bài viết trong chuyên mục "câu chuyện phong thủy"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn câu chuyện phong thủy. Hiển thị tất cả bài đăng

Những nguyên tắc cơ bản cấu thành hệ thống phong thủy

Ai cũng biết phong thủy có ảnh hưởng thế nào tới cuộc sống. Nhưng ít ai biết những nguyên tắc cấu thành nên nó, để từ đó có được những biện pháp thích ứng tối ưu, giúp cuộc sống thêm tươi đẹp, thư thái.

 


1. Nguyên tắc hệ thống tổng thể
 
Quan điểm lý luận phong thủy là một hệ thống tổng thể. Hệ thống này lấy người làm trung tâm, bao gồm trời đất vạn vật. Các yếu tố trong hệ thống có mối tương quan, hỗ trợ cùng tồn tại, cùng nương tựa vào nhau, cùng đối lập, cùng chuyển hóa… 
 
Chức năng của phong thủy học chính là nắm bắt được mối tương quan giữa các hệ thống vĩ mô, ưu việt hóa kết cấu để tìm ra được tổ hợp tốt nhất.
 
Nhung nguyen tac co ban cau thanh he thong phong thuy hinh anh
 
2. Nguyên tắc “Nhập gia tùy tục”
 
“Nhập gia tùy tục” ý chỉ vận dụng sao cho phù hợp, căn cứ vào tính khách quan của môi trường để lựa chọn phương thức sống theo lẽ tự nhiên. Căn cứ vào tình hình thực tế để áp dụng cách thức phù hợp, sao cho cả người và vạn vật đều thuận lẽ tự nhiên, trở về tự nhiên, trở về với bản chất thực, thiên nhân hòa làm một. Đây chính là chân lý của phong thủy học.
 
3. Nguyên tắc “Gối sơn đạp thủy”
 
“Gối sơn đạp thủy” là một trong những nguyên tắc cơ bản của phong thủy. Sơn thể là khung xương của mặt đất. Thủy vực là cội nguồn của sự sống của vạn vật, không có nước, con người cũng không thể tồn tại. Địa thế mà phía sau tựa núi, phía trước hướng thủy được coi là đắc địa, cát tường trong phong thủy.
 
4. Nguyên tắc quan sát hình thế
 
Hệ thống phong thủy học, quan sát hình và thế, xem xét từ hình thế lớn tới nhỏ, phán đoán những yếu tố ảnh hưởng như nguồn nước, khí hậu, khoáng sản, địa chất… đều có thể đoán biết phần nào sự hung cát về mặt phong thủy. Chỉ có hình thế tốt thì trạch địa mới cát lành, mới tạo ra nguồn năng lượng phong thủy tích cực. 
 
5. Nguyên tắc kiểm nghiệm địa chất
 
Quan điểm phong thủy đặc biệt coi trọng về địa chất vì cho rằng địa chất quyết định thể chất. Con người sinh sống ở nơi có phong thủy tốt ắt sức khỏe và tài lộc được bình an, yên ổn.
6. Nguyên tắc phân tích thủy chất
 
Mỗi vùng đất khác nhau thì  nguồn nước cũng chứa những nguyên tố vi lượng và hợp chất khác nhau, có loại gây bệnh nhưng có cũng loại chữa được bệnh. 
 
Nước lại là nguồn sống của vạn vật. Vậy nên, việc phân tích và xem xét thủy chất (chất lượng nước) cũng là một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc lựa chọn nơi sinh sống phù hợp, tốt về phong thủy.
 
7. Nguyên tắc “Tọa Bắc hướng Nam”
 
Địa thế đất, nhà ở tọa Bắc hướng Nam là một trong những nguyên tắc lý luận phong thủy truyền thống. Người xưa coi Bắc là âm, Nam là dương, nơi có phong thủy tốt là phải hòa hợp về âm dương. 
 
Hướng Nam lại có nhiều thảo mộc sinh sôi, dương khí đầy đủ, được coi là hướng mang tới nguồn khí mát mẻ và sự thịnh vượng. 
 
