bài viết trong chuyên mục "TU-VI-DAU-SO"

12 con giáp năm bính thân 2016 12 cung hoàng đạo chòm sao tử vi tây phương Áo Dài âm dương tổng luận bát trạch bát tự bếp bí ẩn giấc mơ biểu phí bủa trú phù ấn phong thủy Căn duyên tiền định câu chuyện phong thủy câu hỏi hay quan tâm Cầu Tự Pháp - Phép Đặt Bếp Cầu Con cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ Chọn tuổi xông đất chuyện phật giáo chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học khai trương và cúng giao thừa năm Đinh dậu khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lễ hội đền phủ lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nghi nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phật giáo tổng hợp phong thủy 2021 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy tân sửu phong thủy tân sửu 2021 phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH PHONG-THUY-DUONG-TRACH phongthuyviet Quan Họ sao và vận hạn 2021 thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch tu vi 2017 TU-VI-DAU-SO tử bình tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi 12 con giáp từng năm tử vi năm 2021 tử vi tổng hợp tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem bói tổng hợp xem chân gà Xem Mũi biết bệnh xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo Xem tuổi xông nhà xông đất năm 2021 xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn TU-VI-DAU-SO. Hiển thị tất cả bài đăng


Nhắc đến Thiên Hình không thể không nhắc tới sao tam hợp là Thiên Diêu. Bộ Hình Diêu Y luôn tam hợp với nhau nên tạo thành một bố cục riêng, đóng tại cung nào mang ý nghĩa cho ngay chính bản cung, từ đó gây tác động cho hai cung còn lại. Việc xét tam hợp có như bản cung có là không hợp lí. Thực ra là sự tác động liên quan tới nhau khác với bản chất của cung. Như Mệnh có Thiên Diêu khác với cung Quan Lộc có Thiên Diêu. Mệnh có Thiên Diêu là cách bản thân có dâm tính trong trường hợp bình thường, nhưng cung Quan Lộc có Thiên Diêu tức cung Mệnh có sao Thiên Hình thường chủ đứng đắn. Nhưng không phải tuyệt đối là như trên, khi mà Thiên Hình và Thiên Diêu tam hợp nhưng ý nghĩa tương đối trái ngược nhau. Trong hai trường hợp Mệnh tạo đều tồn tại cả hai tính cách, trong trường hợp mệnh có Thiên Hình, Quan Lộc có Thiên Diêu một tính cách ngay trong tư tưởng thường trực là sự gò bó, nghiêm khắc của Thiên Hình nhưng khi liên quan đến công danh, địa vị có thể mù quáng, sai lầm vì Thiên Diêu chủ mù quáng. Các sao đóng tại cung nào mang ý nghĩa chuyển hóa tại cung đó. Như việc "Thiên Diêu cư Tài họa đổ sinh ương". Khi đó việc tác động lẫn nhau giữa Hình và Diêu liên tục trong ba thứ quan trọng của Mệnh. Vì vậy mới thường hay đề cập tại tam hợp cũng như của Mệnh, cách gộp này cúng có lợi khiến việc xem được tổng quan. Như việc cung Tài có Hình, cung Mệnh có Kỵ, ba cung Tài Quan Mệnh liên hệ chặt chẽ với nhau hình thành bộ Kỵ Hình, tuy nhiên không xấu bằng cả hai sao Kỵ Hình ngay tại cung Mệnh. Mỗi cung đi với Chính Tinh riêng nên tác động ngay với Chính Tinh để thay đổi tính chất bộ sao. Các chính tinh phối hợp với nhau thành bộ rất chặt chẽ như Sát Phá Tham, Tử Vũ Liêm, Âm Lương,... nếu một sao bị tác động xấu gây xấu đến toàn bộ cách cục. Tuy nhiên nếu không cần luận sâu thì có thể coi đa phần trường hợp tam hợp cũng thuộc Mệnh để luận cát hung. Trong các trường hợp thường đề cập tới cách Thiên Diêu cư Hợi chủ minh mẫn.
" Diêu tại Hợi vi minh mẫn".
Khi Thiên Diêu cư tại Hợi tức Thiên Hình cư tại Mùi cung. Câu phú này chỉ nhắc tới Thiên Diêu tức tại vị trí này Thiên Diêu tốt hơn. Trong Tử vi các cung trong lá số đều tác động thuộc tính ngũ hành lại tới Chính Tinh và Phụ Tinh, tuy nhiên nhiều người lợi dụng để giải thích nhăng cuội, có người giải thích trường hợp này là do cung Hợi là cung thuộc Thủy, Thiên Diêu thuộc Mộc là Thủy sinh Mộc nên tốt là không có căn cứ. Đa phần các câu phú thường chỉ đến một trường hợp khá cụ thể do gia cát tinh nên luận là hay. Thiên Diêu cư Hợi nằm trong bố cục nào đó mới luận là tốt. Tuy nhiên cái quan trọng là Thiên Diêu đi với sao nào, chỉ cần xem tổ hợp các Chính Tinh và bàng tinh đã mất nhiều công sức, và tác động cũng rõ rệt hơn vì ý nghĩa của sao ăn vào tính cách. Thiên Diêu khi xấu là tin tưởng mù quáng, là sao chủ dâm tối, lang chạ, là ưa rượu chè, hút sách. Khi tốt đẹp tượng là hoa sen, là thuần khiết, trong trắng, được ngưỡng mộ vì vẻ đẹp thanh thoát. Thiên Diêu có thêm Phượng Các thì tăng đặc tính tốt, ngộ Kỵ và dâm tinh tăng khuyết điểm.
" Hạn phùng  Cơ Diêu vô phu nan tự khởi cô miên".
Thiên Cơ ngộ Thiên Diêu tăng khuyết điểm, chủ dâm dật mà đầu óc ngu tối, kém thông minh, chủ bại tinh cần Triệt hoặc Khoa để giảm khuyết điểm tăng sức sáng của Thiên Hình nếu không gặp lại kiến Sát Kỵ , khi đó Hình biến hóa tượng chủ sát phạt dẫn đến tai họa, khí lực điều hậu tại Thận không giữ mà tâm cuồng loạn, hỏa vượng, dễ bị trầm cảm, có xu hướng tự sát khi đáo hạn xấu nếu có thêm Kỵ hoặc Hỏa Linh.


Trong thời đại ngày nay, phụ nữ được giải phóng về mặt tình dục, tình yêu và gia đạo. Được tự do trong hôn nhân, được bình đẳng trong xã hội nên vì lẽ đó mà tệ nạn ngoại tình, ly dị chồng con cũng diễn ra nhiều hơn ngày xưa.
Chính vì vậy, có thể những cách cục ngoại tình trong tử vi đã không còn chính xác, nhất là khi luận đoán cần đặc biệt cẩn trọng khi nhắc tới những vấn đề nhảy cảm này. Đôi khi, chỉ cần một lời nói không chính xác của các “thầy” mà người ta tan cửa nát nhà, nhẹ thì ghen tuông nhau cơm không lành canh chẳng ngọt.

Tuy nhiên tử vi cũng không hẳn không có căn cứ khi xét về khía cạnh ngoại tình của một người. Để chắc chắn, cần xét thật kỹ những điều sau đây.
+ Điều kiện về tính chất:
– Lá số của nam hay nữ phải chất chứa một nết tình mạnh thiên về nhục dục, hoặc sự si tình, lụy tình, đồng thời với tính nết ham vui chơi, ưa hoang phí, thích thay cũ đổi mới, táo bạo, trí trá …
– Phải có nhiều cơ hội tốt cho việc phát tác tình dục biểu lộ trong cung Di, cung Nô, qua những sao ái tình tọa thủ tại 2 cung này. Những lá số có Thân cư Di hội nhiều sao tình dục là ví dụ điển hình.
– Ngoài điều kiện tích cực, còn có điều kiện tiêu cực là thiếu sự khắc chế tình dục, hoặc sự khắc chế không đủ mạnh so với các sao tình dục hiện diện.
+ Điều kiện về sao:
– Nhất định phải có nhiều sao tình dục hội trụ hoặc tập trung vào những cung cường, sao đồng cung hoặc sao tình dục hạng nặng (Thai, Riêu, Tham, Đào) …
– Phải có sao đa phu, đa thê
– Phải có sao bất hòa gia đạo, chửa hoang
– Phải có sao bất hạnh (ly tán, đau khổ) gia đạo
+ Điều kiện về cung:
– Sao tình dục phải xuất hiện ở các cung Mệnh, Thân, chiếu Mệnh, chiếu Thân hoặc ở cung Phúc.
– Sao tình dục phải có ở cung Phu Thê
– Sao tình dục phải có ở cung Nô, Di
– Nếu xuất hiện ở cung Hạn (ngoài các cung nêu trên) thì vấn đề ngoại tình xảy ra nhất thời trong hạn đó
– Cung Tử có những sao hai dòng con: Cùng mẹ khác cha hay cùng cha khác mẹ
+ Điều kiện thuộc hoàn cảnh:
– Lá số phải được cứu xét trong xã hội có sa đọa hay không
– Nếp sống đương số có sa đọa hay không
– Cần lưu ý thêm là việc sợ vợ, sợ chồng lắm khi không phải là yếu tố kìm hãm ngoại tình.
+ Những dè dặt cần thiết:
– Sao tình dục hay sao ái tình có khi chỉ có nghĩa là có duyên (Hồng Loan) hay đẹp đẽ (Đào Hoa, Văn Xương, Văn Khúc) hay dâm đãng mà không ngoại tình, hoặc cưới xin dễ dàng
– Lưu ý tránh ngộ nhận số ngoại tình với số giang hồ, lẽ mọn, lãng tử
– Gặp trường hợp Thân cư Thê/Phu có những sao ngoại tình cũng phải dè dặt
– Gặp số có hai đời vợ, hai đời chồng phải dè dặt thêm: Có khi là hai vợ, hai chồng đồng thời, có khi là hai đời vợ/hai đời chồng liên tiếp, không trùng hợp nhau. [/sociallocker]
Tình trạng chia ly: sự chia ly ở đây bao hàm hai trường hợp ly thân hay ly hôn chứ không nói đến sự xa cách để làm ăn hay vợ một nơi chống một ngả vì có thuyên chuyển, không nói đến việc một trong hai người chết nửa chừng xuân.
Những điều kiện trực tiếp của tình trạng chia ly gồm có:
–Cung Phu Thê bị Tuần, Triệt đồng cung
– Cung Phu Thê bị sát tinh xâm phạm
– Cung Phu Thê bị ám tinh, hao bại tinh, hình tinh đi với sao thay đổi, sao đau buồn, nước mắt, cô độc
– Cung Phu Thê có sao chỉ hai đời chồng/vợ
– Cung Tử có những sao chỉ con dị bào
– Lá số của hai vợ chồng có Bản Mệnh khắc nhau
– Cung Phúc có nhiều sao bất hạnh gia đạo (cao số, dang dở)
– Cung Mệnh Thân có nhiều sao xui xẻo, đau buồn, nhất là với nữ số
– Có những chỉ dấu ngoại tình ở vài cung như Nô, Di
– Thiếu sao giải mạnh và nhiều
Đi vào chi tiết, cần lưu ý các sao sau:
– Những bộ sao của Tử Vi:
Chỉ có Tử Sát và Tử Phá đồng cung nói lên sự chia ly khả hữu:
Tử Sát: Nếu hôn nhân bị trắc trở buổi đầu hoặc nếu muộn lập gia đình thì có thể tránh được chia ly. Tuổi muộn thông thường là quá ba mươi. Thất Sát vừa chỉ sự không may, vừa chỉ sự chậm chễ.
Tử Phá: Phá Quân chỉ sự hao tán phu thê cho nên dù đi với Tử Vi cũng không giảm bất lợi. Vợ chồng phải bị chia ly, hình khắc sau khi hiềm khích, giận hờn, gây gổ nhau.
– Những bộ sao của Liêm Trinh:
Liêm ở Dần, Thân: Vợ hay chồng phải chắp nối nhiều lần, có họp rồi lại tan, chưa kể việc lấy chồng/vợ nghèo.
Liêm Tướng: Hai người không từ biệt cũng chia ly, sau khi gây gổ nhau thường xuyên.
Liêm Tham: Cũng chia ly, thông thường có một người bị hình tù.
Liêm Sát: Vừa chậm gia đình vừa chia ly.
– Những bộ sao của Thiên Đồng:
Đồng ở Thìn, Tuất: Thông thường là bất hòa, nếu không hoặc tử biệt hoặc chia ly.
Đồng, Âm ở Ngọ: Nếu muộn gia đạo có thể tránh chia ly. Thường người vợ có lỗi vì Âm hãm ở Ngọ.
Đồng Cự: Vợ chồng hay gây gổ nhau, nghi ngờ nhau, thường bỏ nhau vì mạ lỵ thậm tệ. Sao Cự chỉ ngôn ngữ bất cẩn, cãi vã, thị phi.
– Những bộ sao của Vũ Khúc:
Vũ Sát: Sự khắc kỵ gia đạo hết sức nặng nề, mang lại tai họa cho vợ chồng lúc sống chung, một sống một chết, nếu không cũng chia ly.
Vũ Phá: Chia ly xảy ra nếu sớm lập gia đình. Vì có Phá Quân, nên có thể hai lần tác hợp.
– Những bộ sao của Thái Dương, Thái Âm:
Dương hãm địa hay Âm hãm địa: Nếu muộn gia đình thì tránh được chia ly, duy vợ chồng hay bất hòa và trước khi lấy nhau thường gặp trắc trở.
Cự Dương ở Thân: Ý nghĩa như trên.
Âm Dương đồng cung: Nếu muộn gia đình thì có thể tránh được cảnh chia ly.
– Những bộ sao của Thiên Cơ:
Cơ Cự: Chia ly nếu sớm gia đạo. Sự hiện diện của Cự Môn thường bất lợi cho gia đạo, thường báo hiệu việc bất hòa, gây gổ, hai vợ, hai chồng.
Cơ Nguyệt ở Dần: trắc trở trong việc cưới xin và nếu sớm lập gia đình dễ chia ly.
– Những bộ sao của Tham Lang:
Tham ở Thìn, Tuất: Sớm lập gia đình thì dễ chia ly. Vợ thì hay ghen tuông, chồng thì chơi bời.
Tham ở Dần, Thân: Vợ chồng dâm đãng, dễ bạc tình, dễ kết hợp nhau cũng dễ chia ly.
– Cự Môn ở Thìn, Tuất, Tỵ: Phải trắc trở trước khi lập gia đình; bất hòa lúc sống chung; phải chia ly, 2 hoặc 3 lần lập gia đình.
– Những bộ sao của Thiên Tướng:
Tướng ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi: Sớm lập gia đình thì sẽ bất hòa và dễ chia ly. Đời sống vợ chồng rất cần sự nhịn nhục, vì Thiên Tướng chỉ nóng nảy và lấn át.
Tướng ở Mão, Dậu: Ý nghĩa tương tự. Lúc cưới nhau hay gặp cản trở.
– Những bộ sao của Thất Sát:
Sát ở Thìn Tuất: Phải vài lần lập gia đình, khó tránh được chia ly.
Sát ở Tý Ngọ: Nếu sớm gia đạo, dễ chia ly. Vợ chồng là con trưởng, cả hai rất ghen tuông.
– Những bộ sao của Phá Quân:
Phá ở Thìn, Tuất: nếu sớm thành gia đạo thì chẳng những phải chia ly mà còn phải nhiều lần lập gia đình.
Phá ở Dần, Thân: Ý nghĩa càng nặng hơn; vợ chồng chắc chắn phải chia ly vì nguyên nhân ngoại tình.
Phá Quân đắc địa ở Tý, Ngọ: Vợ chồng tối thiểu cũng có lúc xa nhau rất lâu.
– Thiên Mã, Tuần, Triệt ở Phu Thê: Tuần Triệt ở Phu Thê chỉ sự bất hạnh lớn lao và liên tiếp, có tính cách lâu dài của đời sống vợ chồng, thậm chí có thể xem như không có vợ/chồng. Chẳng những Tuần, Triệt ở Phu Thê cho thấy sự dang dở mối tình đầu mà còn dang dở vài mối tình kế tiếp. Đời sống gia đạo không những triền miên bất hòa mà có thể đi tới gián đoạn vĩnh viễn. Trong bối cảnh đó, sự có mặt của Thiên Mã càng xác nhận thêm sự ly cách giữa hai vợ chồng. Nếu Thiên Mã được thay bằng những sao Thiên Đồng, Đại Tiểu Hao cũng chỉ sự thay đổi, có lẽ ý nghĩa cũng tương tự.
– Địa Không, Địa Kiếp ở Phu Thê: Vợ chồng xa nhau, cụ thể là bỏ nhau, chưa kể có thể một người phải chết. Nếu Không Kiếp đắc địa thì chỉ có thể đoán là tạm thời xa nhau, dưới hình thức ly thân hoặc là người sống một nơi kẻ ở một ngả, lâu lâu mới sum họp một lần hoặc là phải gặp ngang trái nặng trong tình duyên.
– Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ: Quan Phủ, Quan Phù chỉ sự phản bội, sự thiếu chung thủy đồng thời cũng có nghĩa kiện tụng. Thái Tuế chỉ cả kiện cáo lẫn cãi vã, đồng thời cũng chỉ sự mất mát tình thương. Như vậy, bộ sao trên  có thể báo hiệu cho sự xung đột giữa hai vợ chồng đưa đến tình trạng lôi nhau ra tòa phân xử, xin ly thân hay ly hôn. Nếu không có chuyện kiện nhau thì vẫn có chuyện âm thầm bỏ nhau, mỗi người một giang sơn, tự do của ai nấy giữ, không còn sự ràng buộc nào giữa hai người.
– Thiên Hình ở Phu Thê: Vấn đề tòa án hầu như không tránh được nhất là khi Hình đi chung với một trong ba sao trên. Thiên Hình giúp xác nhận thêm sự ly hôn, ly thân một cách chính thức. Ngoài ra, Hình còn ngụ ý rằng hai vợ chồng có cãi vã đến nỗi đánh đập nhau hoặc người này hành hung người kia. Ngoài ra, Hình có nghĩa là tù ngục nên có thể có một người ở tù sau cơn ẩu đả. Nếu đi chung với Thái Tuế thì có “mạ lỵ thậm từ” và có đánh lộn gây thương tích nhưng chỉ Thiên Hình cũng đã quá đủ.
– Cô, Quả, Đẩu Quân ở Phu Thê: Riêng 1 trong 3 sao này thật sự không đủ để minh chứng tình trạng ly cách. Nó cần phải đi chung với những sao kể trên. Riêng việc đơn thủ mà thôi thì Cô hay Quả hay Đẩu Quân chỉ sự cô đơn, cô độc dưới nhiều hình thái: Hoặc có chồng/vợ vẫn ở chung với nhau mà bị cô đơn vì chồng/vợ không hiểu mình, không bệnh vực mình trước gia đình bên chồng hoặc có vợ/chồng ở chung nhau nhưng không có sự thắm thiết, hầu như mỗi người có ưu tư và nếp sống riêng rẽ, ít khi đồng thuận, không có chung thủy hoặc đối với nữ số, có thể vẫn là vợ chính thức nhưng vẫn bị bỏ rơi vì chồng có vợ lẽ, cả hai cũng vẫn không chia ly hoặc đối với nam số, có thể rơi vào tình trạng vợ lăng loàn, nhưng đành cam chịu vì sợ uy tín, xấu hổ hay sợ vợ …
Trường hợp tử biệt:
– Cung Phu Thê có Tuần, Triệt riêng rẽ hoặc đồng cung trấn thủ, hội với sát tinh, có thể hội thêm với hình tinh, hao bại tinh, ám tinh;
– Cung Mệnh đương số có Cô, Quả, Đẩu Quân, Tang, Hổ
– Số của hai vợ chồng đối khắc Bản Mệnh và một trong hai lá số rơi vào đặc điểm đầu tiên
– Những bộ sao chỉ họa cho tính mệnh xuất hiện trong lá số của một người
– Có những bộ sao chỉ tình trạng chia ly kể trên
– Có những sao chỉ tình trạng hai đời vợ/đời chồng trong lá số. Việc có con 2 dòng chỉ yếu tố phụ đới, chỉ có giá trị quyết đoán khi gặp trường hợp đầu tiên.
Tình trạng án mạng trong gia đạo:
– Một trong hai lá số có những sao sát, nói lên sát nghiệp của người đó, trong khi lá số người kia có những bộ sao chết vì án mạng hoặc yểu. Trong cả hai trường hợp, đều thấy xuất hiện sát tinh hạng nặng như Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình, Kiếp Sát, Kình Dương, Đà La. Đôi khi có những sao như Phục Binh, Thiên Không, Tang Môn, Bạch Hổ. Sát tinh hầu hết bị hãm địa, nói lên nghiệp chướng.
– Cung Phu Thê của hai lá số đều gặp nhiều trường hợp bất lợi kể ở các đoạn nói về chia ly, tử biệt, họa cá nhân, họa ngục hình
– Xét về nguyên nhân, án tình thường bắt nguồn từ sự phản bội của vợ/chồng. Vì vậy, trong số phải có những bộ sao phản bội, lăng loàn, ngoại tình, con dị bào …
– Xét về hậu quả, án tình, nếu thủ phạm còn sống sót, thường hay đưa đến hình ngục, kiện cáo …
– Xét về sự trùng phùng, cần quan tâm đến sự hội tụ của sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh đồng cung hoặc xung chiếu với các sao tình duyên trong một đại hạn hay tiểu hạn nào đó;
– Sự đối khắc giữa hai Bản Mệnh trong trường hợp này nhất định phải có;
– Cần lưu ý đến những sao nói lên cá tính của thủ phạm và nạn nhân. Thủ phạm phải là người tự ái, ghen tuông quá mức, nóng nảy, ích kỷ tột độ, có ác tâm, có sát nghiệp. Nạn nhân là người dâm đãng, trắng trợn, ngang tàng, mạo hiểm, thủ đoạn, dối trá, bê tha, đam mê …

