng rởm…



 Thanh đồng phát tài ban lộc cho mọi người. 

Giới hầu đồng giờ đây lắm lúc thật như là một cái chợ hỗn tạp mà ở đấy có đa dạng người từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ người trẻ tuổi đến người già, với nhiều tính cách khác nhau. Những thanh đồng có tài chính khá giả, lập đàn dâng lễ mâm cao cỗ đầy, cầu kì kén chọn ban hát văn phải là những người có tiếng, hay đến khi những thanh đồng lên đồng, nhịp nhàng động tác uyển chuyển có hồn, được kính trọng yêu quý thì được gọi là đồng sang, đồng giàu.

Đồng ít tiền, kinh tế còn eo hẹp, dâng đàn lễ tùng tiệm, sơ sài người ta gọi là đồng nghèo, đồng nát. Người ra hầu đồng đủ các lứa tuổi, chỉ cần mở trên mạng xã hội thì người ta thấy có nhiều em bé chỉ 5, 6 tuổi đã ra hầu đồng, hay những thanh thiếu niên 9X ra hầu được gọi là đồng non. Thanh đồng nhiều tuổi, tóc bạc da mồi, hay có thâm niên lâu năm ra nhập đồng gọi là đồng già.

Đồng khôn ăn nói chừng mực, tỉnh táo. Đồng rồ, đồng hâm, đồng điên, đồng dại, bốc đồng một tấc lên đến trời cao, có hành động cử chỉ lời nói khác thường trở thành dị thường. Đồng rởm là không hiểu về đạo tam - tứ phủ, không am tường về đạo Mẫu nhưng vẫn ra hầu đồng. Thế còn tại sao lại còn gọi là đồng đua, đồng đú? Theo như giải thích của những thầy đồng (mở phủ và hướng dẫn thanh đồng vào những ngày đầu tiên ra hầu đồng) thì người ra hầu đồng phải có căn, có cốt chứ không có căn cốt mà thấy người ta hầu đồng mình cũng đi theo để hầu đồng, ra hầu đồng chỉ để cho vui, cho oai thì gọi là đồng đua, đồng đú.

Và có vẻ như xã hội càng phát triển thì người ra hầu đồng lại càng nhiều như nêm cối thế. Mỗi năm đến mùa xuân thu nhị kì, vào đầu năm bắt đầu từ tháng giêng đến tháng ba âm lịch và cuối năm vào từ tháng 8 đến hết tháng 12 âm lịch hầu đồng gọi là trả lễ.

Phủ Giày, TP Nam Định được coi là "đại bản doanh" của các thanh đồng, hay "Công Đồng Bắc Lệ" ở Lạng Sơn cũng được coi là thủ phủ của những người hầu đồng, đền Mẫu Đông Cuông Tuần Quán (Yên Bái), Đền Sòng Sơn, Đền cô Chín giếng, đền cô Bơ (Thanh Hóa), đền ông Hoàng Mười (Nghệ An), đền ông Hoàng Bẩy (Bảo Hà), đền Trần (Nam Định), đền Rừng, đền Núi, đền Mẫu Thoải (Gia Lâm - Hà Nội)… khắp làng mạc, chỗ nào có đền phủ, ban thờ Mẫu trong chùa vào những ngày đầu xuân năm mới, hay những tháng cuối năm là thấy người hầu đồng ra vào tấp nập chốn đèn nhang, nơi tâm linh hương khói để dâng tâm thành lễ mọn, múa hát hầu dâng thánh

Mỹ Trân

Theo ANTG

Xưa, trang phục là cách để vua chúa, quan lại thể hiện uy quyền. Ở một khía cạnh khác, mỗi bộ trang phục trở thành một tác phẩm nghệ thuật với sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa mỗi đường kim may, vẻ cầu kì của từng nét chỉ thêu. Giờ đây “làng thêu rồng phượng” xưa đã trở thành làng thêu trang phục hầu đồng được nhiều khách hàng tìm đến.



Nghệ nhân làng nghề thêu truyền thống Đông Cứu. ảnh: Vũ Trần. 

Làng nghề độc đáo

Đó chính là làng nghề thêu truyền thống Đông Cứu, xã Dũng Tiến, huyện Thường Tín, Hà Nội. Không phải bây giờ làng mới trở nên nổi tiếng mà suốt bao năm qua, nơi đây đã trở thành một địa chỉ tin cậy để những người muốn phục chế long bào cho vua hay áo thờ cho thành hoàng làng tìm đến.

Và muốn thêu một bộ khăn chầu, áo ngự để hầu đồng thì cũng không nơi nào có thể làm đẹp hơn những nghệ nhân ở Đông Cứu. Đó cũng chính nguyên nhân để từ hàng trăm năm qua làng vẫn giữ nguyên được truyền thống làng nghề với nhiều kĩ thuật thêu cổ mà chẳng nơi đâu có được.