Nhung nguyen tac co ban cau thanh he thong phong thuy hinh anh
 
8. Nguyên tắc cân bằng trung tâm
 
Chọn thế đất, nhà ở phải chọn nơi cân xứng, không thiên lệch, không to không nhỏ, không cao không thấp… sẽ thu hút được nguồn năng lượng phong thủy tích cực, mang tới nhiều cát lành.
 
9. Nguyên tắc “Thuận thừa sinh khí”
 
Khí là căn nguyên của vạn vật, là hình thái biểu hiện của sự sống. Ngũ hành cũng được sinh ra từ nguồn khí, con người có nguồn sinh khí, cỏ cây sống được nhờ sinh khí… tất cả có khí thì sinh, vô khí thì tử. 
 
10. Nguyên tắc cải tạo phong thủy
 
Mục đích con người nhận biết được thế giới là để cải tạo thế giới, nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. 
 
Chỉ khi cải tạo được môi trường, con người mới thực sự được sinh sống trong điều kiện tốt nhất. Cải tạo phong thủy cũng chính là tạo ra những nguồn năng lượng tốt, giúp cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp hơn.
tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829

Chọn giấy dán tường hợp phong thủy để tiền vào đầy hũ

Ngày nay, việc sử dụng giấy dán tường nghệ thuật để thay thế cho sơn tường trong ngôi nhà đã trở nên phổ biến. Nó không chỉ tô điểm cho không gian tươi đẹp, mà quan trọng hơn còn góp phần thúc đẩy các yếu tố phong thủy tốt, thúc đẩy tài lộc cũng như gia vận của chủ nhà.




Tuy nhiên, việc chọn giấy dán tường thế nào cho hợp phong thủy lại là điều mà không phải ai cũng nắm rõ. Nếu làm sai sẽ gây phản tác dụng, tiền tài chẳng thể vào nhà bạn.

1. Nên chọn giấy dán tường sáng màu ở phòng khách

Theo phong thủy nhà ở, phòng khách chính là trung tâm của ngôi nhà, là nơi mọi thành viên trong gia đình tụ họp, trò chuyện, vui chơi. Đồng thời, đây cũng là “mặt tiền” của chủ nhà, thể hiện sự thành đạt trong sự nghiệp, phong cách sống của chủ nhân.

Chon giay dan tuong phong thuy de tien vao day hu hinh anh
 
Electrolux TẾT 2021
electrolux.vn
Tìm Hiểu Thêm
Vì thế, nên chọn loại giấy dán tường phong thủy có gam màu sáng, bắt mắt như vàng, xanh lá... mang tới cảm giác sôi nổi nhưng vẫn không kém phần cá tính và sang trọng. Theo đó gia tăng sự tự tin của gia chủ, giúp các mối quan hệ trong nhà thêm tốt đẹp.

2.. Phòng bếp thích hợp dùng giấy dán tường gam màu ấm


Trong ngôi nhà, phòng bếp thuộc hành Thổ. Vì thế, khi chọn giấy dán tường nên chọn loại có gam màu ấm như vàng, cam, kị màu xanh dương. Vì xanh dương thuộc hành Thủy, Thủy Thổ tương khắc.

Chon giay dan tuong phong thuy de tien vao day hu hinh anh 2
 
Ngoài yếu tố về phong thủy, những loại giấy dán tường có màu sáng, ấm sẽ tăng cảm hứng ăn uống, giúp bữa ăn gia đình bạn càng đầm ấm, vui vẻ.

3. Giấy dán tường có gam màu trầm, nhẹ nhàng phù hợp với phòng ngủ

Chon giay dan tuong phong thuy de tien vao day hu hinh anh 3
 
Phòng ngủ là nơi để nghỉ ngơi, thư giãn sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng. Vì thế, bạn có thể lựa chọn loại giấy dán tường có tông màu trầm nhẹ, tạo cảm giác thư thái như be, tím nhạt, xanh lá... Từ đó, chất lượng giấc ngủ của bạn sẽ được cải thiện đáng kể.