Bản dịch từ cuốn Tử Vi Đại Toàn của tác giả Kiba, VDTT
(1) 迁移宫有吉星庙旺坐守, 如紫微, 天府, 天同, 天梁, 天机, 太阳, 太阴, 左辅, 右弼, 文昌, 文曲等, 外出得利; 遇廉贞, 巨门, 武曲, 破军, 七杀, 擎羊, 陀罗, 火星, 铃星, 化忌, 又逢陷地, 主在外多是非不顺.
(1) cung thiên di có cát tinh miếu vượng tọa thủ như Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đồng, Thiên Cơ, Thái Dương, Thái Âm, Tả Phụ Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc… thì ra ngoài hay được lợi; gặp Liêm Trinh, Cự Môn, Vũ Khúc, Phá Quân, Thất Sát, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Kỵ, nếu lại hãm địa thì chủ ra ngoài hay gặp thị phi không thuận lợi.
(2) 各星若遇四煞空劫刑忌等恶宿, 则主多招是非及身心不安, 或挫折重重, 志不易遂.
(2) Nếu như gặp các sát tinh Tứ Sát Không Kiếp Hình Kỵ thì chủ gặp thị phi, trong lòng bất an hoặc thất bại trùng trùng, không được như ý.
(3) 命无紫府十四正曜, 须把迁移宫视作命宫, 加上命宫的三合方, 用以论述一生大局.
(3) Mệnh cung không có 14 chính tinh như Tử Phủ… thì phải xem cung thiên di như cung mệnh, dùng thêm tam hợp cung mệnh để luận về đại cục cả đời.
(4) 流年斗君在原命盘迁移宫过度, 遇吉星坐守, 其年动中得福; 遇四煞及空劫等诸恶, 动中每有口舌之挠.
(4) Lưu tiên đẩu quân tại cung thiên bàn qua cung thiên di, gặp cát tinh tỏa thủ thì năm đó hoạt động mà được phúc lợi; nếu như gặp các sát tinh Tứ sát và Không kiếp thì có họa khẩu thiệt.
★ 紫微
Tử Vi
得辅弼众吉同宫, 出外每得贵人扶持, 大吉大利.
Đồng cung với Phụ Bật, ra ngoài hay được quý nhân giúp đỡ, đại cát đại lợi.
可得长辈朋友的帮助, 人事关系很好. 中年时期能与商业, 政治上的人士交往, 得上流社会人士之帮忙而成就事业, 此点要命宫会吉星 算. 紫微与左辅, 右弼, 文昌, 文曲同宫, 主宜外出发展, 在外遇贵人相助, 为在异乡成功的象征. 见禄存, 化禄, 天马, 同宫会照, 出外发财, 利以经营. 加四煞空劫刑忌诸恶, 出外不宁, 遭人算计.
Có thể nhận được sự giúp đỡ từ bậc bề trên bạn bè, quan hệ với mọi người đều tốt đẹp. Giai đoạn trung niên có thể giao thiệp với các nhân vật hoạt động về mảng thương nghiệp, chính trị, có thể nhờ sự giúp đỡ của tầng lớp xã hội thượng lưu mà đạt được thành công trong sự nghiệp, điểm này cần phải xét thêm cát tinh cung mệnh. Tử Vi và Tả Phụ, Hữu bật, Văn Xương, Văn Khúc đồng cung, chủ ra ngoài dễ phát triển, ở bên ngoài gặp được quý nhân tương trợ, tượng trưng cho sự thành công ở nơi khác (ngoài quê hương). Gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên mã đồng cung hoặc hội chiếu thì ra ngoài phát tài, lợi cho việc kinh doanh. Gia các sát tinh Tứ Sát Không Kiếp Hình Kỵ thì ra ngoài không yên ổn, hay phải suy tính.
紫微天府在寅申, 主吉利, 可受贵人相助, 并能遇富贵. 会众吉多必中外地发展, 若遇空亡大耗不利外出. 遇陀罗火铃贵人变小人, 必中暗算, 然可化解.
Tử Vi Thiên Phủ tại Dần Thân, chủ may mắn thuận lợi, có thể nhận được sự giúp đỡ của quý nhân mà được phú quý. Hội nhiều cát tinh thì phát triển tốt, nếu như gặp Không Vong Đại Hoa thì ra ngoài không thuận lợi. Gặp Đà La Hỏa Linh thì quý nhân biến thành tiểu nhân, tất suy tính mờ ám, nhưng có thể hóa giải được.
紫微贪狼在卯酉, 在外能广结人缘, 并有异性相助, 命无正曜, 若三方无吉, 迁移有禄存, 化禄, 化科最吉, 辅弼, 昌曲者亦吉, 宜外出创业.
Tử Vi Tham lang tại Mão Dậu, ra ngoài giao thiệp rộng, có thể nhận được sự giúp đỡ của người khác phái, nếu mệnh không có chính tinh, tam phương không có cát tinh, thiên di có lộc tồn, hóa lộc, hóa khoa là tốt nhất, sau đó là phụ bật, xương khúc cũng tốt, chỉ ra ngoài dễ lập nghiệp.
紫微天相在辰戌, 出外吉利, 但亦有小人, 命宫有吉者福吉, 命宫无吉而有煞, 不利外出.
Tử Vi Thiên Phủ tại Thìn Tuất, ra ngoài hay gặp may mắn thuận lợi, nhưng cũng có tiểu nhân, nếu cung mệnh có cát tinh thì tốt đẹp được phúc, còn nếu cung mệnh không có cát tinh mà lại có sát tinh thì ra ngoài bất lợi.
紫微破军在丑未, 出外能得意外之财, 有辅弼魁钺昌曲大吉.
Tử Vi, Phá Quân tại Sửu Mùi, ra ngoài có thể phát tài ngoài dự kiến, có Phụ Bật Khôi Việt Xương Khúc thì đại cát.
紫微七杀在巳亥, 在外到处遇贵人, 无煞侵福吉, 遂志旺发, 加禄存大发富贵.
Tử Vi Thất Sát tại Tị Hợi, ở ngoài luôn gặp quý nhân, nếu không bị sát tinh xâm phạm thì tốt đẹp như ý, gia lộc tồn thì đại phát phú quý.
★ 天机
Thiên Cơ
天机为动星, 多主出外吉利, 遇较贵人帮助, 多忙碌, 若居家固守本土本乡, 反而多生是非, 仍主多转职, 改变工作环境. 其人在外所结识之人, 颇有些聪明才智, 能启发自己的思维. 加四煞在外艰辛经营, 难得资助, 身心欠安宁, 多不顺, 是非, 灾祸.
Thiên Cơ là sao chủ động, thường chủ ra ngoài thuận lợi may mắn, gặp quý nhân giúp đỡ, nhiều công nhiều việc, nếu như cứ ở nhà, ở mãi 1 chỗ thì ngược lại sinh nhiều thị phi, mà lại hay chuyển đổi công việc, thay đổi môi trường công việc. Những người mà người này quen biết ở ngoài đều có chút tài trí thông minh, có cách tư duy của riêng mình. Gia Tứ sát thì ở ngoài kinh doanh khó khăn, khó được trợ giúp, thân tâm bất an, hay không gặp thuận lợi mà lại nhiều thị phi, tai họa.
天机太阴在寅申, 注定一生辛劳奔波, 申比寅吉, 加逢吉曜, 如科权禄及禄存, 天马, 左右, 昌曲等, 他乡或国外颇有发展. 若逢化忌星, 或天马有煞, 主东来西去, 成败不一.
Thiên Cơ Thái Âm tại Dần Thân, chỉ một đời gian khổ bôn ba, ở Thân thì tốt hơn ở Dần, gia cát tinh như Quyền Lộc, Lộc tồn, Thiên mã, Tả Hữu, Xương Khúc… thì tha hương hoặc phát triển được ở nước ngoài. Nếu như gặp sao Hóa Kỵ, hoặc sao Thiên Mã có sát tinh, chủ hay bôn ba chạy ngược xuôi, thành bại bất nhất.
天机巨 在卯酉, 命无正曜, 只宜外出创业, 且变动甚大, 见禄存化禄化权主外出能富贵. 加四煞殊不利, 遇化忌星, 必死于他乡.
Thiên Cơ Cự Môn tại Mão Dậu, mệnh không có chính tinh, chỉ ra ngoài dễ lập nghiệp, sự thay đổi biến động tương đối lốn, gặp Lộc Tồn Hóa Lộc Hóa Quyền chủ ra ngoài có phú quý. Gia Tứ Sát thì không tốt, gặp Hóa Kỵ tất chết ở xa xứ.
天机天梁在辰戌, “机梁加吉坐迁移, 可为巨商高贾”, 机梁辰戌, 以加吉星如左右昌曲并吉化在命或迁移之三方, 可作巨商高贾论之, 或凭舌辩及学艺而发旺, 宜外出立业, 甚至远涉重洋, 有大发展, 多遇贵人扶持. 不加吉星, 出外技艺安身.
Thiên Cơ Thiên Lương tại Thìn Tuất, “Thiên Lương gia cát tọa di cung, khả dĩ cự thương cao cổ”, Cơ Lương Thìn Tuất, gia cát tinh như Tả Hữu Xương Khúc thì cát hoa tại mệnh hoặc tam phương của thiên di, có thể làm thương gia tài ba, hoặc dựa vào tài ăn nói biện luận và học nghệ mà phát tài, ra ngoài dễ lập nghiệp, thậm chí càng đi xa càng phát triển, hay được quý nhân phù trợ. Nếu không có thêm cát tinh, ra ngoài an thân bằng nghề kĩ nghệ.
★ 太阳
Thái Dương
日月运行, 太阳太阴皆主动. 太阳入迁移, 其人多在青少年时期就会离家在外, 或在他乡长大. 书谓: “太阳在迁移宫, 难招祖业, 移根换叶, 出祖为家”.
Nhật Nguyệt vận hành, Thái Dương Thái Âm đều chủ động. Người có Thái Dương nhập Thiên Di thì xa nhà từ thời thanh niên, hoặc lớn lên ở nơi khác. Sách viết: “Thái Dương tại Thiên Di cung, nan chiêu tổ nghiệp, di căn hoán diệp, xuất tổ vi gia”
不宜静守, 宜出外大吉, 能获成功, 生财发福, 多有贵人扶助. 陷地或加四煞诸恶, 在外地劳忙, 身心不闲, 化忌多是非口舌. 太阳陷地化忌守迁移, 主在外劳碌贫忙, 到处碰壁. 太阳在迁移宫的女命, 多与异性交游, 甚至纠缠不清.
Không dễ thủ tĩnh, ra ngoài đại cát, có thể thu được thành công, sinh tài phát phúc, được nhiều quý nhân giúp đỡ. Hãm địa hoặc gia các sát tinh Tứ Sát thì lao động mệt nhọc ở nơi khác, thân tâm không được nghỉ ngơi, Hóa Kỵ thì nhiều thị phi khẩu thiệt. Thái Dương hãm địa Hóa Kỵ trấn thủ Thiên Dĩ, chủ bận rộn vất vả ở ngoài, khó khăn trở ngại khắp nơi. Người nữ có Thái Dương ở Di cung thì hay giao thiệp với người khác phái, thậm chí có tình cảm phức tạp không rõ ràng.
太阳太阴在丑未, 奔波到老, 各方面均多变化, 加左右昌曲并吉化, 颇有发展, 能有富贵, 尤其丙年生人. 加煞化忌, 一世贫忙.
Thái Dương Thái Âm tại Sửu Mùi, bôn ba đến già, các phương diện đều thay đổi khá nhiều, gia Tả Hữu Xương Khúc thì cát hóa, có thể phát triển và được phú quý, đặc biệt là với người sinh năm Bính. Gia sát tinh Hóa Kỵ thì 1 đời vất vả nghèo khó.
太阳巨门在寅申, 主其人声名播于远方. 出外多遇贵, 但易逢竞争, 加权禄左右昌曲吉星大利外出, 近贵荣财, 并可得到国外人士之助. 寅比申吉.
Thái Dương Cự Môn tại Dần Thân, chủ vang danh nơi phương xa. ra ngoài hay gặp quý nhân, nhưng dễ gặp phải tranh chấp, đấu tranh, gia các cát tinh Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc thì ra ngoài nhiều thuận lợi, cận kề với vinh hoa phú quý, có thể có sự giúp đỡ của người nước ngoài. Ở Dần tốt hơn ở Thân.
太阳天梁在卯酉, 命无正曜, 见昌曲禄存大吉, 出外近贵, 声名在外. 见四煞劫空, 有名无实. 卯比酉吉.
Thái Dương Thiên Lương tại Mão Dậu, mệnh không có chính tinh, gặp Xương Khúc Lộc Tồn thì đại cát, ra ngoài hay được gần với người phú quý, có danh tiếng ở ngoài. Gặp Tứ Sát Không Kiếp, hữu danh vô thực. Ở Mão tốt hơn ở Dậu.
★ 武曲
Vũ Khúc
在外劳心劳力, 一生多变动, 少有安宁, 为个人的财运, 事业而四处奔波, 闹中安身. 得吉星守照, 在外发财, 会科权禄并吉星, 经商大富, 加四煞空劫多咎, 不得安宁, 反招破耗. 武曲化忌, 主凶, 见擎羊火铃死于他乡, 逢文昌铃星陀罗在辰戌二宫相对, 主在外淹死, 或自杀.
Ở ngoài lao tâm lao lực, cả đời hay thay đổi, ít khi được yên bình, vì tiền tài, sự nghiệp của cá nhân mà bôn ba khắp nơi, lập thân nơi huyên náo ồn ào. Được cát tinh thủ chiếu thì ở ngoài phát tài, hội cát tinh Khoa Quyền Lộc thì kinh doanh đại phú, gia tứ Sát Không Kiếp nhiều khó khăn, không được bình an, hay đổ vỡ hao hụt. Vũ Khúc Hóa Kỵ chủ hung, gặp Kình Dương hỏa Linh thì chết ở xa xứ, gặp Văn Xương Hỏa Linh, Đà La taị 2 cung Thìn Tuất tương đối xấu, chủ chết đuối ở ngoài hoặc tự sát.
武曲天府在子午, 加禄存吉化主大发, 利以经营, 可为巨商. 见擎羊火铃主凶, 在外有祸.
Vũ Khúc Thiên Phủ tại Tý Ngọ, gia Lộc Tồn cát hóa chủ đại phát, lợi cho việc kinh doanh, có thể thành thương gia cự phách. Gặp Kình Dương Hỏa Linh chủ hương, có họa ở ngoài.
武曲贪狼在丑未, 宜外出加吉星贵人多, 并有异性支助, 发达扬名, 可为巨商, 但其人骄狂. 不见吉星, 技艺安身.
Vũ Khúc Tham Lang tại Sửu Mùi, gia cát tinh thì ra ngoài gặp nhiều quý nhân, có sự giúp đỡ của người khác phái, phát đạt nổi danh, có thể trở thành thương gia cự phách, nhưng người này kiêu căng, ngông cuồng. Nếu không gặp cát tinh thì an thân bằng nghề kỹ nghệ.
武曲天相在寅申, 利在外求财, 有意外收获, 见科权禄马主大吉, 发财无疑, 为巨商高贾, 衣锦荣归, 加空劫陀忌不发.
Vũ Khúc Thiên Tướng tại Dần Thân, ra ngoài phát tài, có thu hoạch ngoài dự kiến, gặp Khoa Quyền Lộc Mã chủ đại cát, chắc chắn phát tài, là thương gia lỗi lạc, áo gấm vinh quy. Gia Không Kiếp Đà Kỵ thì không phát.
武曲七杀在卯酉, 成败不一, 为财辛劳, 更有纷争. 见火铃擎羊有灾伤, 甚至犯罪遭囚, 逢化忌有官非, 牢狱, 争斗, 病伤.
Vũ Khúc Thất Sát tại mão Dậu, thành bại bất nhất, vì tiền bạc mà lao động vất vả, càng có tranh chấp. Gặp Hỏa Linh Kình Dương có tai họa thương tật, thậm chisphamj tội ngục tù, gặp Hóa Kỵ có thị phi quan trường, tù ngục, tranh đấu, bệnh thương tật.
武曲破军在巳亥, 主外在巧艺安身, 在外辛劳, 多遇小人欺骗, 吃亏不少.
Vũ Khúc Phá Quân tại Tị Hợi, chủ ở ngoài an thân bằng kĩ nghệ, làm việc vất vả ở ngoài, hay gặp phải kẻ tiểu nhân lường gạt, ấm ức không ít.
天同
Thiên Đồng
庙旺出外, 近贵而易发达, 得众吉守照尤美, 加四煞空劫刑耗忌死绝, 出外少遂.
Miếu vượng thì ra ngoài gần người phú quý mà dễ phát đạt, được các cát tinh thủ chiếu thì tốt, gia Tứ Sát Không Kiếp Hình Kỵ Hao thì dễ chết, ra ngoài ít được như ý.
天同太阴在子午, 奔走劳碌, 异地安身, 白手成家, 人际关系良好, 有异性之助力. 子比午佳, 加遇吉星最宜外在发展, 午宫落陷则主艰辛.
Thiên Đồng Thái Âm tại Tý Ngọ, bôn ba vất vả, an thân nơi đất khách, tay trắng lập nghiệp, quan hệ xã hội tốt đẹp, có sự trợ giúp từ người khác phái. Tại Tý tốt hơn tại Ngọ, gia cát tinh càng dễ phát triển, ở Ngọ cung hãm địa thì chủ gian nan.
天同巨门在丑未, 虽能在外创业, 但多烦恼口舌, 操心劳力, 好为争纷.
Thiên Đồng Cự Môn tại Sửu Mùi, tuy rằng lập nghiệp ở ngoài, nhưng hay phiền não khẩu thiệt, thao tâm tổn lực, dễ gặp chuyện tranh chấp.
天同天梁在寅申, 多长辈, 友人之助, 在外安定, 福厚. 见天马, 有出国运, 不然一生迁动也是相当大.
Thiên Đồng Thiên Lương tại Dần Thân, được sự giúp đỡ từ bậc bề trên, bạn hữu, ở ngoài thì yên ổn, được hưởng phúc. gặp Thiên Mã, có số xuất ngoại, nếu không thì thường xuyên đi lại di chuyển.
★ 廉贞
Liêm Trinh
庙旺在家日少, 外出时多, 出外通达近贵, 其人擅长人际交往, 可发挥才华, 在外乡成就事业. 其人若经商, 多赚取国家机关或公务机构的钱财.
Miếu Vượng thì ít khi ở nhà mà dành nhiều thời gian ở ngoài, ra ngoài gần người phú quý, quan hệ xã hội rộng, có thể phát huy tài hoa, xa xứ mà lập nghiệp thành công. Người này nếu như kinh doanh thương nghiệp, thì hay kiếm được tiền tài từ cơ quan quốc gia hoặc cơ cấu công vụ.
加羊陀及三方有恶煞拱冲而无吉解, 主死于外道.
Gia Kình Đà và tam phương có các sao xấu mà không có các sao tốt cứu giải thì chủ chết ở ngoài.
廉贞天府在辰戌, 在外闹中进财, 加吉多, 有巨商之福, 在外发达. 加煞化忌, 客死他乡.
Liêm Trinh Thiên Phủ tại Thìn Tuất, trong lúc náo loạn ở ngoài mà kiếm được tiền, gặp nhiều cát tinh thì có phúc thành cự thương, ở ngoài làm ăn phát đạt. Gia Sát tinh hóa kỵ chết nơi đất khách.
廉贞贪狼在巳亥, 命无正曜, 忙中立足, 并多主无事闲忙, 多应酬与酒色财气之交往, 有异性相助. 外出变化大, 逢禄存得财利. 加四煞艰辛, 煞多化忌主夭寿.
Liêm Trinh Tham lang tại Tỵ Hợi, mệnh vô chính diệu, trong cái bận rộn mà trụ vững, chủ hay rước bận bịu không đáng có, có nhiều quan hệ tiệc tùng và rượu chè, sắc giới, tài khí, được sự giúp đỡ của người khác giới, ra ngoài thay đổi tương đối nhiều, nếu gặp Lộc Tồn thì được tài lợi. Gia Tứ Sát thì gian khổ, nhiếu sát tinh Hóa Kỵ thì chết trẻ
廉贞天相在子午, 动中有吉, 出外多朋友知己和贵人相助, 并主长袖善舞, 见禄存及化禄主在外发达. 加四煞招是非, 甚至有官非刑责.
Liêm Trinh Thiên Tướng tại Tý Ngọ, động trung hữu cát, ra ngoài nhận được nhiều sự giúp đỡ của bạn bè tri kỉ và quý nhân, gặp Lộc Tồn và Hóa Lộc thì chủ phát đạt ở ngoài. Gia Tứ Sát thì hay gặp thị phi, thậm chí giấy tờ kiện tụng tù hình.
廉贞七杀在丑未, 主变化多端, 见化禄或左右昌曲魁钺外出大利, 不然辛劳. 逢遇廉贞化忌或与羊陀火铃同宫, 主外出遭伤残, 或遇交通事故, 再加官府, 主离乡遭配, 牢狱之灾.
Liêm Trinh Thất Sát tại Sửu Mùi, chủ biến hóa đa đoan, nếu gặp được Hóa Lộc hoặc Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt ra ngoài đại lợi, còn không thì gian khổ lao động. Gặp Liêm Trinh Hóa Kỵ hoặc đồng cung với Dương Đà Hỏa Linh, chủ ra ngoài nhiều thương tật, hoặc gặp sự cố giao thông, nếu có thêm Quan Phủ, chủ ly hương gặp tai họa tù ngục.
廉贞破军在卯酉, 在外巧艺安身, 操心劳力, 主艰苦维生. 见羊陀火铃加会, 外出多灾, 会擎羊加火铃, 或化忌遇火, 铃血光灾伤, 有舟车翻覆之祸, 死于外道.
Liêm Trinh Phá Quân tại Mão Dậu, ở ngoài lập thân bằng nghề kỹ nghệ, thao tâm lao lực, chủ gian khổ để duy trì cuộc sống. Gặp Kình Đà Hỏa Linh gia hội, ra ngoài nhiều tai họa, hội Kình Dương gia Hỏa Linh, hoặc Hóa Kỵ gặp Hỏa Linh thì có tai nạn thương tích máu me, hay có họa tàu thuyền xe cộ, chết ở ngoài.
★ 天府
Thiên Phủ
天府在迁移, 明显表现为出外有贵人. 庙旺大吉大利, 出外运气佳良, 每得贵人扶持, 无往不利, 更得众吉拱照遂心发达. 加煞, 在外地有损财之事及是非, 但可得到化解. 逢化忌同宫, 主损财.
Thiên Phủ tại Thiên Di, ra ngoài gặp được quý nhân. Miếu Vượng thì đại cát đại lợi, ra ngoài vận khí tốt đẹp, mỗi lần đều được quý nhân phù trợ, không có lần nào là không thuận lợi, càng được nhiều cát tinh chiếu thì càng phát đạt như ý. Gia Sát tinh thì ở ngoài có chuyện tổn hao tiền bại và thị phi nhưng có thể cứu giải được. Gặp Hóa Kỵ đồng cung thì chủ tổn thất tiền bạc.
★ 太阴
Thái Âm
太阴亦主多动, 庙旺出外遇贵发达, 多结人缘, 尤得异性之助力, 得众吉拱照无往不利, 化权禄有出国运. 陷宫多招是非, 苦劳多, 成就少. 陷宫遇煞羊陀火铃, 会遭人阴谋算计, 而逢化忌则多游疑变动, 口舌是非. 身宫太阴守迁移, 主背井离乡或随娘拜继, 在陷地更确.
Thái Âm cũng chủ động, miếu vượng thì ra ngoài hay gặp quý nhân phát đạt, hay kết bạn, đặc biệt hay nhận được sự giúp đỡ của người khác phái, được các cát tinh cộng chiếu thì ra ngoài không khi nào gặp bất lợi, Hóa Quyền Hóa Lộc thì có số xuất ngoại. Hãm địa thì hay gặp thị phi, gian khổ khó khăn nhiều mà thành tựu ít. Lạc hãm gặp Sát tinh Kình Đà Hỏa Linh thì hay gặp người âm mưu thủ đoạn, nếu gặp Hóa Kỵ thì hay nghi ngờ thay đổi, nhiều khẩu thiệt thị phi. Thân Cung Thái Âm thủ Thiên Di thì chủ ly hương hoặc sbasbb, tại hãm địa thì càng đúng.
★ 贪狼
Tham Lang
庙旺之地, 闹中横发进财, 逢吉化则更主在外地大发财, 并多有欢愉享受. 在外劳碌, 多酒食交际应酬, 广结人缘, 可遇异性相帮. 加桃花星则贪花念酒, 易有淫欲之举, 如嫖妓, 幽会等, 加煞因色或女人而致祸. 加四煞空劫, 擎羊, 陀罗, 化忌, 天刑, 大耗诸恶, 并主遇盗劫掠, 流年迁移宫逢贪狼及上例诸星, 且流年的田宅宫不好, 必遭小偷.
Vào đât miếu vượng thì trong lúc loạn mà phát tài, nếu cát hóa thì chủ đại phát tài ở ngoài, có nhiều việc vui vẻ, hưởng thụ. Ở ngoài bận rộn, quan hệ rộng rãi, hay tiệc tùng rượu chè, có thể nhận được sự giúp đỡ của người khác phái. Gặp Đào Hoa thì tham sắc tham rượu, dễ có những hành vi cử chỉ dâm dục, gia sát tinh thì vì sắc hoặc vì nữ giới mà chuốc họa. Gia các sao xấu như Tứ Sát Không Kiếp, Kình Dương, Đà la, Hóa Kỵ, Thiên Hình, Đại Hao thì chủ gặp tai kiếp, lưu niên cung thiên di gặp Tham lang và các sao trên, mà lưu niên cung Điền Trạch không tốt, tất gặp kẻ trộm.
★ 巨门
Cự Môn
巨门乃口舌是非的星曜, 外出运不佳, 在外主辛劳费力, 不安能安宁, 无故生灾, 不能有所发展, 并与人不睦, 结怨, 受到恶意攻讦. 入庙旺之地, 逢化禄, 化权或与禄存同宫, 方主吉利有为, 名声显扬, 大发财利, 惟仍多是凭口才而得来. 陷地劳苦异常, 或病从口入, 祸从口出, 多生是非, 逢巨门化忌, 更为不吉, 恐遭不测之祸. 加遇四煞耗忌诸恶辛劳及是非越甚, 无人相助, 并有大灾, 甚至犯罪入狱.
Cự Môn là ám tinh khẩu thiệt, ra ngoài vận số không tốt, hay vất vả phí công tốn sức, không thể yên bình, không cố tình nhưng vẫn sinh tai họa, không thể phát triển được, quan hệ với người khác không hòa thuận, hay kết thù oán, bị nhận ác ý đả kích. Vào đất miếu vượng, gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền hoặc Lộc Tồn đồng cung, chủ có may mắn thuận lợi, có danh tiếng, đại phát tài lợi, tuy nhiên nhiều phần là dựa vào tài ăn nói mà có được. Hãm địa thì lao động vất vả khác thường, hoặc bệnh từ mồm vào, họa từ mồm mà ra, hay sinh thị phi, nếu gặp Cự Môn Hóa Kỵ, càng không tốt, gặp họa không đoán trước được. Gia các sao xấu Tứ Sát Hao Kỵ thì vất vả và nhiều thị phi, không được ai giúp đỡ, có họa loạn, thậm chí phạm tội vào tù.
★ 天相
Thiên Tướng
出外到处受欢迎, 常有人跟随左右, 自己喜出风头, 爱管闲事. 庙旺每得贵人扶持, 遂心发达, 无往不利, 与禄存, 化禄, 化权, 左右, 昌曲魁钺众吉星同宫或加会, 有飞黄腾达的运气. 加四煞空劫刑忌, 辛劳经营, 且不顺利.
Ra ngoài luôn gặp sự hưởng ứng, yêu thích, thường có người theo làm vây cánh, thích xen vào chuyện không đâu. Miếu vượng địa thì được quý nhân phù rợ, phát tài như ý; đồng cung hoặc gia hội Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt thì rất tốt, mọi chuyện đều dễ dàng thuận lợi. Gia Tứ Sát Không Kiếp Hình Kỵ, kinh doanh gian khó, không được thuận lợi.
★ 天梁
Thiên Lương
社交广, 庙旺出外多近贵, 并得贵人扶持, 或得长辈之助, 而成就发达.”天梁加吉坐迁移, 巨商高贾”, 见吉化并吉星, 在外取得富贵, 是大商人之命, 不然亦是才艺扬名之士. 陷地独力辛苦, 加天马主奔波各地, 加四煞空劫, 局面不大, 多有不利, 流年命宫逢, 不可远行.
Giao thiệp rộng, miếu vượng thì ra ngoài hay được gần người phú quý, lại được quý nhân phù trợ hay nhận được sự giúp đỡ của bề trên mà thành công phát đạt. “Thiên Lương gia cát tọa Thiên Di, Cự Thương cao cổ”, gặp các cát tinh thì cát hóa, ở ngoài được phú quý, có số làm đại thương gia, nếu không cũng là bậc tài ba nổi danh. Hãm địa thì tự lập, gian khổ, gặp Thiên mã chủ bôn ba khắp nơi, gặp Tứ Sát Không Kiếp, không gặp môi trường tốt, hay có chuyện bất lợi, lưu niên mệnh cung gặp thì không được đi xa.
★ 七杀
Thất Sát
在外日多, 境遇变化较频繁, 忙中安身, 天马同宫更主背井离乡. 与禄存, 化禄, 昌曲, 辅弼同宫加会, 在外可得声名, 地位, 财富. 加四煞空劫刑耗忌绝, 主流荡天涯, 操心不宁. 羊陀同宫, 宜军人武职, 若命宫三方吉星少只为体力劳动之人. 火铃同宫, 宜军人, 警察, 司法人员等, 武职峥嵘, 不然在外亦突发资财, 若命宫三方吉星少, 只为贫苦劳力之辈. 与天刑或官府同宫并诸凶星, 在外遭凶遇险, 或有牢狱之灾, 且主死于他乡.
Hay ở ngoài, thay đổi tương đối nhiều, trong cái bận rộn mà lập thân, đồng cung với Thiên mã thì càng chủ ly hương lập nghiệp. Đồng cung hoặc gia hội với Lộc Tồn, Hóa Lộc, Xương Khúc, Phụ Bật thì ra ngoài hay được danh tiếng, địa vịa, tài lộc. Gia Tứ Sát Không Kiếp Hình Hao Kỵ Tuyệt thì chủ bôn ba nơi xa xôi, thao tâm không yên. Đồng cung với Kình Đà, chủ theo ngành vũ trang quân nhân, nếu tam phương mệnh có ít cát tinh thì chỉ là người lao động chân tay. Hỏa Linh đồng cung, chủ quân nhân, cảnh sát, nhân viên tư pháp… nếu không ở ngoài cũng bất ngờ phát tài, nếu tam phương mệnh ít cát tinh thì cả đời lao động nghèo khổ. Đồng cung cùng các hung tinh Thiên Hình và Quan Phủ thì ở ngoài hay gặp chuyện hung, hoặc có tai họa tù ngục, chủ chết ở xứ khách.
凡七杀在迁移宫会煞 ( 四煞, 化忌, 天刑 ), 会遭车祸, 若再有官府, 官符同宫, 尚主有牢狱之灾.
Hễ Thất Sát ở cung Thiên Di hội Sát tinh (Tứ Sát, Hóa Kỵ, Thiên Hình), sẽ gặp tai nạn xe, nếu như có thêm cả Quan Phủ, Quan Phù đồng cung thì chủ tai họa ngục tù.
★ 破军
Phá Quân
多主在外劳碌奔波, 不得安宁. 入庙独守, 在外旺达, 多凭专职技术或巧艺在外立身, 得人敬重. 子午两宫最吉, 逢禄存及化禄, 在外可获厚利, 发财. 破军化权者, 在外在有威权, 受人之敬重礼遇. 陷地主劳心, 在外不安宁. 不加吉, 奔走无力, 加四煞奔驰他乡, 巧艺过活. 逢文昌文曲武曲加会, 主为演艺人员, 辗转各地, 命宫三方无吉, 则不能成名.
Chủ ra ngoài bôn ba vất vả, không được an tâm. Nhập miếu độc thủ, ra ngoài phát đạt, lập thân bằng các nghề kỹ nghệ hoặc kĩ thuật chuyên ngành, được người khác kính trọng. Đẹp nhất ở 2 cung Tý Ngọ, gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc thì ở ngoài thu được lợi lộc, phát tài. Người có Phá Quân Hóa Quyền, ở ngoài có quyền uy, nhận được sự kính trọng của người khac. hãm địa chủ lao tâm, ra ngoài bất an. Không có thêm cát tinh, bôn ba, gia Tứ Sát thì tha thương, kĩ nghệ qua ngày. Gặp Văn Xương, Văn Khúc gia hội, chủ là người giới nghệ thuật, hay đi khắp nơi, mệnh cung tam phương không có cát tinh thì không thể nổi danh được.
★ 文昌, 文曲
Văn Xương, Văn Khúc
庙旺, 出外遇贵发达, 以 艺扬名他邦, 加众吉守照并主得财, 加四煞少遂, 陷地有小人, 逢空劫刑忌主穷独, 在外欠安宁, 费心神. 逢化忌有恶名在外, 受人攻讦, 或与人有口舌, 争斗, 官非, 文书上的麻烦.
Miếu vượng, ra ngoài phát đạt, gặp được quý nhân, nhờ tài năng nghệ thuật mà nổi danh, gia nhiều cát tinh thủ chiếu thì chủ được tiền tài, gia Tứ Sát thì ít khi được như ý, hãm địa thì có kẻ tiểu nhân, gặp Không Kiếp Hình Kỵ chủ đơn độc nghèo khó, ở ngoài ít khi được bình yên, hao tâm tốn sức. Gặp Hóa Kỵ thì có tiếng xấu ở ngoài, chịu đả kích của người khác, hoặc có phiền phức về giấy tờ, quan trường kiện tụng, tranh chấp thị phi với người.
★ 左辅, 右弼, 天魁, 天魁
Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt
动中每得贵人扶助, 逢凶化吉, 多遂而旺发. 加四煞诸恶, 主小人不足, 亦主与人竞争.
Được quý nhân phù trợ, gặp hung hóa cát, nhiều việc như ý. Nếu gia các sao xấu Tứ Sát thì chủ tiểu nhân không vừa ý, cũng chủ tranh chấp với người khác.
禄存出外衣禄遂意, 有贵人大力相助, 得众吉守照主发财. 加火铃劫空诸恶, 与人不睦, 辛苦营生.
Lộc Tồn ra ngoài giàu sang như ý, có sự giúp đỡ lớn của quý nhân, được các cát tinh thủ chiếu chủ phát tài. Gia các sao xấu Hỏa Linh Không Kiếp thì không hòa thuận với người khac, cuộc sống kinh doanh vất vả.
★ 化禄, 化权, 化科
Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa
大吉之兆, 外出每获吉运, 多逢意外收获, 及贵人之助, 取得财富, 地位, 名声, 有侥幸成功的运气.
Là điềm đại cát, ra ngoài luôn gặp may mắn, hay có thu hoạch ngoài dự kiến, có sự giúp đỡ của quý nhân, thu được tài lộc phú quý, địa vị, danh tiếng, có số thành công.
★ 擎羊, 陀罗
Kình Dương, Đà La
入庙会合吉曜, 在外竞争遇贵得财发达. 陷地奔走无力, 加火铃空劫等诸恶与人不和, 百事难成, 且遭灾祸.
Nhập miếu hội cát tinh, ở ngoài tranh chấp gặp được quý nhân nên được tiền tài phát đạt. Hãm địa thì bôn tẩu vô định, gia Hỏa Linh Không Kiếp thì quan hệ với người khác không hòa thuận, làm chuyện gì cũng khó thành, lại dễ gặp tai họa.
★ 火星, 铃星
Hỏa tinh, Linh tinh
独守迁移宫, 主飘蓬不定, 加众吉守照闹中进财, 可发旺, 但仍主在外 寞孤独. 陷地加四煞空劫招是非, 与人不睦, 每有是非, 有志难伸.
Độc thủ Thiên Di cung, chủ phiêu dạt bất định, gia cát tinh thủ chiếu thì trong lúc náo loạn kiếm được tiền, có thể phát tài, nhưng vẫn chủ ở ngoài hay gặp cảnh cô độc cô đơn. hãm địa gia Tứ Sát Không Kiếp thì gặp thị phi, quan hệ với người không thuận hòa, mỗi khi gặp thị phi, có ý chí nhưng khó mà thoát được.
★ 天空, 地劫, 化忌
Thiên Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ
主人生性勤奋, 执著, 然运气不佳, 在外艰辛, 多是非, 困苦, 诸事白费心力, 难有成功. 若命宫三方有吉, 辛苦后仍有一半的收获.
Chủ người bẩm sinh nỗ lực, nhiệt thành không bỏ cuộc nhưng vận số không tốt, ở ngoài gian khổ, nhiều thị phi, khó khăn, nhiều chuyện bỏ công sức nhưng không thu lại được gì. Nếu Tam phương mệnh cung có cát tinh thì sau khi chịu gian khổ vẫn có thể thu lại được phân nửa thành quả.
★ 天马
Thiên Mã
一生多奔波, 外出, 旅行, 迁移, 远赴异地, 异国, 多为背井离乡之人. 与吉星同宫, 动则每每获利, 与禄存, 化禄同宫加会异地发财. 命宫三方有吉者, 迁移宫有天马, 出国运佳, 甚至移民海外.
Cả đời hay bôn ba, đi lại, ra ngoài, du lịch, di chuyển, tha hương nơi đất khách, nơi dị quốc, thường là người xa quê lập nghiệp. Đồng cung với cát tinh, ra ngoài được lợi. Đồng cung gia hội với Lộc Tồn, Hóa Lộc thì đến nơi khác phát tài. Tam phương mệnh cung có cát tinh, Di cung có Thiên mã, là vận xuất ngoại, thậm chí di dân hải ngoại.
(Sưu tầm)