Danh xưng “làng thêu rồng phượng” được gắn liền với làng nghề thêu long bào, áo mão cho quan tước, quý tộc cho các triều đại phong kiến Việt Nam.

Tuy nhiên, trong cơn lốc của thời buổi kinh tế thị trường, nghề thêu long bào ở làng Đông Cứu có thời điểm dần bị mai một, người dân cũng bắt buộc phải chuyển sang làm các mặt hàng thị trường với những sản phẩm phục vụ lễ hội như làm hia, hài, lọng, tán, nhất là trang phục của giới hầu đồng.

Một buổi hầu đồng muốn thành công ngoài phần âm nhạc không thể không nhắc đến trang phục hầu đồng. Bởi chính những bộ sắc phục lộng lẫy sẽ góp phần làm cho người có “căn” nhà Thánh và người trực tiếp tham gia nghi lễ cảm thấy hứng khởi hơn.

Trong quan niệm dân gian thường có 36 giá đồng tương ứng với 36 giá Thánh sẽ có 36 bộ trang phục dành riêng cho mỗi giá. Các bộ trang phục hết sức phong phú, đa dạng nhưng dù thế nào vẫn có sự thống nhất về kiểu cách, màu sắc, phục sức đi kèm.

Để có thể làm nên những bộ trang phục này, người thợ thêu phải am tường, tuân thủ các kĩ thuật thêu, các hoạ tiết thêu, từ vảy rồng sẽ khác vảy ra như thế nào, đi kèm với hình rồng thường sẽ là mây với những chấm tròn to nhỏ khác nhau ra làm sao.

Một bộ trang phục hầu đồng bao giờ cũng có 5 màu sắc cơ bản như xanh, đỏ, trắng, vàng, lam. Nhưng để tạo ra các màu sắc khác, các thợ thêu cần phải biết phương pháp nhuộm và phối màu. Khi nói đến việc may vá thêu thùa người ta thường nghĩ đến những người phụ nữ nhưng ở thôn Đông Cứu thì những người đàn ông lại tỏ ra khéo léo hơn. Ở đây, nam, phụ, lão, ấu ai cũng biết thêu thùa.

Họ khéo đến mức, chỉ cần vẽ phác thảo những đường mẫu nổi vần vện trên vải bằng bụi phấn mờ là người thợ có thể cầm kim thêu liền. Mỗi bản vẽ mẫu đều có hồn riêng thể hiện bản sắc, dấu ấn phong cách của từng người thợ.


Gìn giữ di sản

Nhiều năm qua khi văn hoá tín ngưỡng thờ Mẫu được cộng đồng quan tâm, đặc biệt là từ khi Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, việc phục dựng trang phục cổ đã trở thành hướng mới để làng nghề thêu Đông Cứu phát triển.

Chị Tạ Thị Thuý Duyên, chủ một xưởng thêu cho biết: Mấy năm trở lại đây, khách hàng về làng mua đồ thường tập trung vào 3 tháng lễ hội đầu năm.

Theo chị Duyên, bây giờ, dù công nghệ thuê bằng máy đã rất phát triển nhưng nhiều khách hàng vẫn thích các sản phẩm thêu tay hơn, bởi theo họ những sản phẩm thủ công có nét độc đáo, hấp dẫn mà không loại máy nào có thể thay thế được.

Những người thợ thêu theo thời vụ được trả 20 ngàn đồng/giờ, ngày làm 8 tiếng, thu nhập cũng được khoảng gần 200 nghìn/ một ngày. Những năm trước đây, làng có khoảng 200 mẫu ruộng, mỗi năm bình quân thu được 400-500 tấn thóc, bán đi giá thành cũng không bằng làm nghề thêu. Vì vậy, trong làng, hầu như nhà nào cũng chuyển sang nghề thêu.

Hiện, làng Đông Cứu có trên dưới 15 người mở xưởng thêu tư nhân tại nhà. Mỗi xưởng bình quân có khoảng gần 30 người thợ thêu, làm việc hết công suốt từ sáng đến tối. Một số hộ gia đình làm sẵn các loại áo sau đó đem ra bán trực tiếp ở phố Hàng Quạt, Hà Nội. Có người làm theo sở thích nhưng phần lớn các hộ đều làm theo đơn đặt hàng, nhu cầu thị hiếu của thị trường.

Cuối năm 2016, nghề thêu Đông Cứu được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, thì hướng phát triển nghề thêu may trang phục truyền thống của người làng Đông Cứu càng có điều kiện phát triển hơn.

Đây cũng là động lực khích lệ người dân Đông Cứu không ngừng trao truyền và gìn giữ bản sắc văn hóa làng nghề truyền thống do cha ông để lại. Trong tương lai không xa, làng phấn đấu trở thành một điểm du lịch hấp dẫn từ chính sản phẩm thêu này.

Vũ Phúc

Theo Đại Đoàn Kết

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.