Nhưng lưu ý, không nên sử dụng quá nhiều gam màu hồng phấn trong phòng ngủ, bởi sẽ hút đào hoa sát, ảnh hưởng tình cảm vợ chồng. Nên tham khảo thêm những yếu tố ngũ hành tương sinh tương khắc để có thể lựa chọn màu giấy dán tường tốt cho gia chủ nhất.
tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829

Nhất định phải dọn sạch sẽ vị trí này hút ngay tài lộc trong phút chốc

Vì bạn không biết rằng việc dọn sạch sẽ vị trí này hút ngay tài lộc nên bạn cứ mải mê đi tìm may mắn, cơ hội ở đâu đó mà quên những việc nhỏ nhưng có võ sau, vô cùng thiết thực sau đây.
Thay vì cố gắng mua thêm đồ để trang trí cho nhà thêm đẹp, thêm lung linh thì việc bạn cần làm nhất đó là dọn dẹp sạch sẽ các khu vực trong nhà. Bạn chỉ cảm thấy yêu đời, vui vẻ hơn khi nhà cửa thông thoáng, sạch sẽ và điều đó cải thiện mối quan hệ cũng như giúp bạn tập trung, có thời gian phát huy khả năng của mình trong công việc.

Sau đây là một số lưu ý nhỏ mà bạn vô tình bỏ quên vì cho rằng việc này không quá quan trọng bằng đống việc bạn đang cần xử lý ở công ty. Thế nhưng chỉ bằng một bước thay đổi nho nhỏ bằng việc dọn nhà thì công việc của bạn cũng bất ngờ hanh thông đấy nhé.
 
don sach nha cua
 

1. Lối vào

 
Ai cũng biết vị trí nối vào kết nối cửa và nhà là quan trọng nhất nhưng không ít gia đình vì tiện nên để rác ngay ngoài cửa để dễ dọn dẹp. Bạn không biết rằng đang phạm sai lầm ảnh hưởng tới tiền bạc của gia đình vì vận may chủ yếu đến từ cửa. Ngay khi bạn để một món đồ nào đó không phù hợp ở cửa có nghĩa là bạn đã chặn đường tiến của tài lộc, không cho hoặc hạn chế chúng vào nhà bạn.

Nên nhớ rằng, nếu mở cửa ra và có một hiên nhà sạch sẽ, vận may và tài lộc sẽ đến với gia đình. Vì thế, ngay lập tức dọn sạch lối đi vào nhà bạn đi nhé.

Xem thêm: Dọn dẹp nhà cửa đón năm mới để chào đón Thần Tài gõ cửa
 
Bên cạnh đó, hãy chú ý đến cánh cửa chính của ngôi nhà. Cánh cửa phải được mở rộng và rộng hết cỡ khi cần thiết mà không vị vướng bởi bất kì vật cản gì. Bản lề cửa không được kêu cót két, thường xuyên lau sạch kính cửa (nếu có) và sơn cửa phải còn nguyên không bong tróc, luôn mới.

Bạn cần chú trọng tới ngôi nhà của mình bởi khi cửa chính được lắp đặt lâu mà không bị bạc màu, bong sơn, thì đó là ngôi nhà phong thủy rất tốt. Chính vì vậy, bạn không nên để cửa nhà mình bị hỏng, hoặc lệch khiến cho tài lộc trong nhà bị hao hụt.
 

2. Khu vực tiền bạc

 
Khu vực Đông Nam của ngôi nhà là một nơi thịnh vượng thích hợp đặt một chiếc bàn thờ nhỏ. Trên bàn thờ nên đặt một số đồng tiền và nến để tăng cường vận may.
 
Ngoài ra, bạn có thể xem xét đến việc đặt một bể cá cảnh trong khu vực giàu có này hoặc đặt chậu hoa violet màu đỏ hoặc tím để tăng thêm phần giàu có.
 