Phàm người trong mệnh bàn có tổ hợp các sao dưới đây rất dễ phát sinh chuyện tình cảm vụng trộm, ở ngoài có tình nhân, sinh con riêng:
1. Thiên diêu tọa cụng Mệnh tại chỗ hãm.
2. Thiên diêu, Hồng loan đồng cung.
3. Tham lang, Hồng loan đồng cung.
4. Linh tinh tọa Mệnh tại chỗ hãm.
5. Thiên tướng thêm sát tinh tại cung Tử nữ.
6. Tử vi thêm sát tinh tại cung Tử nữ.
7. Tử vi, Tham lang đồng cung.
8. Tham lang, Đà la đồng cung.
9. Vũ khúc, Tham lang đồng cung.
10. Tham lang. Dương nhẫn đồng cung.
11. Tử vi đồng cung với Tả phù hoặc Hữu bật.
12. Mệnh nam có Thái âm tại chỗ hãm.
13. Liêm trinh, Tham lang thêm sát tinh hoặc tọa cung Thiên di.
14. Thiên diêu tại cung Phúc đức.
15. Hóa kỵ tại cung Phúc đức.
16. Hồng loan và Thiên khôi hoặc Thiên việt đồng cung.
17. Vũ khúc, Phá quân tọa cung Phu thê.
18. Thất sát tọa cung Phúc đức.
19. Thiên lương tại Tỵ, Hợi thêm sát tinh.
20. Nữ mệnh hóa ky tọa Mệnh.
21. Tham lang thêm sát tinh.
22. Cung Tử nữ có hóa kỵ hoặc Tứ sát.
23. Thiên cơ tại cung Tử nữ thêm lục sát tinh.
24. Vũ khúc, Thiên tướng tại cung Tử nữ.
25. Thiên tướng tại cung Tử nữ thêm sát tinh.
26. Thiên lương tại cung Tử nữ.
27. Phá quân độc tọa cung Tử nữ.
28. Mệnh bàn có sao tại cung Nô bộc.
(Lập và giải tử vi đẩu số - Phương pháp đoán mệnh - Phan Tử Ngư)


Dưới đây xin tóm tắt các ý tượng cơ bản của trường hợp Hóa Khoa [năm sinh] ở cung tài bạch như sau:
(1) Hóa Khoa có tác dụng "hợp lí hóa", "trật tự hóa"; vì vậy trường hợp cung tài bạch có Hóa Khoa là chủ về mệnh tạo rất chú ý lời nói cử chỉ của mình, và mong muốn hành vi biểu hiện của mình ở các phương diện đều tuân thủ quy củ. Vì Hóa Khoa còn tượng trưng cho văn minh, nên lúc bình thường mệnh tạo sẽ kiềm chế tâm trạng của mình, muốn biểu hiện phong độ của một người có tu dưỡng, có danh dự.
(2) Hóa Khoa còn tượng trưng cho học thức, tri thức; trường hợp Hóa Khoa ở cung tài bạch, là biểu hiện năng lực học tập, giỏi vận dụng tố chất chuyên nghiệp của mình để mưu sinh, tức có sở học tinh chuyên, và học để vận dụng, mệnh tạo có trình độ cao hơn người khác trong môi trường làm việc.
(3) Ngoại trừ có sở học tinh chuyên, Hóa Khoa còn chủ về có danh tiếng, danh vọng; cho nên trường hợp Hóa Khoa nhập cung tài bạch, có lúc dựa vào tố chất chuyên nghiệp mà tạo nên danh tiếng để kiếm tiền. Hơn nữa, vì lực tác động của Hóa Khoa có tính liên tục, từ từ; cho nên sau khi trải qua một thời gian dài nỗ lực thường thường họ gây dựng được danh tiếng.
(4) Hóa Khoa có lực tác động "bảo vệ", vì vậy hàm nghĩa mở rộng của trường hợp Hóa Khoa ở cung tài bạch là bảo đảm "quyền làm việc" và "con đường kiếm tiền". Nói một cách khác, người có Hóa Khoa ở cung tài bạch ít khi bị thất nghiệp, hoặc ít khi rơi vào tình huống không tìm được việc làm; tức lúc mất việc họ sẽ mau chóng tìm được công việc mới.
(5) Nhưng xét ở góc độ khác, lực tác động của Hóa Khoa là tuân thủ quy củ, thậm chí hơi bảo thủ những gì của mình; vì vậy trong môi trường làm việc, mệnh tạo có tính ổn định cao độ, thiêu chủ động, nên cũng rất ít khi chủ động thay đổi cóng việc.
(6) Một ý nghĩa khác của Hóa Khoa là trợ lực của quý nhân. Trường hợp Hóa Khoa xuất hiện ở cung tài bạch, là chủ về có quý nhân giúp đỡ trong lúc tìm việc làm, duy trì mối ràng buộc trong công việc. Một ý nghĩa khác thâm sâu hơn, quý nhân chính là bản thân mệnh tạo. Vì mệnh tạo quá tuân thù chế độ trong môi trường làm việc, khiến người ta có cảm giác họ hơi câu nệ nguyên tắc; nhưng lúc làm việc họ luôn có thái độ nghiêm túc, có tinh thần trách nhiệm, rất tận tâm với chức trách của mình, thường thường chính thái độ này mới là "quý nhân bảo đảm có việc làm".
(7) Vì sức ảnh hưởng của Hóa Khoa, người này thấu hiếu nhân tình thế thái, tiến thoái ứng đối hợp cách, cũng không kết bè kết phái để mưu lợi riêng tư, nên trông họ giống như đơn độc. Phần lớn họ là người không bao giờ bẻ cong phép tắc, không tiêu xài tiền loạn xạ, cũng không đầu cơ, không mạo hiếm, càng không tham ô.
(8) Trường hợp Hóa Khoa ở cung tài bạch, nếu các sao ở cung quan lộc không mạnh, Hóa Khoa lúc này có thể là chú trọng bề ngoài; nhất là trường hợp có các sao Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc đồng cung với sao Hóa Khoa, phần nhiều sẽ có thái độ "minh triết bào thân".
(9) Đổi góc độ khác để xem xét, có thể nói kiến lập Hóa Khoa ở cung tài bạch, do đó người này có được cảm giác vinh dự và cảm giác thành tựu là đều nhờ cung cách làm việc của mình.
(10) Hóa Khoa là "che chở", thêm vào các tình huống đã thuật ở trên, phần nhiều mệnh tạo thích hợp với nghề văn, nghề dạy học, hoặc làm việc trong cơ cấu thuộc loại lớn, tức là công việc có tính ổn định cao.
(11) Cung tài bạch là đại biểu cho hình ảnh mệnh tạo trong lòng của người phối ngẫu; cho nên, người cung tài bạch thấy Hóa Khoa thường thường được người phối ngẫu tín nhiệm, kính trọng.
(Trung Châu Tử Vi - Tứ Hóa Phái- Nguyễn Anh Vũ Dịch, tập 1)

Dưới đây xin tóm tắt các ý tượng cơ bản của trường hợp Hóa Quyền [năm sinh] ở cung phúc đức như sau:
(1) Cung phúc đức có thể xem là cung vị chủ về hứng thú, thị hiếu, còn Hóa Quyền là có hàm ý biến động mau lẹ, không cố định; trường hợp Hóa Quyền ở cung phúc đức, mệnh tạo sẽ có nhiều hứng thú và thị hiếu, tính hay thay đổi, ưa thích thời thượng.
(2) Trước đã đề cập, bản thân cung phúc đức là cung vị chủ về EQ và thực hiện chức trách của ý thức; từ đó có thể quan sát mức độ bình ổn của nội tâm, cũng có thể xem trạng thái tâm lí của bản thân trong việc tu dưỡng, xử thế; trường hợp có Hóa Quyền, vì Hóa Quyền có ý tượng "tất bật, miệt mài" và "không ổn định", nên mệnh tạo thường là người lao tâm lao lực, lúc xử lí các sự cố phức tạp, đối diện với thị phi, sẽ có hành vi hấp tấp vội vàng, không yên, hơn nữa, nội tâm dễ cảm thấy phiền muộn, lo lắng.
(3) Vì có Hóa Quyền, nên về trạng thái tâm lí, dễ cố chấp ý kiến của mình để vạch ra hướng tiến hành một sự kiện, do đó thường thường làm cho người ta có ấn tượng họ là người tự phụ, bướng bỉnh, rất chủ quan; hơn nữa, đối với mọi việc, mệnh tạo có ý thức thao túng rất mạnh.
(4) Cung phúc đức còn là cung vị khí số của hôn nhân, trường hợp cung phúc đức có Hóa Quyền thường thường tuy quan hệ hôn nhân thành lập rất mau lẹ, nhưng lại vì Hóa Quyền chủ về "lực ép buộc", nên sau khi kết hôn quan hệ của hai người sẽ dễ trở nên căng thẳng, sống với nhau cũng thường biến thành nỗi sợ hãi, thiếu hạnh phúc.
(5) Vì Hóa Quyền xuất hiện tại cung phúc đức của mệnh tạo, do tác dụng của Hóa Quyền mà mệnh tạo có thể đi tìm người ở bên ngoài, thường sẽ khiến cho hôn nhân của hai người biến thành quan hệ tay ba. Hơn nữa, vì Hóa Quyền có hàm ý thay đổi, biến động, nên sự kiện vừa kể thường thường là do hành vi và ý chí của mệnh tạo dẫn đến kết quả như vậy, chứ không phải do người khác gây ra.
(6) Có thể nói cung phúc đức là trọng điểm quyết định quan hệ hôn nhân có thành lập hay không, trường hợp có Hóa Quyền, thêm vào đó, các sao ở cung phu thê khá phức tạp, còn bị hành hạn khơi động, hoặc thấy tứ hóa ùn ùn xuất hiện, thì người này rất dễ có tử hai lần hôn nhân trò lên; hơn nữa, sẽ dễ vì tác dụng của vận hạn mà có hai lần hôn nhân trong thời gian đó.
(7) Tiếp theo điều (1) và (5), vì mệnh tạo thích hưởng thụ, giải trí theo kiểu tốc hành, thêm vào đó là quan hệ vợ chồng khá bất ổn, nếu cung mệnh có các sao đào hoa, hoặc tổ hợp sao ở cung tử nữ khá phức tạp, thông thường sẽ có hiện tượng phong lưu, chuyện tình qua đêm. Và do điều (2) dẫn đến, mệnh tạo sẽ dùng hành vi này để giải tỏa áp lực tâm lí.
(8) Cung phúc đức còn là cung vị thiên di của cung tài bạch, là nơi nội bộ chuẩn bị, trước khi bày ra tác nghiệp, cũng là cung vị động tâm khởi niệm; trường hợp có Hóa Quyền, trước khi biểu hiện bằng lời nói và hành động, mệnh tạo sẽ suy nghĩ đi suy nghĩ lại nhiều lần, cũng muốn sẽ đạt tới tận thiện, tận mĩ. Do đó, người như vậy thích hợp làm các công việc như lặp kế hoạch, thư kí, tham mưu, phụ tá, cố vấn. Lại vì có Hóa Quyền, nên có hàm ý biến hóa đa đoan, nếu sao hóa thuộc loại có tính khai sáng thì mệnh tạo cũng khá thích hợp theo đuổi những loại sự nghiệp có thể phát huy sở trường giàu sáng kiến của mình.
(9) Nhưng cung phúc đức có Hóa Quyền, tuy ảnh hưởng đến cung tài bạch, nhưng tác dụng của nó chỉ khiến dục vọng kiếm tiền của mệnh tạo mạnh lên, tư duy nhạy bén hơn, mà không chủ về kiếm tiền thuận lợi, liên quan đến vấn đề này cần phải xem xét các sao và tình huống phi hóa ở cung tài bạch. Hơn nữa, vì cung phúc đức có Hóa Quyền, nên trạng thái tâm lí lúc kiếm tiền phần nhiều là phiền muộn, lo lắng bất an.
(10) Cung phúc đức là cung vị giao dịch (cung vị biểu hiện) của cung thiên di, vì vậy trong môi trường làm việc mệnh tạo cùng dễ có "dịch động", thường được cử đi xa, mà phần nhiều lúc cứ đi xa là đàm đương nhiệm vụ quan trọng. Vì "dịch động" sẽ kích thích mệnh tạo phải biểu hiện và đòi hỏi cao ở bản thân, do đó thường thường ở bên ngoài sẽ có biểu hiện tốt hơn người bình thường.
(Trung Châu Tử Vi - Tứ Hóa Phái- Nguyễn Anh Vũ Dịch, tập 1)

Các phần kiến thức tách lọc từ cuốn Linh Khu Thời Mệnh Lý của tác giả Lê Hưng VKD phái Hậu Thiên Lương.
Ý nghĩa các sao

Ân quang: Chỉ sự nhân hậu, vui tươi, trong sáng, lành mạnh
Bạch Hổ: là thực tế khó người dễ mình, dũng mãnh, oai quyền
Bệnh phù: chỉ sự buồn bã, chán chường
Bệnh: Chỉ sự suy nhược, yếu đuối
Bác sĩ: Chỉ sự thông tuệ, am tường nhiều điều
Bát tọa: là dáng vẻ bệ vệ, đường hoàng
Cô thần: Chỉ sự lạnh lùng, thái độ khó khăn
Cự môn: là lời ăn tiếng nói, khả năng tranh luận
Dưỡng: là phù trợ, hỗ trợ
Điếu khách: Chỉ sự khoe khoang, cường điệu ngôn ngữ trao đổi
Đại hao: là sự hao hụt, thâm thủng
Đế vượng: Chỉ sự thịnh vượng, quyền lực
Đà la: Chỉ sự hung bạo, hiểm ác
Đường phù: là them điều ích lợi, phát triển
Đào hoa: chỉ tính lẳng lơ, đa tình
Địa giải: Chỉ sự nhân hậu, đức độ
Địa kiếp: là bạo tàn, gian ác, thất bại
Địa không: là phá tán, bạo ngược, tai họa
Đẩu quân: chỉ sự nghiêm trang, bảo vệ nguyên tắc
Địa võng: chỉ sự kềm tỏa, vây hãm
Giải thần: chỉ sự giải cứu, giải phóng, thoát nạn
Hỉ thần: điều vui vẻ, sự may mắn
Hồng loan: đảm đang, tháo vát, lanh lợi
Hóa lộc: phát tài, thu hoạch tốt đẹp
Hóa quyền: chỉ sự thăng tiến công việc, thêm chức vụ
Hóa khoa: chỉ sự thông minh, lịch lãm và uyên bác
Hóa kỵ: chỉ sự ghen ghét, đố kị, bảo thủ cực đoan
Hoa cái: chỉ sự bề thế, đẹp vẻ uy nghi
Hữu bật: chỉ sự giúp đỡ, cứu giải
Hỏa tinh: chỉ sự đốt phá, tai ương họa nạn
Kình dương: sự liều lĩnh, tính sỗ sàng, hung bạo
Kiếp sát: tai họa, ách nạn, hung ác
Long đức: hòa nhã, đức độ, đoan trang
Lộc tồn: chỉ sự nghiêm túc, nề nếp
Lực sĩ: hàm nghĩa khỏe mạnh, mạnh dạn
Lâm quan: chỉ tính khoe khoang, thích phô trương
Long trì: chỉ sự ôn hòa, bình tĩnh, phong độ tự tại an nhiên, ung dung
Lưu hà: chỉ sự nham hiểm, khủng hoảng, quỷ quyệt
Lưu niên văn tinh: hàm nghĩa thông minh, ham học hỏi, hiểu biết nhiều điều
Liêm trinh: hàm nghĩa thẳng thắn, sống sượng, nóng nảy và lỗ mãng
Linh tinh: chỉ sự trắc trở, điều ngang trái, ách tắc
Mộc dục: chỉ sự lầm lạc, dở dang, cũng có nghĩa thích trưng diện, phô bày
Mộ: chỉ sự sa sút, chôn giấu, u ám mờ mịt
Nguyệt đức: hàm nghĩa mẫu mực, đoan chính, bao dung che chở
Phúc đức: hòa nhã, nhân hậu, sự cứu giải
Phi liêm: hàm nghĩa nhanh chóng, gọn gàng, thu vén
Phục binh: hàm nghĩa ám muội, điều xấu bất thường
Phượng các: điều vui vẻ, hoan hỉ, nhiều may mắn
Phá toái: sự hao hụt, phá tán, tình trạng đảo điên và hỗn loạn
Phá quân: dũng mãnh, can đảm đương đầu, tháo vát, chỉnh đốn, khéo lo liệu
Phong cáo: chỉ công danh sự nghiệp, học vị, bằng cấp
Quan phù: phán đoán, lý luận, công việc phản biện
Quan phủ: chỉ sự phiền phức, việc rắc rối lôi thôi
Quan đới: chỉ sự đam mê, ham muốn địa vị, quyền thế
Quốc ấn: hàm nghĩa thế lực, quyền hành, việc tuyển chọn cơ hội thăng tiến
Quả tú: chỉ sự cô độc, âm thầm, lặng lẽ chịu đựng
Suy: chỉ sự sút giảm, yếu kém, đuối sức
Thái tuế: chỉ sự tự hào, sắc sảo, tài hùng biện
Thiếu dương: chỉ sự lanh lợi, nhạy bén, mau mắn lặt vặt
Tang môn: chị sự lo âu, điều trắc trở, quyền hành sút giảm
Thiếu âm: hàm nghĩa ngây thơ, khờ dại, thụ động, chịu đựng
Tử phù: chỉ sự tang thương, buồn thảm, bực dọc
Tuế phá: chỉ sự ngang bướng, ương ngạnh, không chịu thua kém
Trực phù: chỉ sự trắc trở, điều họa hại
Thanh long: chỉ sự vui vẻ, tin vui, công việc thăng tiến
Tiểu hao: điều suy sụp, sự thất thoát, chia sẻ nhỏ ra
Tướng quân: chỉ sự hiên ngang, dũng mãnh, có chí khí lãnh đạo
Tấu thư: chỉ sự lịch lãm, khôn khéo, bặt thiệp
Trường sinh: hàm nghĩa lâu bền, gia tăng điều tốt đẹp, công việc phát triển
Tử: hàm nghĩa chôn giấu, che đậy, âm thầm kín đáo
Tuyệt: chỉ sự đứt đoạn, chấm dứt, kết thúc, khô cạn, bế tắc
Thai: chỉ sự nảy nở, phát sinh, mầm sống, giao hoan
Thiên khôi: chỉ sự sáng suốt, cao thượng, chức sắc lớn
Thiên việt: chỉ sự cao sang, quyền tước, tài giỏi, có học vị
Thiên khốc: chỉ sự đau đớn, hốt hoảng, cảnh tang thương, buồn chán
Thiên hư: đa mưu túc trí, có trí tưởng tượng phong phú
Thiên đức: chỉ sự nhân hậu, đức độ, đàng hoàng, nghiêm chỉnh
Thiên hỉ: điều vui vẻ, sự hanh thông, nhiều may mắn
Thiên tài: chế ngự, giảm thiểu, làm cho ít đi, bớt đi
Thiên thọ: chỉ sự phúc thiện, hiền hậu, điềm đạm hòa nhã
Thiên quan: cứu giúp, hỗ trợ, giải cứu, tháo gỡ khó khăn
Thiên phúc: chia sẻ nhỏ dần, xóa bỏ bớt đi, triệt tiêu
Thiên mã: là nghị lực, chí khí, năng nổ vận hành, di động
Thiên trù: chì sự hưởng thụ ẩm thực, công việc gia chánh
Thiên không: nông nổi, nông cạn, kém bền vững, hào nhoáng vẻ về ngoài
Tuần không: chỉ sự hạn chế, kiểm soát, cai quản chặt chẽ
Triệt lộ: chỉ sự phong tỏa, giam hãm, bao vây
Tả phù: chỉ sự phù trợ, bảo vệ, canh giữ
Thiên hình: chỉ sự sát phạt mạnh mẽ, nguy hiểm cao độ, tội trạng
Thiên diêu: chỉ tính cách tâm linh, trực giác nhạy bén
Thiên y: chỉ về tính kỹ lưỡng, cẩn thận mọi việc, chăm sóc chu đáo
Thiên giải: tăng cường giúp đỡ, cứu trợ, giải trừ tai họa
Tử vi: quyền lực cao, chức phận lớn, ngôi vị nhiều uy tín
Thiên đồng: chỉ cải tổ, thay đổi nhanh chóng, chóng chán
Thiên cơ: chỉ khéo léo, chỉnh đốn, làm hoàn chỉnh công việc
Thiên phủ: chỉ phú quý cao sang, giàu có, thịnh vượng
Thái âm: chủ về nhà đất, cũng hàm nghĩa tính nhu mì, hiền hậu
Thái dương: chủ về uy lực, quyền thế, cũng hàm nghĩa nóng nảy, độc đoán
Tham lang: chủ về thu gom, tiếp nhận mạnh dạn, thực dụng hưởng thụ
Thiên tướng: chỉ tính hào hiệp, dũng khí, yêu chuộng thanh sắc, hào hoa phong nhã
Thiên lương: chỉ sự nhân hậu, tận tâm công việc, yêu chuộng văn chương, nghệ thuật
Thất sát: chỉ sự dũng mãnh, táo bạo, liều lĩnh dữ dội
Tam thai: chỉ sự nhàn tản ung dung, hòa hợp vui vẻ
Thiên quí: chỉ sự ôn hòa, ân nghĩa, trọng sự cứu giúp phúc thiện
Thai phụ: là ý nghĩa tự phụ, khoe khoang, hình thức khoa trương
Thiên thương: chỉ sự ngang trái, trắc trở, điều buồn chán
Thiên la: chỉ sự phong tỏa, kìm hãm, ngăn cản đủ điều
Thiên nguyệt: bệnh tật, tai nạn
Vũ khúc: chỉ sự bướng bỉnh, cương cường, cứng rắn
Văn xương: chỉ khả năng học thuật, văn chương, khoa bảng
Văn khúc: chỉ khả năng biện luận, khoa học, kỹ thuật
Tức thần: chỉ sự chậm chạp, trì trệ, đình hoãn
Các thông tin dữ liệu sao

Cung an Mệnh cần có các dữ liệu bản năng và phản xạ tốt đẹp như: Địa Giải, Hoa Cái, Lâm Quan, Lưu niên Văn Tinh, Quan đới, Thiên trù, Văn Xương, Hỉ Thần, Hồng Loan, Lực sĩ, Phi Liêm, Tấu thơ, Thiên đức, Đẩu Quân
Cung an Thân cần có dữ liệu hành động đẹp, như: Giải Thần, Hóa Quyền, Hữu Bật, Liêm Trinh, Thái Tuế, Trường Sinh, Thiên Việt, Thiên mã, Tả Phù, Thiên Giải, Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc
Cung Quan cần có các dữ kiện kinh nghiệm đẹp như: Bạch Hổ, Bác sỹ, Cự môn, Đế Vượng, Hóa Khoa, Long đức, Lộc tồn, Long trì, Phúc đức, Phượng các, Phong cáo, Quốc Ấn, Thiên Hư, Thiên hỉ, Thái Âm, Thái Dương, Đường phù
Cung Tài cần có những dữ kiện phương pháp đẹp như: Ân Quang, Bát tọa, Dưỡng, Hóa Lộc, Nguyệt Đức, Quan phủ, Thanh Long, Tướng Quân, Thiên Khôi, Thiên Hư, Thiên tài, Thiên thọ, Thiên quan, Thiên phúc, Thiên Y, Thiên Đồng, Thiên cơ, Thiên Lương.
Ân quang: Chỉ sự nhân hậu, vui tươi, trong sáng, lành mạnh
Bạch Hổ: là thực tế khó người dễ mình, dũng mãnh, oai quyền
Bệnh phù: chỉ sự buồn bã, chán chường
Bệnh: Chỉ sự suy nhược, yếu đuối
Bác sĩ: Chỉ sự thông tuệ, am tường nhiều điều
Bát tọa: là dáng vẻ bệ vệ, đường hoàng
Cô thần: Chỉ sự lạnh lùng, thái độ khó khăn
Cự môn: là lời ăn tiếng nói, khả năng tranh luận
Dưỡng: là phù trợ, hỗ trợ
Điếu khách: Chỉ sự khoe khoang, cường điệu ngôn ngữ trao đổi
Đại hao: là sự hao hụt, thâm thủng
Đế vượng: Chỉ sự thịnh vượng, quyền lực
Đà la: Chỉ sự hung bạo, hiểm ác
Đường phù: là thêm điều ích lợi, phát triển
Đào hoa: chỉ tính lẳng lơ, đa tình
Địa giải: Chỉ sự nhân hậu, đức độ
Địa kiếp: là bạo tàn, gian ác, thất bại
Địa không: là phá tán, bạo ngược, tai họa
Đẩu quân: chỉ sự nghiêm trang, bảo vệ nguyên tắc
Địa võng: chỉ sự kềm tỏa, vây hãm
Giải thần: chỉ sự giải cứu, giải phóng, thoát nạn
Hỉ thần: điều vui vẻ, sự may mắn
Hồng loan: đảm đang, tháo vát, lanh lợi
Hóa lộc: phát tài, thu hoạch tốt đẹp
Hóa quyền: chỉ sự thăng tiến công việc, thêm chức vụ
Hóa khoa: chỉ sự thông minh, lịch lãm và uyên bác
Hóa kỵ: chỉ sự ghen ghét, đố kị, bảo thủ cực đoan
Hoa cái: chỉ sự bề thế, đẹp vẻ uy nghi
Hữu bật: chỉ sự giúp đỡ, cứu giải
Hỏa tinh: chỉ sự đốt phá, tai ương họa nạn
Kình dương: sự liều lĩnh, tính sỗ sàng, hung bạo
Kiếp sát: tai họa, ách nạn, hung ác
Long đức: hòa nhã, đức độ, đoan trang
Lộc tồn: chỉ sự nghiêm túc, nề nếp
Lực sĩ: hàm nghĩa khỏe mạnh, mạnh dạn
Lâm quan: chỉ tính khoe khoang, thích phô trương
Long trì: chỉ sự ôn hòa, bình tĩnh, phong độ tự tại an nhiên, ung dung
Lưu hà: chỉ sự nham hiểm, khủng hoảng, quỷ quyệt
Lưu niên văn tinh: hàm nghĩa thông minh, ham học hỏi, hiểu biết nhiều điều
Liêm trinh: hàm nghĩa thẳng thắn, sống sượng, nóng nảy và lỗ mãng
Linh tinh: chỉ sự trắc trở, điều ngang trái, ách tắc
Mộc dục: chỉ sự lầm lạc, dở dang, cũng có nghĩa thích trưng diện, phô bày
Mộ: chỉ sự sa sút, chôn giấu, u ám mờ mịt
Nguyệt đức: hàm nghĩa mẫu mực, đoan chính, bao dung che chở
Phúc đức: hòa nhã, nhân hậu, sự cứu giải
Phi liêm: hàm nghĩa nhanh chóng, gọn gàng, thu vén
Phục binh: hàm nghĩa ám muội, điều xấu bất thường
Phượng các: điều vui vẻ, hoan hỉ, nhiều may mắn
Phá toái: sự hao hụt, phá tán, tình trạng đảo điên và hỗn loạn
Phá quân: dũng mãnh, can đảm đương đầu, tháo vát, chỉnh đốn, khéo lo liệu
Phong cáo: chỉ công danh sự nghiệp, học vị, bằng cấp
Quan phù: phán đoán, lý luận, công việc phản biện
Quan phủ: chỉ sự phiền phức, việc rắc rối lôi thôi
Quan đới: chỉ sự đam mê, ham muốn địa vị, quyền thế
Quốc ấn: hàm nghĩa thế lực, quyền hành, việc tuyển chọn cơ hội thăng tiến
Quả tú: chỉ sự cô độc, âm thầm, lặng lẽ chịu đựng
Suy: chỉ sự sút giảm, yếu kém, đuối sức
Thái tuế: chỉ sự tự hào, sắc sảo, tài hùng biện
Thiếu dương: chỉ sự lanh lợi, nhạy bén, mau mắn lặt vặt
Tang môn: chị sự lo âu, điều trắc trở, quyền hành sút giảm
Thiếu âm: hàm nghĩa ngây thơ, khờ dại, thụ động, chịu đựng
Tử phù: chỉ sự tang thương, buồn thảm, bực dọc
Tuế phá: chỉ sự ngang bướng, ương ngạnh, không chịu thua kém
Trực phù: chỉ sự trắc trở, điều họa hại
Thanh long: chỉ sự vui vẻ, tin vui, công việc thăng tiến
Tiểu hao: điều suy sụp, sự thất thoát, chia sẻ nhỏ ra
Tướng quân: chỉ sự hiên ngang, dũng mãnh, có chí khí lãnh đạo
Tấu thư: chỉ sự lịch lãm, khôn khéo, bặt thiệp
Trường sinh: hàm nghĩa lâu bền, gia tăng điều tốt đẹp, công việc phát triển
Tử: hàm nghĩa chôn giấu, che đậy, âm thầm kín đáo
Tuyệt: chỉ sự đứt đoạn, chấm dứt, kết thúc, khô cạn, bế tắc
Thai: chỉ sự nảy nở, phát sinh, mầm sống, giao hoan
Thiên khôi: chỉ sự sáng suốt, cao thượng, chức sắc lớn
Thiên việt: chỉ sự cao sang, quyền tước, tài giỏi, có học vị
Thiên khốc: chỉ sự đau đớn, hốt hoảng, cảnh tang thương, buồn chán
Thiên hư: đa mưu túc trí, có trí tưởng tượng phong phú
Thiên đức: chỉ sự nhân hậu, đức độ, đàng hoàng, nghiêm chỉnh
Thiên hỉ: điều vui vẻ, sự hanh thông, nhiều may mắn
Thiên tài: chế ngự, giảm thiểu, làm cho ít đi, bớt đi
Thiên thọ: chỉ sự phúc thiện, hiền hậu, điềm đạm hòa nhã
Thiên quan: cứu giúp, hỗ trợ, giải cứu, tháo gỡ khó khăn
Thiên phúc: chia sẻ nhỏ dần, xóa bỏ bớt đi, triệt tiêu
Thiên mã: là nghị lực, chí khí, năng nổ vận hành, di động
Thiên trù: chì sự hưởng thụ ẩm thực, công việc gia chánh
Thiên không: nông nổi, nông cạn, kém bền vững, hào nhoáng vẻ về ngoài
Tuần không: chỉ sự hạn chế, kiểm soát, cai quản chặt chẽ
Triệt lộ: chỉ sự phong tỏa, giam hãm, bao vây
Tả phù: chỉ sự phù trợ, bảo vệ, canh giữ
Thiên hình: chỉ sự sát phạt mạnh mẽ, nguy hiểm cao độ, tội trạng
Thiên diêu: chỉ tính cách tâm linh, trực giác nhạy bén
Thiên y: chỉ về tính kỹ lưỡng, cẩn thận mọi việc, chăm sóc chu đáo
Thiên giải: tăng cường giúp đỡ, cứu trợ, giải trừ tai họa
Tử vi: quyền lực cao, chức phận lớn, ngôi vị nhiều uy tín
Thiên đồng: chỉ cải tổ, thay đổi nhanh chóng, chóng chán
Thiên cơ: chỉ khéo léo, chỉnh đốn, làm hoàn chỉnh công việc
Thiên phủ: chỉ phú quý cao sang, giàu có, thịnh vượng
Thái âm: chủ về nhà đất, cũng hàm nghĩa tính nhu mì, hiền hậu
Thái dương: chủ về uy lực, quyền thế, cũng hàm nghĩa nóng nảy, độc đoán
Tham lang: chủ về thu gom, tiếp nhận mạnh dạn, thực dụng hưởng thụ
Thiên tướng: chỉ tính hào hiệp, dũng khí, yêu chuộng thanh sắc, hào hoa phong nhã
Thiên lương: chỉ sự nhân hậu, tận tâm công việc, yêu chuộng văn chương, nghệ thuật
Thất sát: chỉ sự dũng mãnh, táo bạo, liều lĩnh dữ dội
Tam thai: chỉ sự nhàn tản ung dung, hòa hợp vui vẻ
Thiên quí: chỉ sự ôn hòa, ân nghĩa, trọng sự cứu giúp phúc thiện
Thai phụ: là ý nghĩa tự phụ, khoe khoang, hình thức khoa trương
Thiên thương: chỉ sự ngang trái, trắc trở, điều buồn chán
Thiên la: chỉ sự phong tỏa, kìm hãm, ngăn cản đủ điều
Thiên nguyệt: bệnh tật, tai nạn
Vũ khúc: chỉ sự bướng bỉnh, cương cường, cứng rắn
Văn xương: chỉ khả năng học thuật, văn chương, khoa bảng
Văn khúc: chỉ khả năng biện luận, khoa học, kỹ thuật
Tức thần: chỉ sự chậm chạp, trì trệ, đình hoãn
(Nguồn: Linh khu thời mệnh lý, Lê Hưng VKD)

Vũ Khúc là sao tiền tài; phân biệt tỉ mỉ là hành động kiếm tiền, khác với Thái Âm là kế hoạch kiếm tiền. Cho nên cổ nhân xếp Thái Âm thuộc văn, còn Vũ Khúc thuộc võ.
Cổ quyết nói: Người sinh năm Thìn, cung mệnh là Vũ Khúc ở cung Thìn; người sinh năm Tuất, cung mệnh là Vũ Khúc ở cung Tuất; người sinh năm Sửu, cung mệnh là "Vũ Khúc, Tham Lang" ở cung Sửu; người sinh năm Mùi, cung mệnh là "Vũ Khúc, Tham Lang" ở Mùi; đều chủ về lập được chiến công, lấy công để khởi nghiệp.
Vũ Khúc là sao cô quả, vì vậy không thích hợp với nữ mệnh. Dù có cuộc sống hôn nhân, cũng chủ về vợ đoạt quyền chồng. Ở thời hiện đại, thường thường là điềm tượng thao túng sự nghiệp của chồng, mà còn chủ về kết hôn muộn.
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở hai cung Tí hoặc Ngọ, ở cung Ngọ tốt hơn. Tuy cổ quyết nói: "Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng cung chủ về sống thọ, nhưng "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thủ mệnh ở cung Tí, lại ngại cung phụ mẫu là Thái Dương lạc hãm,e rằng còn nhỏ đã mồ côi, hoặc khó được cha mẹ che chở, vì vậy không bằng cung Ngọ.
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" khí rất hoà hoãn, cho nên cổ nhân cho rằng rất thích hợp với nữ mệnh. Ở thời hiện đại, bất kể là nam mệnh hay nữ mệnh, "Vũ Khúc, Thiên Phủ" mà có sao lộc, lại gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, phần nhiều chủ về đắc ý trong giới làm ăn kinh doanh. Nếu không có Thiên Khôi, Thiên Việt, nhưng gặp Tả Phụ, Hữu Bật cũng cát; gặp Văn Xương, Văn Khúc, chỉ chủ về thông minh, không chủ về đắc ý.
Đối với "Vũ Khúc, Thiên Phủ", hai cung đại hạn Thiên Đồng, "Thái Âm, Thái Dương" là đại vận có tính then chốt của đời người. Hai cung hạn này ưa gặp cát tinh và cát hoá, được vậy thì tuổi trẻ hưởng thụ, trung niên và vãn niên phúc trạch cũng dầy. Nếu hai cung hạn này gặp các sao sát, kị, hình, thì tuổi trẻ không cát tường, trung niên và vãn niên cũng bị ảnh hưởng.
Đối với "Vũ Khúc, Thiên Phủ", các cung hạn Tham Lang, "Tử Vi, Thiên Tướng", Thất Sát, Phá Quân là các lưu niên có tính then chốt.
"Vũ Khúc, Tham Lang" thủ mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi, có Hoả Tinh hoặc Linh Tinh đồng độ là rất tốt. Ở cung tài bạch và cung điền trạch cũng cát. Cổ quyết nói: "Vũ Khúc, Tham Lang ở tài trạch vị, hoạnh phát tiền của". Không có cát tinh mà có sát tinh, sẽ chủ về hoạnh phát hoạnh phá.
"Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, gặp sao lộc chủ về phú; gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ Hữu Bật chủ về quý, hoặc phú nhờ quý mà có.
"Vũ Khúc, Tham Lang" Hoá Kị (Vũ Khúc Hoá Kị nặng hơn), gặp Hoả Tinh, Linh Tinh, thì luận gặp sát tinh, nhưng còn chủ về thông minh, có nghề đặc biệt để mưu sinh. Ở thời hiện đại cũng có thể theo ngành công nghệ, khoa học kỹ thuật.
Đối với "Vũ Khúc, Tham Lang", các cung hạn "Thái Dương, Cự Môn", "Thiên Đồng, Thái Âm" là đại vận có tính then chốt của đời người. Vận trình lúc còn trẻ tốt hay xấu có thể ảnh hưởng suốt cuộc đời.
Đối với "Vũ Khúc, Tham Lang", các cung hạn Thiên Phủ, "Liêm Trinh, Phá Quân", "Thiên Cơ, Thiên Lương" là các lưu niên có tính then chốt.
"Vũ Khúc, Tham Lang" ở cung thân không bằng ở cung mệnh. Nếu gặp các sao sát, kị, hình, chủ về cuộc đời nhiều hung hiểm. Nếu đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, cũng chủ về hoạnh phát liền hoạnh phá.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ mệnh ở hai cung Dần hoặc Thân, phần nhiều chủ về là người làm việc hưởng lương, chỉ nên làm chức phó, không nên một mình cán đáng công việc.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" có Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, chủ về thông minh, tay nghề khéo. Cổ quyết nói: "Vũ Khúc, Thiên Tướng gặp Văn Xương, Văn Khúc, thông minh, tay nghề khéo mưu sinh". Ở thời hiện đại cũng là điềm tượng công nghệ, khoa học kỹ thuật.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" có Văn Khúc đồng độ, lại gặp các sao đào hoa (Thiên Riêu càng nặng), chủ về là người trôi nổi, không yên một nghề. Cần phải lấy nổ lực hậu thiên để khắc chế, mới có thể dựa vào nghị lực mà sáng lập sự nghiệp.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ mệnh cung Dần, Tham Lang thủ cung thân ở cung Tí; nếu cung thân có các sao sát, kị hội hợp, thì gặp năm Tí có nguy cơ về sông nước, lấy năm có lưu sát tinh xung hội làm ứng nghiệm.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ mệnh, nếu cung tài bạch là "Liêm Trinh, Thiên Phủ", mà Liêm Trinh Hoá Kị, nên làm công việc có tính hung sự để kiếm tiền. Ở thời hiện đại, các ngành nghề như ẩm thực, y dược, ngoại khoa, hoá nghiệm, tang lễ, v.v… đều thuộc "hung sự"; ở thời cổ đại là đồ tể, chăn nuôi, v.v…
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" rất ưa cung thiên di là Phá Quân Hoá Lộc, thì tuy có chức phó nhưng cũng có thanh danh, mà cuộc đời phần nhiều gánh vác toàn trọng trách khó khăn.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" có Văn Khúc đồng độ; đối cung có Thiên Mã, mà không có Hoá Lộc, Lộc Tồn; các sao cát và sát tinh lẫn lộn; cổ nhân cho là mang linh đinh.
Đối với "Vũ Khúc, Thiên Tướng", các cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương", Thiên Cơ, Thái Âm là các đại vận có tính then chốt; các cung hạn có Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Tử Vi là những lưu niên có tính then chốt.
"Vũ Khúc, Thất Sát" thủ mệnh ở cung Mão, gặp các sao sát, kị sẽ chủ về nạn tai bất trắc. Cổ quyết nói: "Các sao ác, sát, hao, tù hội hợp ở cung Chấn, chủ về cây đè, sét đánh". Ở cung Dậu, là điềm tượng vì tranh giành tiền bạc mà động võ. Cổ quyết nói: "Vũ Khúc, Kiếp Sát hội Kình Dương, vì tiền mà cầm đao". Cổ quyết còn nói: "Vũ Khúc, Kình Dương, Đà La kiêm Hoả Tinh, mất mạng vì tiền". Đều nói về "Vũ Khúc, Thất Sát" ở hai cung Mão Dậu.
Tóm lại, "Vũ Khúc, Thất Sát" đồng cung, là tổ hợp sao có nguy cơ. "Vũ Khúc, Thất Sát" ở bản cung không có các sao sát, kị, thì thích hợp với võ nghiệp, có thể lập công trạng.
Đối với "Vũ Khúc, Thất Sát", các cung hạn "Thiên Đồng, Thiên Lương", Thái Dương, Thái Âm, là những đại vận có tính then chốt; các cung hạn "Liêm Trinh, Tham Lang", "Tử Vi, Phá Quân" và bản cung "Vũ Khúc, Thất Sát" là các lưu niên có tính then chốt.
Vũ Khúc độc toạ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp cát tinh cũng chủ về nắm quyền tài chính; gặp sát tinh, là tiểu thương, tuyệt đối không nên theo võ nghiệp.
Vũ Khúc ở hai cung Thìn hoặc Tuất, ắt sẽ đối nhau với Tham Lang, tính chất tương tự như "Vũ Khúc, Tham Lang" ở hai cung Sửu hoặc Mùi. Các đại vận hoặc lưu niên có tính then chốt cũng tương tự.
Vũ Khúc thủ mệnh ở hai cung Thìn hoặc Tuất, cung thiên di là Tham Lang đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, không chủ về rời xa quê hương, mà chỉ chủ về phát đột ngột. Nếu cung mệnh có Hoả Tinh, Linh Tinh, mới chủ về rời xa quê hương để lập nghiệp.
"Vũ Khúc, Phá Quân" ở hai cung Tị hoặc Hợi, đồng độ với Hoả Tinh, Linh Tinh, chủ về phá tổ nghiệp mà tự lập. Được cát hoá và có sao cát, thì cuộc đời phần nhiều gánh vác trọng trách, hoặc thường gánh vác công việc quá mức.
"Vũ Khúc, Phá Quân" ở cung mệnh hay cung thân, phần nhiều ưa hợp tác với người khác. Vì vậy nên xem xét kỹ cát hung của cung huynh đệ.
"Vũ Khúc, Phá Quân" ở cung Hợi, phần nhiều chủ về thị phi, không ổn định. Nếu cung phụ mẫu là Thái Dương lạc hãm ở cung Tí, cuộc đời thiếu sự che chở của cha mẹ, hoặc cấp trên không lấy lòng thành để đối xử với mệnh tạo. Nhưng người sinh năm Nhâm, tuy Vũ Khúc Hoá Kị, nhưng Thái Dương được Thiên Lương Hoá Lộc vây chiếu, mới chủ về được người ta đề bạt, trọng dụng. Cho nên "Vũ Khúc, Phá Quân" Hoá Kị, là cách cục "phản bối" thì chủ về cát tường.
Đối với "Vũ Khúc, Phá Quân", các cung hạn Thái Dương, "Thiên Cơ, Thái Âm", Thiên Đồng là những đại vận có tính then chốt; các cung hạn Thái Dương, Thiên Lương, "Tử Vi, Tham Lang", "Thiên Cơ, Thái Âm" là những lưu niên có tính then chốt.


PHONG NGUYÊN
Trong KHHB Xuân Quý Sửu tôi đã có dịp kể vài câu chuyện về tử vi và nay nhân dịp Xuân Giáp Dần, tôi xin tiếp tục đưa ra một số kinh nghiệm về tử vi dưới hình thức những mẫu chuyện có thực để quý bạn vừa giải trí vừa ôn luyện tử vi

1. Tham Lang cư Thê

Tối phải thú thựa với quý bạn là tôi luôn luôn thành kiến xấu về cung Thê có Tham Lang, và do đó ôi đã chê sao này trong bài “Tìm hiểu phụ nữ qua tử vi”, đang trên KHHB mới đây, mặc dầu tôi vẫn hiểu rằng, về tử vi không bao giờ nên đặt ra một định lệ cố định. Đó cũng chỉ vì tôi đã gặp quá nhiều trường hợp rõ rệt mà sau đây tôi xin nêu ra hai “ca” điển hình.

a- Một lần có người bạn giới thiệu một sĩ quan (hiện là đại úy trong QLVNCH) để nhờ tôi coi dùm về công danh, sự nghiệp. Thường thường dù lá số có giờ sinh chính xác tôi vẫn nêu ra vài chi tiết nổi bật nhất để xem xét có đúng giờ sinh hay không? Cho nên đối với lá số của vị sĩ quan này vì tôi thấy cung Thê dễ đoán nhất (có Tham Lang cư Dần hội Địa Kiếp, Lộc tồn), tôi liền hỏi thẳng đương số có phải có người vợ chỉ nghĩ đến tiền trước hết chứ chẳng có tình nghĩa gì phải không? Vị sĩ quan đó tỏ vẻ khó chịu và nói rằng chỉ cần hỏi tôi về công danh sự nghiệp chứ còn vấn đề vợ con chẳng có gì thắc mắc. nhưng tôi vẫn cứ nhấn mạnh điểm đó để kiểm sóat giờ sinh, và lúc đó đương sự bảo rằng chắc giờ sinh trật, như vậy khỏi cần coi tiếp. rồi sau vài ba câu xã giao, đương sự cùng người bạn tôi ra về, còn tôi cũng chẳng thắc mắc gì nữa vì yên trí giờ sinh sai rồi. thế rồi ngay tối hôm đó đương sự mò tới nhà tôi một mình và vội vàng thú thực với tôi qua vẻ mặt đau buồn là vợ đương sự, quả thực bê bối như tôi đã đóan. Hơn nữa đương sự còn cho biết là đương sự đang muốn li dị với vợ mà không dám thổ lộ tâm sự cùng ai, vì cho đó là điều nhục nhã xấu xa, do đó trước mặt người bạn tôi dù là thân thiết, đương sự vẫn không chịu nói thật (có lẽ vì phải giữ uy tín trong vấn đề làm ăn chăng) và ngay đối với cả tôi đương sự cũng còn giấu diếm luôn, nhưng về sau suy nghĩ thấy cần phải dựa vào tử vi để tìm phương pháp giải quyết nên đương sự mới tìm đến tôi. Đương sự còn tâm sự thêm là người vợ tuy làm ăn khá giả mà mỗi tháng cho mẹ ruột một hai ngàn đồng còn thấy tiếc, chỉ muốn rút bớt đi khiến cho đương sự phải can ngăn. Ngoài ra, đương sự có tiền phải giấu riêng hoặc phải gửi vào trương mục riêng của mình vì sợ vợ chiếm đọat hết. Vì vậy đương sự chỉ muốn xin li dị và do đó phải nhờ đến tử vi. Thực ra đương sự không có chủ đích hỏi về công danh sự nghiệp mà chính ra chỉ thắc mắc về vấn đề hôn nhân, hạnh phúc vợ chồng nhưng vì tự ái và danh dự đương sự phải nói tránh ra như vậy đó thôi. Và khi đương sự gặng hỏi có thể li dị được không? Tôi không dám trả lời dứt khóat ngay mà đành bảo đương sự cho coi lá số của người vợ và của một người con rồi mới dám quyết đoán. Sau khi xem kỹ lá số này rồi, tôi quả quyết là không thể li dị được và cho tới bây giờ đương sự vẫn chưa thực hiện được, chẳng biết về sau này ra sao. Vì danh dự của đương sự tôi giấu ngày giờ, năm tháng sanh của đương sự.

Qua mẫu chuyện trên đây quý bạn thấy Tham Lang cư Thê (nhất là ở Dần Thân) ứng với câu “Gái bạc tình Tham Sát Dần Thân” (có sách nói là nhàn cung), lại còn có Địa Kiếp thành ra xài hết nổi. Còn Lộc Tồn tuy gọi là chân nhân chi tú, nhưng đi với Tham Lang, Địa Kiếp lại trở nên quá lý tài, vụ lợi, ích kỷ, tuy kiếm ra tiền được khá giả do khả năng. Ngoài ra, tại sao tôi quả quyết là không li dị nổi? Đó chỉ vì lá số của người vợ lại quá truyền tin với người chồng (nhất là các sao xấu như Tham Lang, Địa Kiếp) và các con cái cũng truyền tin với cha lẫn mẹ cho nên mới có sự ràng buộc chặt chẽ. Thành ra người vợ trở thành “của nợ” đeo đẳng mình suốt đời.

b- Đây là trường hợp thứ nhì về Tham Lang cư Thê: Tôi chỉ xin nói sơ qua về lá số của đương sự là Mệnh cư Dần có Vũ Tướng đồng cung. “Thân” cư Quan có Tử Vi cư Ngọ. Thê có Tham Lang cư Tý hội Đào Hồng, Thiên Không. Đương số là một người hàng xóm rất thân thiết với gia đình tôi nen tôi có dịp theo dõi cuộc sống của đương sự cũng như biết rõ đời tư của đương sự. Sau khi đương sự lập gia đình là tôi bắt đầu theo dõi hạnh phúc của đương sự có bị Tham Lang “hành” không? Chính đương sự cũng biết về tử vi nên đương sự cũng e ngại về cung Thê có Tham Lang và để tự an ủi đương sự bảo rằng ‘Tham Lang cư Thê, nghi cầu trưởng nữ” chứ đâu có gì đáng sợ (đương sự có lấy người con gái lớn nhất trong gia đình thật). Thế rồi độ năm sau năm sau, người vợ bắt đầu “đổ đốn” tới mức không thể tưởng tượng được vừa hại chồng, vừa lăng loan ngọai tình, mà tôi không tiện nêu ra chi tiết để khỏi làm buồn lòng đương số. Vì vậy đương số đã thương một người con gái khác và đi tới sống chung thực sự, có con với người này nữa. Nhưng khổ thay chỉ độ một thời gian ngắn, về sau đương số cho tôi biết là vợ sau còn tệ hại hơn nữa. Và hiện nay đương số đã có một ‘bà” thứ ba rất nết na, thùy mị, đoan trang được nhiều thầy tướng coi mặt và khen hết mình.

Đọc đến đây chắc quý bạn hơi thắc mắc là tại sao cung Thê như vậy mà cuối cùng lại có vợ tốt. Tôi xin trả lời ngay rằng nhờ cung Nô bộc rất tốt (vì cư ngay cung tuổi và có Tả Hữu hội chiếu nhiều sao tốt) cho nên ứng vào thứ thiếp đàng hòang, nết na, đắc lực, đảm đang. Nhưng tôi nghĩ rằng người vợ thứ ba này chỉ tốt khi hai người chung sống với nhau bán chính thức, nghĩa là chưa có hôn thú, chứ còn khi đã chính thức hóa cuộc hôn nhân thì sao Tham Lang tại cung Thê lại có dịp họat động. Tuy nhiên, điều này thuộc về tương lai chưa thể biết có ứng nghiệm hay không.

Nói tóm lại qua hai mẫu chuyện trên đây, mỗi khi quý bạn gặp trường hợp cung Thê có Tham Lang, Địa Kiếp, Đào Hồng… (là một trong những cách tôi chê nhất), quý bạn cần chú trọng tới cung Nô Bộc để xem có vớt vát được vấn đề hạnh phúc hôn nhân hay không? Ngòai ra nếu có thể được cầm xem có truyền tin hay không để quyết đoán về vấn đề có thay đổi được cuộc sống vợ chồng không. Trường hợp trên nếu không truyền tinh là may, còn ngược lại ráng mà … chịu.

2. Liêm-Tham Tỵ Hợi

Ai học tử vi mà chẳng biết câu “Liêm Tham Tỵ Hợi hình ngục nan đào”, cũng chỉ vì câu này khiến tôi phải chú tâm nghiên cứu tử vi và đã thắc mắc nhiều nhất về sự chính xác của khoa tử vi. Tôi còn nhớ hồi tôi mới biết sơ qua về tử vi, tôi có được coi khá nhiều lá số có Liêm-Tham Tỵ, Hợi và nghiệm thấy có vài trường hợp rất đúng, nhưng lại có nhiều trường hợp sai hẳn, mặc ầu giờ sinh đúng, vì có người bị tù lên tù xuống nhưng có người chẳng bao giờ biết một ngày giam giữ. Vì vậy tôi rất bực mình và bèn làm mộ “collection” riêng về các lá số có Liêm Tham Tỵ Hợi, rồi khi thấy ai bị tù tội, giam cầm là tôi viết ngay một chữ “Tù’ duy nhất thật to trên lá số của đương số, để chiêm nghiệm riêng về khía cạnh đó chứ chẳng hề chú ý với điểm khác. Thế rồi một hôm, vì sơ ý để “râu ông này cắm cằm ba kia”, tôi đã viết chữ “Tù” lên trên một lá số của người bạn thân chưa hề bị giam giữ. Và nếu chỉ có thế thôi thì đâu có sao, nưng khổ một nỗi là tôi đã để người bạn đó thấy khi anh ta đến chơi, khiến anh ta cứ tưởng tôi biết chắc là anh thế nào cũng bị tù nên mới viết chữ to như thế trên lá số. Phải chi anh hỏi tôi thì cũng dễ giải thích, nhưng anh đã làm thinh để trong lòng và từ đó vẻ mặt luôn đăm chiêu, chẳng dám họat động, làm gì cả mặc dù anh ta có bằng cấp cao, có tài năng đến nỗi sau một năm trông anh già hẳn đi và đùng một hôm tôi được tin anh ta bị giam giữ vì bị nghi oan gì đó. Khi ấy tôi vội vàng mở lá số của anh tar a coi thì thấy đã có sẵn một chữ “Tù” to tướng ghi trên lá số anh ta. Tuy tôi biết mình đã biên lộn nhưng thấy ngẫu nhiên ứng nghiệm, tôi đâm ra mê tín cho rằng đó là cái điềm xấu cho anh.

Nhờ sư tập nhiều lá số Liêm-Tham Tỵ, Hợi và sau khi tham khảo nhiều vị tử vi cao thâm, tôi xin trình bày cùng quý bạn về khía cạnh này:

- Trước hết tôi cần nói rằng Liêm-Tham Tỵ, Hợi chủ về người ưa thích mạo hiểm, ưa làm liều, rất can đảm, thích đảm trách hoặc hay phải đảm trách những chuyện bí mật rắc rối, làm việc gì cũng mau mắn lanh lẹ, quả quyết, và những đặc tính này người có Liêm-Tham Tỵ, Hợi dễ bị vướng vào vòng pháp luật, hoặc nghi oan, liên lụy, nhưng còn phải tùy thuộc các sao phụ mới có thể quyết đóan như vậy được. Ngòai ra tôi xin nói thêm (điểm này không ăn nhằm gì với tù tội) để quý bạn tùy nghi áp dụng, là người Liêm – Tham Tỵ, Hợi còn hay có năng khiếu về máy móc, điện khí hoặc về ngành tư pháp (như Luật sư, thẩm phán) nếu có thêm các sao khác bổ túc.

- Vì những đặc tính trên, muốn tránh được tù tội. Liêm-Tham cần xa lánh được Cô Thần, Quả Tú, Thiên Hình, Không Kiếp, Kình Đà, Tuế Phục. Nếu gặp đủ hết các sao này thì quả thực câu phú trên rất đúng. Có nhà tử vi sợ Hóa Kỵ, Thiên Không đồng cung với Liêm Tham nhưng thực ra hai sao này đồng cung lại giải được hết sự xấu xa, tù tội. Ngòai ra, nếu Liêm Tham lại gặp được Tả Hữu, Lộc Tồn thì thực là rất hay (chưa cần thêm các sao tốt khác), nghĩa là sẽ trở thành một người nổi bật trong quần chúng về tài năng, chứ không hẳn về bằng cấp, văn hóa.

- Nếu chỉ có Liêm-Tham Tỵ Hợi không thôi, nghĩa là tránh được các sao xấu kể trên và cũng không có cách nào tốt phụ thêm, thì người đó chỉ làm được những chuyện về chân tay như thợ máy, thợ mộc … và không đảm đương được việc quy mô, rộng lớn, còn việc tù tội, tuyệt nhiên không có gì ứng nghiệm.

3. Đào Hồng, Hình, Riêu

Qua câu chuyện tôi sắp kể dưới đây, tôi nhận thấy rằng, về tử vi nếu chỉ biết lơ mơ không những chẳng có ích gì mà có khi còn bất lợi cho mình. Đó là trường hợp một anh bạn tôi như sau:

Anh ta mới học tử vi được vài tháng nhưng lúc nào cũng tự cho mình là thấu triệt về tử vi vì của đáng tội anh rất thong minh và nhớ dai, các câu phú anh thuộc làu làu, nhưng về phần kinh nghiệm thì đương nhiên chưa có gì. Khi anh ta tới tuổi lập gia đình (đây tôi nói hồi anh còn niên thiếu trẻ trung) anh rất kén chọn ý trung nhân vì dù sao anh cũng nhiều tài năng, bằng cấp cao lại đẹp trai thì thiếu gì gái theo đuổi, ưng chịu. Thế rồi anh để ý một thiếu nữ còn đang đi học (Trung Học) rất duyên dáng, dễ thương và đoan trang nết hạnh, và anh đi tới chỗ yêu thương say đắm, nhưng khổ một nỗi khi xem tử vi cho nàng anh lại đâm ra thất vọng và lần lần đi tới chỗ chán chường. Tôi lấy làm lạ hỏi anh và anh tâm sự rằng anh không dám tiến tới hôn nhân với cô ta, vì thấy cung Mạng “Thân” (cư Tài) có đủ cả Đào Hồng Hình Riêu lại thêm Xương Khúc, Tả Hữu thì chắc là hư đốn lắm. Anh còn lý luận thêm rằng nếu không chạm vào câu phú “Hình Riêu phận gái long đong” thì cũng vướng vào câu “Đào Riêu số gái ai hay, chồng ra khỏi cửa, dắt tay trai vào”, tuy các sao ấy không đồng cung thì ảnh hưởng nhẹ đi.

Sau khi nghe anh bạn tôi lý luận về tử vi như vậy, tôi cũng e dè vì hồi đó tôi cũng chỉ là tay “ăn dong” và khoa này, cho nên tôi đành làm thinh tuy trong thâm tâm chưa đồng ý mà còn nghĩ rằng cô ấy không hư hỏng mà còn có thể giúp ích cho chồng bằng khả năng của mình. Hơn nữa cứ theo cách thức ăn nói và hình dáng của cô ta, dù cho người không biết coi tướng mặt cũng phải công nhận cô ta đoan trang nết hạnh. Tuy vậy tôi vẫn không dám khuyên anh bạn tôi tiến tới, vì sợ có chuyện gì ngang trái, đổ vỡ xảy ra thì mình đâm ra ân hận.

Độ chừng 5 năm sau, tình cờ tôi gặp lại người vợ hụt của anh bạn tôi và được biết cô ta học được dở dang rồi xoay sang học giải phẫu thẫm mỹ và sửa sắc đẹp. Ngòai ra cô còn cho biết đã lập gia đình, chồng làm bác sĩ và rất hạnh phúc, gián tiếp chứng tỏ cô ta không có gì trắc nết hoặc hại chồng: trái lại cô ta rất đác lực với chồng về phương diện tài chính, cũng như quán xuyến việc nội trợ. Và sau khi gặp cô, tôi vội đến nhà của anh bạn tôi để nói rõ sự thực cho anh tat ha hồ tiếc rẻ, nhưng ai ngờ chính anh bạn tôi cũng mới gặp cô ta và định chạy lại nhà tôi tâm sự về chuyện đó, đồng thời thảo luận với tôi về tử vi trên khía cạnh đó. Với gương mặt thơ thẩn anh tỏ ý hối hận và luyến tíêc người đẹp thủa xưa đồng thời mạt sát khoa tử vi quá cỡ. Khi ấy tôi đã tiến bộ nhiều về tử vi và hơn nữa thấy được thực tế đã bày tỏ trước mắt, nên tôi liền lên tiếng bênh vực tử vi và nói với anh ta rằng Đào Hoa, Hồng Loan cư Tài Bạch (có cả “Thân” đóng ở đó) ứng vào việc mưu sinh bằng mỹ thuật như họa sĩ, hỉai phẫu thẫm mỹ, hoặc sửa sắc đẹp; Xương-Khúc chứng tỏ có ăn có học đàng hòang về ngành chuyên môn chứ không phải chỉ làm quen tay; Tả - Hữu thì chủ về giúp ích cho đời và nếu phụ trách về sửa sắc đẹp thì cũng là một cách giúp đời: Thiên Hình ứng cho dao kéo, giải phẫu; Thiên Riêu-Thiên Y tượng trưng cho thuốc men dung trong khi giải phẫu hoặc sửa sắc đẹp. Ngòai ra tôi còn nhớ lá số của cô ta có Khoa, Quyền, Lộc nữa thì làm sao bê bối được, chỉ khổ một nỗi là sự việc đã xảy ra rồi mà có lý luận hay cách mấy, cũng bị bạn tôi cho là nói dựa. Nhưng dù sao đó cũng là một cách học tử vi, phải không quý bạn?
oOo
Tôi xin chấm dứt bài hôm nay nơi đây và hi vọng KHHB được trường tồn để tôi có dịp hầu chuyện quý bạn qua Xuân năm tới, vì những chuyện về tử vi có thực còn rất nhiều. Sau hết nhân dịp Xuân về, Phong Nguyên tôi xin chúc quý bạn và gia đình một năm mới hòan toàn hạnh phúc.

Dưới đây xin tóm tắt các ý tượng cơ bản của trường hợp Hóa Kị [năm sinh] ở cung phu thê như sau:
(1) Mọi tạo tác của Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa trong toàn mệnh bàn đều do Hóa Kị gánh chịu; trường hợp Hóa Kị ở cung phu thê, là có ý trông đợi người phối ngẫu gánh vác trách nhiệm thay cho mệnh tạo. Luận ở góc độ người phối ngẫu, là phải chịu đựng quá nặng, còn đối với mệnh tạo thì cũng sẽ vì quá kì vọng mà cảm thấy rất hụt hẫng, có thể từ yêu thương biến thành oán hận.
(2) Trường hợp có Hóa Kị đóng trong cung phu thê, tất nhiên sẽ có người đối ứng, tức trong đời mệnh tạo nhất định sẽ có kết hôn, hoặc có một giai đoạn trong cuộc sống sẽ tương tự như quan hệ hôn nhân. Nhưng vì lực tác động của Hóa Kị là thuộc loại phức tạp, cần phải chỉnh lí; nếu mệnh tạo kết hôn sớm hoặc yêu đương quá sớm thì tâm lí chưa được chín chắn, dễ chia tay hoặc sẽ có biến động trong hôn nhân (cần phải trải qua sự điều chỉnh về trạng thái tâm lí); đây cũng là ngầm báo kết hôn muộn thì tốt hơn.
(3) Như đã thuật ở trước các cung lục thân đều có ý nghĩa so sánh với mệnh tạo, trường hợp cung phu thê có Hóa Kị, luận về vai trò của người phối ngẫu, người phối ngẫu sẽ hướng nội, trầm mặc, hay đa nghi hơn mệnh tạo; nhưng không có nghĩa là người phối ngẫu vốn như vậy, mà đây là mệnh tạo cảm thấy như vậy.
(4) Luận về vai trò của người phối ngẫu trong kịch bản cuộc đời của mệnh tạo, sau khi hôn nhân thành lập sẽ khiến người phối ngẫu bắt buộc phải đóng vai một người hướng nội, trầm mặc, đa nghi hay đố kị; nhưng muốn phù hợp với vai của mình trong kịch bản, thì người phối ngẫu sẽ khó cảm thấy hạnh phúc; trường hợp nghiêm trọng hơn là, cuộc sống hôn nhân là buồn khổ, khó chịu đựng.
(5) Lực tác động của Hóa Kị có tính chiếm hữu, khó hiếu và bất minh. Dưới ảnh hưởng của Hóa Kị, cách biểu đạt tình yêu của mệnh tạo sẽ rất dở. Ví dụ như mệnh tạo nhầm lẫn rằng "đánh là tình, mắng là yêu" mà "đánh thật" "mắng thật"; ngoài ra, mệnh tạo còn không yên tâm về người phối ngẫu, hay ghen tuông. Nhưng nếu so sánh, thì người phối ngẫu cũng khó có tình ý với người khác, mà e rằng họ còn ghen tuông hơn mệnh tạo.
(6) Ý tượng của Hóa Kị không chỉ là "gánh vác", mà còn có hàm ý "hấp thu", "thiếu". Trường hợp có Hóa Kị ở cung phu thê, đối với mệnh tạo, hôn nhân cũng giống như cái hố sâu chứa đầy bất mãn, khó có đối tượng nào làm cho mệnh tạo vừa ý, thỏa mãn hoàn toàn; do đó cuộc sống hôn nhân thường thấy đầy ai oán tình sầu. Cùng vì khó vừa ý, thỏa mãn, nếu ở cung phúc đức có sao đào hoa thì sẽ dễ thấy mệnh tạo tìm cơ hội khác.
(7) Tiếp theo trên, nhưng Hóa Kị ở cung phu thê không nhất định sẽ li hôn, vì Hóa Kị còn có ý tượng "rối rắm", "làm phiền". Lúc tính của sao Hóa Kị không có tính chất "lập tức", "quả đoán", thì giữa hai người sẽ tương tự như tình trạng "mắc nợ nhau"; thường thường là muốn đứt đoạn mà không đứt đoạn, oán nhau nhưng lại không cách nào rời xa nhau. Muốn biết có li hôn hay không, thì phải xem cung phúc đức và cung thiên di.
(8) Do cung phu thê cùng có ý so sánh, trường hợp Hóa Kị ở cung phu thê, thường thường chủ về gia thế hoặc gia cảnh của người phối ngẫu không được tốt cho lắm, phần nhiều gia thế hay gia cảnh của mệnh tạo tốt hơn người phối ngẫu. Đại đa số trường hợp, người phối ngẫu phải gánh vác kinh tế gia đình cha mẹ mình. Ngoài ra, trường hợp Hóa Kị ở cung phu thê, là người phối ngẫu ở cung vị huynh đệ của cung phụ mẫu, thông thường cũng chủ về lúc kết hôn, một người trong song thân của người phối ngẫu rất có thể đã qua đòi.
(9) Trường hợp Hóa Kị ở cung phu thê, là ở "tha cung", sẽ xung kích cung quan lộc, là "ngã cung". Nếu còn ở trong thời kì đi học, thì chuyện bạn bè trai gái sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến ý nguyện học tập của bản thân mệnh tạo, cũng ảnh hưởng đến thành tích học tập và sự thành tựu về học vấn. Hơn nữa, cung quan lộc còn chủ về lành vực tinh thần, một khi bị xung kích, sẽ ảnh hưởng đến trạng thái tâm lí của mệnh tạo, làm cho tâm tình phiên muộn, khiến phẩm chất của cuộc sống kém đi.
(10) Ngoài ra, vì cung quan lộc là cung vị đại biểu cho bản lãnh và địa vị xã hội của bản thân mệnh tạo, cung phu thê có Hóa Kị, là chủ về sau khi kết hôn, sẽ có ảnh hưởng xấu đối với sự nghiệp của mệnh tạo, mệnh tạo cần phai trải qua một lần chịu ảnh hưởng xấu, mới có thể tìm ra hướng đi mới. Hơn nữa, có thể sau khi kết hôn mệnh tạo sẽ thành người làm chủ cả một gia đình.
(11) Nếu bản thân mệnh tạo không sáng suốt, hoặc tâm lí chưa được trưởng thành, cung phu thê có Hóa Kị sẽ khiến mệnh tạo có khuynh hướng muốn người phối ngẫu chịu đựng các mối họa ập đến, cũng có thể mệnh tạo sẽ mang mọi điều không như ý ở bên ngoài trút lên người phối ngẫu, khiến cho cuộc sống hôn nhân mất đi hương vị ngọt ngào của nó.
(12) Cung phu thê là cung vị giao dịch của cung phúc đức, trường hợp Hóa Kị ở cung phu thê, là chủ về bình thường mệnh tạo có những thị hiếu, hứng thú không được lành mạnh, rất có thể sẽ lãng phí quá nhiều thời gian (như suốt đêm không ngủ để vui chơi), hoặc tiêu xài quá nhiều tiền bạc, có lúc không có thời gian để nghi ngơi. Dễ bị tình trạng vui chơi thái quá mà mất hết ý chí phấn đấu.
(Trung Châu Tử Vi - Tứ Hóa Phái- Nguyễn Anh Vũ Dịch, tập 1)


Khi một cung vị không có chính diệu, cần phải mượn sao của đối cung nhập vào bản cung, gọi là "mượn sao an cung". Về điểm này, thông thường các sách Đẩu Số chỉ đề cập sơ qua, nhưng có hai then chốt mà lâu nay không có ai bàn tới.
Khi "mượn sao an cung", ắt cần phải mượn toàn bộ tinh hệ của đối cung để đưa vào bản cung (vô chính diệu), mà không chỉ đưa chính diệu để an cung mà thôi, đây là then chốt thứ nhất.
Ví dụ tinh bàn của một Nam mệnh: cung Phu Thê ở Thìn, vì vô chính diệu có Tử phụ Đà la đồng độ, nên phải mượn tinh hệ của đối cung, đó là cung Quan có Cơ Lương, Hỏa tinh, Hữu bật đồng độ tại cung Tuất, sau khi "mượn sao an cung", kết cấu của cung Phu Thê biến thành Thiên lương, Thiên cơ hóa Kị, Hỏa tinh, Đà la, Tả phụ, Hữu bật.
Nhưng điểm này có quan hệ không lớn, bởi vì tính chất tinh hệ của đối cung vốn đã đủ gây ảnh hưởng đến bản cung. Tức dù không "mượn sao an cung", tính chất tinh hệ của bản cung và đối cung hợp, đại khái cũng giống tính chất sau khi "mượn sao an cung". Nhưng có một then chốt khác, đó là khiến toàn bộ cung Phu Thê phát sinh biến hóa.
Khi tìm "tam phương tứ chính" của một cung vị, nếu cung vị nào đó không có chính diệu tọa thủ, thì cung vị này vẫn phải "mượn sao an cung", sau đó mới hội hợp với bản cung. Đây là then chốt thứ hai. Nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số, vẫn không cách nào luận chuẩn xác, là do không biết then chốt này.
Vẫn từ ví dụ trên, cung Phu thê ở cung Thìn, hội hợp với hai cung Thân – Tý, lại xung hợp với đối cung (Tuất), cấu tạo thành "tam phương tứ chính". Hai cung Thân Tuất đều có chính diệu, không xảy ra vấn đề gì. Nhưng cung Tý chỉ có một sao Văn Khúc, không thuộc nhóm chính diệu, do đó cần phải nhìn đến đối cung của cung Tý là cung Ngọ để "mượn sao an cung", mượn Thiên đồng, Thái âm, Linh tinh, Kình dương.
Tới đây, toàn bộ tinh hệ của cung Phu Thê biến thành Cục: "tứ sát kèm sát", tức là Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, lại có thêm tổ hợp chính diệu Thiên cơ (hóa Kị), Thiên lương, Thiên đồng Thái âm, Thái dương (hóa Khoa), Cự môn. Có thể luận đoán sinh hoạt hôn nhân không được tốt đẹp, tuy không nhất định là phải ly hôn, nhưng có khả năng dị mộng đồng sàng. Thái dương hóa Khoa còn có thêm Cự môn, chủ về vợ chồng giữ gìn thể diện, cho nên du oán trách chồng, nhất định cũng không nói lời chia tay.
Từ ví dụ trên có thể thấy, "mượn sao an cung" là một đại pháp môn trong phép luận đoán Đẩu Số. Nhất là hai then chốt kể trên, điều mà xưa nay cổ nhân xem là "bí pháp", không dễ gì truyền ra ngoài.
Các sao của Thiên bàn và Nhân bàn ảnh hưởng lẫn nhau
Cần chú ý, tính chất của một nhóm tinh hệ, thường thường có thể bị tính chất của một nhóm tinh hệ khác phá hoại, đây gọi là "tinh diệu hỗ hiệp".
Về điểm này có thể đơn cử một ví dụ thực tế để chứng minh:
Nữ sinh trung học, sinh năm Giáp Tý 1994 tham dự cuộc thi Trung học, mệnh tại Tý có tinh hệ "Thiên phủ Vũ khúc", Linh tinh, Hàm trì, Đại hao đồng độ tọa thủ, hiên đang ở Đại vận Quý Mão.
Chiếu theo Lưu niên của năm Giáp Tý, cung mệnh ở Tý có "Thiên Phủ Vũ khúc", hơn nữa còn có Vũ khúc hóa Khoa năm Giáp, ở hai cung Thân và Ngọ, hội hợp Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, lại có thêm Lộc tồn của cung Ngọ trùng điệp với lưu Lộc của Đại vận ở bản cung. Đây là cách Lộc tinh và Văn tinh hội hợp, tạo thành cách phối cục là "Lộc Văn củng mệnh". Theo phép luận đoán thông thường, cuộc thi năm nay sẽ không thất bại.
Ở đây cần chú ý "cung Mệnh của lưu niên" (cung Tý), có hai tạp diệu Hàm Trì và Đại Hao, chúng cùng đồng độ ở một cung, sức mạnh khá lớn, chủ về tình cảm nam nữ mang lại tình cảm không tốt.
Lúc này, cần phải kiểm tra "cung Phúc đức của lưu niên" của cô gái này (tức nguyên tắc đồng thời xem xét cung mệnh và cung phúc đức). Cung này ở cung Dần có Tham Lang độc tọa, nhưng đang ở Đại hạn can Quý nên Tham lang hóa Kị; đối nhau với Liêm trinh, cũng đối nhau xa xa với Hồng loan (cung Thân).
Lại thấy cung Dần hội hợp với các sao phụ tá ở hai cung Thân và Ngọ, là Tử phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, có thể nói là "đào hoa" tụ về cung Phúc đức.
Trong tình hình này, Vương Đình chi tôi luận đoán, cô nữ sinh này tuy thành tích học tập không tệ, nhưng đáng tiếc là năm đó đã rơi vào tình huống yên đương, vì vậy ảnh hưởng đến thành tích thi cử. Cô nữ sinh này cũng vì thi cử thất bại nên mới tìm đến tôi (VĐC)
Thông qua thí dụ này có thể biết, chỉ vì "cung mệnh của lưu niên" xuất hiện các tạp diệu Hàm trì, Đại hao, khiến cho tính chất của tinh hệ "Lộc Văn củng mệnh" phát sinh biến hóa. Đây là một ví dụ tốt về nguyên tắc: "các sao ảnh hưởng lẫn nhau".
(Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái - Nguyễn Anh Vũ biên soạn, tập 1)


Người đời có nhiều mơ ước. Lúc còn nhỏ ước mong học giỏi đậu cao, lớn lên mộng tưởng quyền cao chức lớn, lắm bạc nhiều tiền là ba chữ Khoa Quyền Lộc với cuộc thế nhân sinh.
Lúc đầu học số có thể nói đa số sợ Thái tuế và ham mê Khoa, Quyền, Lộc. Cho tam hoá là bùa hộ mạng đem lại tất cả những gì hãnh diện cho đời. Thật thế ngay 3 cái tên đọc lên cũng đã đủ nghĩa lắm rồi.
Hoá là thay đổi sinh sản như đã có câu “Hoá công sao khéo phũ phàng” có ý trách khéo thợ Trời diễn biến ác nghiệt làm chi. Hoá khoa, Quyền, Lộc là lớp lang đưa đến cho người đời cảnh mão áo quyền uy giàu có. Nhưng tam Hoá đâu có phải là khả năng tư cách nghị lực của cá nhân nâng cao phẩm giá, chỉ là cái áo rực rỡ lần lượt khoác vào để đóng vai trò nào thôi. Hẳn đó không phải là thầy tu chính xác.
Bộ 3 này riêng Hoá khoa có một giá trị lướt hơn cả là màn đầu đưa dến Quyền, Lộc. Khoa chủ nhân hậu uyên bác đặc biệt là từ thiện giải trừ tai hoạ. Nữ mệnh đắc Khoa là tối quý, dầu gặp ác sát cũng vẫn dự phần phẩm cách.
Xã hội nhân sinh có bốn hạng người: Người Thái tuế, Quan phù Bạch hổ là người nghĩ đến phận sự của mình như có trách nhiệm phải làm. Một khi đã nhúng tay là phải làm sao cho xứng đáng tư cách nhân phẩm, đâu có cần phải Khoa, Quyền, Lộc, nếu có chỉ là gấm thêu hoa. Một chiếc cẩm bào tứ linh, Long, Phượng, Hổ, Cái cũng quá đẹp rực rỡ hơn đời. Riêng người Bạch hổ mang danh nghĩa khí, không còn để ý đến quyền lộc riêng tư, một khi gánh vác những điều làm chánh nghĩa thì ham mê với bất cứ giá nào (Lê Thái Tổ và Sở Vương Hàn Tín).
Người Thiếu âm, Long đức,Trực phù là người có thiện chí làm việc tiếc rằng phận hẩm duyên hiu, luôn luôn bị đời bạc đãi, dẫu có Khoa, Quyền, Lộc chỉ càng thêm đau đớn. Hai hạng này là người trước đáng trọng, người sau đáng mến.
Hạng Tuế phá là người bị hoàn cảnh làm cho vụng suy thất ý. Nếu không giữ được chính tâm và thêm Khoa, Quyền, Lộc quyến rũ rất dễ làm những việc bạo nghịch để vinh thân rồi ra ngàn năm lưu xú ố danh. Khá thương cho người Điếu khách ra công thuyết phục phân trần lẽ phải cách mấy cũng không  đem lại gì khác hơn tình cảnh hiện tại.
Người Tang môn thường thường có khóc mướn thương vay bao nhiêu cũng vẫn là nước chảy ra sông. Trường hợp được Khoa thêm Tả Hữu thành danh đáng kính vì tính tình nhân hậu; đặc biệt khả năng uyên bác, dầu dược Mã đồng tình phò trợ cũng vẫn hữu công vô lao, họa chăng được chút danh thơm hậu thế (Khổng tử).
Người Thiếu Dương, Tử phù, Phúc đức được tư chất thiên phú thông minh nhạy cảm hơn đời, đừng tự hào mê ham tục luỵ, Hoàn cành này chữ  “Đức” đáng trọng bằng ba chữ Tài. Ngẫm ra cuộc đời chỉ là con số “KHÔNG” trống rỗng quá lớn!
Khoa Quyền, Lộc ở với 2 hạng này có khác gì bùa mê thuốc lú làm cho người say đắm bả vinh hoa, lầm lạc mùi  phú quí. Vung tay quá trớn, một khi hối cải thì việc đã rồi.
Nói đến Khoa, Quyền, Lộc không lẽ không phác qua đến một đặc phái em út trong giòng họ Hoá là Hoá kỵ. Người đời mến chuộng Khoa Quyền Lôc bao nhiêu, trái lại Hoá kỵ làm cho ai ai thảy đều muốn xa lánh, nhất là những người tuổi có hàng can Bính, Đinh hay Hoả mệnh. Hoá kỵ núp sau hình tượng của Liêm trinh và Cự môn mà gây hoạ.
Được liệt kê vào hàng ngũ sát tinh cùng bè lũ Không,Kiếp, Kình Đà Linh Hoả cũng như Thiên Hình ám hại cho mộc mệnh và giòng họ Giáp Ất, ngoài ra Hoá kỵ chỉ có tính cách suy giảm những gì tốt đẹp, vì chữ Kỵ chỉ có nghĩa ghen tuông, hờn giận phá hại. Đặc biệt nữ mệnh đắc Khoa tốt đẹp bao nhiêu, một khi vướng phải Kỵ khác gì gấm vóc bị vấy bùn đen nên cổ nhân đã gọi hoá Kỵ là sao Kế Đô của phái yếu.
Dầu sao cũng là giòng họ Hoá, ba nghành trên đã bồi dưỡng sự nghiệp công ích khá lớn  với đời, không lẽ nghành út lại quá tồi tệ không được điểm nào mua chuộc lỗi lầm bấy lây hư thân mất nết. Trường hợp không thể tưởng tượng nổi Hoá Kỵ đứng chụm cùng nghành trưởng Hoá khoa nơi đắc địa Tí cung đắc Thiên lương hội chiếu được chúng nhân trọng vọng quân dân ái mộ. Hội với Liêm Tham ở Tỵ hợp cách phải là người Hoả mệnh, hoặc Liêm Tham ở Hợi phải là người Kim mệnh, Hoá kỵ căn phân được hung hãn phi thường. Trái lại người Kim mệnh ở Tỵ hoặc người Hoả mệnh ở Hợi, Liêm Tham hội Hoá Kỵ, lao ngục đã mở rộng sẵn sàng rước thân chủ.
Đây chỉ là một cách chế hoá của ngũ hành, căn phân được thì tốt, lệch lạc sẽ thành hung.
Cụ Phan Bội Châu tuổi Đinh Mão sinh ngày 11 tháng 5 giờ Sửu, Cự môn Hoá Kỵ thủ mệnh ở Tỵ là cả một kiếp nhân sinh được tạo hoá căn phân cho mạng sống để mà nặng lo (Tang môn) việc đời..Cái THÂN đáng trọng ở vị trí Quan Phù ngôi vị của người trước sau tính toán kỹ càng mới ra tay lãnh nhiệm vụ. Một Thiên Lương gồm đủ Khôi, Việt, Xương Khúc Khoa Quyền Lộc mà nhất quyết rũ áo từ bỏ cái mộng khanh tướng lao đầu vào công việc quá khó khăn kêu dân cứu nước. Cự môn, Thiên hình, Hoá kỵ là tất cả những gì gần đất xa trời tù đày hình phạt. Khôi Việt phục lực Thiên Lương sao bằng mọi sự xung sát với thế căn phân của mệnh Hoả ở Tỵ cung đụng nhầm Cự môn Hoá Kỵ.
Đành rằng Quyền ngộ Phá, Lộc bị Triệt, nhưng phải là THÂN Quan Phù mới dứt khoát từ bỏ bả vinh hoa Quyền Lộc để hãnh diện với Long Phượng Hổ Cái danh thơm muôn thuở. Khoa chỉ là phương tiện để Cụ dễ làm việc
Phân tách kỹ lưỡng 3 chữ Khoa Quyền Lộc, trưởng đoàn hiển nhiên là Khoa rất xứng đáng và địa vị khiêm nhường nhất phải là Quyền.
Khoa, ngoài tính tình nhân hậu, có một khả năng đánh giá mới chiếm được bảng vàng giữa chốn trường quy. Tài năng này khổ công rèn luyện mới có là điều quý trọng, huống chi còn tiềm tàng sâu rộng “ đức”cứu khốn trợ nguy.
Quyền chỉ là sự may đạt được. Nếu vụng tính sẽ sinh kiêu, rồi vì lòng tự ái có thể đem đến kết quả việc làm ác nghiệp thì đâu phải chiếm được địa vị chắc chắn lên trên “Lộc”.
Số phải chăng là bản dự thảo một cuộc sống đã được sắp đặt gọi là định mệnh, mà THÂN kia đã dự một phần nào sửa chữa nên mới có “Đức năng thắng số”.
(Tử vi nghiệm lý toàn thư - tác giả Thiên Lương)


Bản Mệnh và cung An mệnh, thế nào là cường cung?
Như bài trước đã nói mỗi lá số Tử vi được chia làm 12 cung và mỗi cung lại vừa là Âm hoặc Dương thuộc một trong 5 hành Kim, Mộc, thủy, Hỏa và Thổ. Mỗi cung lại còn chia ra là CƯỜNG, NHƯỢC khác nhau, tùy theo lần này là PHƯƠNG HƯỚNG chứ không như ở đoạn I. Tùy theo lé Chính danh Chính vị. Lại cách chia"cường nhược"này cũng không dựa vào sự quan trọng về ý nghĩa của mỗi cung như ngôn ngữ thôngg thường vẫn nói là"về phụ nữ, cung mệnh cung Phúc đức, cung Phu và cung Tử được coi là CƯỜNG CUNG, tức là cung quan trọng mà về nam giới nhiều nhà nghiên cứu lại chủ trương rằng cung Nô bộc là quan trọng nhất, sau cung Mệnh Thân và Quan lộc.
Nay nếu theo phương hướng thì trên lá số Tử vi cung ngọ và cung Tý được gọi là cường cung với ảnh hưởng như sau:
- Mệnh đóng tại đó đã tốt nếu có các sao đắc địa càng tốt hơn thêm nếu có xấu thì cũng bớt xấu. Nhưng câu phú dạy:"Mệnh tọa cường cung tu sat chế, hóa chi lý". Tức là dù mệnh có đóng tại cung Tý hay Ngọ chẳng hạn, ta cũng phải xét xem sao Chính diệu tọa thủ ở đó chế hoa (thay đổi thêm bớt) thế nào so với cung an Mệnh. Tức là phải xét hai vấn đề.
- Thứ nhất là xem ảnh hưởng 20 sao Chính diệu ra sao đối với hai Cường Cung Tý và Ngọ?
Tỉ như sao Chính diệu là sao Tử vi: sao này ở Ngọ thì thật là tốt rồi, vì cung Ngọ thuộc Hỏa, sanh ra Thổ là hành mà Chính diệu Tử vi. Nhưng nếu sao Tử vi mà đóng tại cung Tý thì tuy là cường cung nhưng vì cung Tý là cung Thủy, mà Thủy khắc Thổ của Tử vi nên cái tốt giảm đi nhiều lắm.
- Xin độc giả thử đoán xem người nữ nhân tuổi Giáp Tý, sanh tháng 6 ngày 23 giờ Mùi, có sao Tử vi cư Tiys tốt đến thé nào vì bà ta Mệnh thuộc hành Kim mà Kim Thủy tương sanh) và xấu ra sao?
Sau khi trình bày các sách cổ đều dùng chữ Cường Cung để nơi hai cung TÝ Ngọ chưa thấy sách gọi hai cung Mão Dậu là"Nhược cung"mà chỉ nơi tới cung Thìn Tuất Sửu Mùi là Trung ương, thuộc hành Thổ, có khi tốt cũng có khi xấu, và 4 cung Dần Than Tị Hợi thì có khi gọi là Tứ sịnh có khi gọi là Tứ tuyệt. Tôi thú thật là không biết gọi thế là theo địa bàn Tiên Thiên bát Quái hay là theo vòng Tràng sinh?
- Khi có Tràng sinh đóng thì gọi là Tứ sinh khi có Tuyệt đóng thì gọi là Tứ Tuyệt.
Kết quả là có khi cho là tốt, nếu mệnh đóng ở đó có khi cho là xấu. Còn Mão Dậu hai cung này thật là tội, sao Thiên Tướng chỉ ham địa chờ đóng ở cung Dậu mà đắc địa hay (hay Bình hòa) khi đóng ở cung Mão, và nhiều sách, có sách này bảo là đắc địa sách kia nói là hãm địa, khi một chính diệu đóng tại hai cung đó.
Vì nhiều sự mơ hồ như thế nên đôi khi người nghiên cứu không còn chú trọng đến Miếu Vượng Hãm nữa mà chỉ đoán số theo toàn thể các sao.
Tôi nói thế vì học giả Phạm Quỳnh tuy có sao Thái Dương cư Hợi thủ Mệnh (hãm địa) mà văn hay chữ tốt, một bước Thượng Thư rồi.
- Đinhh chung gần gũi cái ngai vàng xem thế chẳng cần có Nhật Nguyệt tịnh minh như Khổng minh mà học giả Phạm Quỳnh cũng"Tả cửu trùng ư Nguyệt diệu"
Và cũng vì thế mà tôi có ý kiến là sở dĩ cung Thìn, Tuất, Sửu Mùi được coi là tốt là"Cường"vì ngoài việc tuổi Thìn mà mệnh đóng tại la Võng thì xấu, tôi thấy Mệnh đóng tại Thìn Tuất Sửu Mùi tốt sẵn vì hay được giáp Tả Hữu Khôi Việt hoặc có Âm Dương Tả hữu đồng cung. Mẹo Dậu xấu vì hay bị Kình Dương hãm ở đó nếu tuổi Giáp tuỏi Canh hay và Mệnh tại Dần Thân Tị Hợi hay bị Đại Tiểu hao và Kiếp sát đóng nên xấu. Xấu rồi nhiều thì cũng tốt, nếu là tuổi Giáp Mậu, Bính, Canh !
Lại nữa hay cung Tỵ Hợi xem ra là hai cung"nhược"nhất trong 12 cung, trong lá số, vì thường là nơi"trú ngụ"của tú tinh là Liêm trinh và dâm tinh là Tham Lang và Phá Quân.
Nhưng ở đây Trần Đoàn đã có nghĩ ra cái"chế hóa"để làm giảm bớt cái không hay của hai sao Liêm Tham chẳng hạn.
TRƯỜNG HỢP CHẾ HÓA:
Trái với trường hợp chính tinh miếu địa và đắc địa đôi khi chính tinh lại đóng tại các cung xấu gọi là hãm địa, như khi Liêm trinh Tham lang đóng ở Tị Hợi,
"Liêm, Tham, Tị, Hợi hình ngục nan đào"hai chính tinh này đóng ở Tị Hợi thì khó mà tránh được phải tù tội"
Tuy nhiên nhờ luật Ngũ hành sinh khắc và chế hóa, sự ngục tù có thể tránh được nếu.
a/ Tham Liêm đóng tại Hợi mà bản Mệnh thuộc hành KIM THÌ TỐT, với điều kiện có Hóa Kỵ cùng đóng tại cung an Mệnh: Hóa Kỵ là Thủy khắc Liêm là Hỏa nhưng tuổi Kim đong ở cung Thủy là tốt được sự sinh.
b/ Tham Liêm đóng tại cung Tị mà bản Mệnh thuộc hành Hỏa ngộ Hóa kỵ lại tốt vì tuy Hóa Kỵ (thủy) khắc Liêm (Hỏa) nhưng Mệnh đóng ở cung Hỏa không sao có chế hóa.
(Với hai trường hợp này lại thấy Mệnh đóng ở sinh địa là quan trọng nhất)
Tôi xin thưa thật rằng tôi đã chép lại 2 trường hợp này trong quyển Tự điển Tử vi của tác giả Đắc Lộc do nhà xuất bản Phúc Thắng xuất bản tại Hanoi vào năm 1952.
Tôi chỉ gặp trường hợp:
- Bính Thân tháng 2 ngày 18 giờ Thìn (dương nam) với Tham Liêm ở Hợi mà mệnh Hỏa, ngộ Hóa Kỵ.
- Quý Dậu, tháng 4 ngày 12 giờ ngọ (nữ)
Tôi xin quý vị đương nghiên cứu học hỏi về khoa Tử vi thử đóan xem hai lá số trên đây ra sao. Thực tập như thế, quý vị sẽ tiến bộ trông thấy và sẽ rất lấy làm vui mừng được biết khả năng của quý vị khi tôi nói rõ đó là số của ai.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.