3. Bếp

 
Chúng ta thường có thói quen treo các vật dụng sắc nhọn trên tường như dao, kéo,... thế nhưng đó là những vật không hề tốt cho phong thủy nhà ở nếu cứ để phơi ra như thế. Chúng vô tình trở thành những sát khí, khiến vận khí trong nhà xấu đi, các thành viên dễ nảy sinh cãi cọ, mâu thuẫn.

Vì thế, hãy tìm một bộ dụng cụ để các đồ dao, kéo này hợp lý, có thể che đầu nhọn của chúng đi hoặc để khuất ở đâu đó, khi cần bạn chỉ kéo lấy ra là được.

Xem thêm: 6 lỗi đại kị trong phong thủy nhà bếp gây hao tài phá lộc

Ngoài ra, bếp là góc tiền bạc, nơi bạn nấu ăn, chuẩn bị đồ ăn cho cả nhà. Vì thế, bếp được xem là một vị trí nắm giữ tài chính quan trọng trong gia đình. Bạn nấu ăn ở đây trong một thời gian dài, có nghĩa là có nguồn thực phẩm dồi dào. 

Nếu nhà bếp không được giữ sạch sẽ, thần tài sẽ dần dần rời khỏi đây và vận may sẽ biến mất. Không chỉ vậy, nhà bếp sạch sẽ sẽ khơi dậy sự thèm ăn của mọi người, giữ cho thực phẩm sạch và tốt cho sức khỏe.
Advertisement: 1:52

Nếu đã biết dọn sạch sẽ vị trí này hút ngay tài lộc thì ngay lập tức từ hôm nay cố gắng giữ cho bếp luôn sạch bạn nhé, đừng vì lười mà ăn xong không muốn dọn rửa, để mặc mọi thứ qua ngày này tới ngày khác không muốn dọn. Lúc đó đừng hỏi vì sao công việc khi nào cũng cảm thấy bế tắc.

Nên nhớ, tài và lộc luôn đi cùng với nhau và hễ có tài thì có lộc, có tài ắt lộc sẽ đến. Trong đó, “tài” lại bắt nguồn và được vun đắp từ những món ngon trong gian bếp của mẹ. Điều này đã được dân gian đúc kết qua câu nói “ăn vóc học hay”. Một gian bếp được bài trí hợp phong thủy sẽ thắp lửa tài lộc cho gia chủ, đồng thời giúp các thành viên sức khỏe dồi dào để lao động và tích lũy tài trí.
 
lau don bep sach se de don tai loc
 

4. Nhà vệ sinh

 
Nhà vệ sinh cũng phải luôn được giữ sạch sẽ trong nhà. Đó là nơi tập trung nhiều độ ẩm nhất trong nhà, làm sạch nó có thể giúp sự thông thoáng được lâu dài, mọi người sống tốt hơn.
 
Hơn thế nữa, bất kỳ gia đình nào cũng xây dựng nhà vệ sinh kết nối với phòng khác. Nhà vệ sinh bẩn có nghĩa bạn sẽ hấp thụ nhiều vi trùng, bị may mắn, tài lộc bỏ rơi và sự giàu có sẽ dần biến mất.
 

5. Phòng ngủ


Nhiều người nhất là đang độc thân thường cho rằng phòng ngủ là thế giới riêng của mình nên có thể thoải mái để mọi thứ bừa bộn.

Thế nhưng, nếu bạn muốn thay đổi vận khí theo chiều hướng tích cực thì nên sớm thay đổi suy nghĩ này đi nhé. Đừng quên dọn dẹp giường ngủ cho thật gọn gàng sau khi thức giấc và tốt hơn hết giặt chăn chiếu thường xuyên để đảm bảo ga gối và mọi thứ luôn thơm tho, sạch sẽ.

Thử tưởng tượng xem nếu giường vừa thơm vừa sạch, mang lại cho bạn giấc ngủ ngon thì sức khỏe sẽ được cải thiện, làm việc tỉnh táo, sáng suốt, công việc nhờ đó sẽ hành thông thì tài lộc đã về nhà bạn từ bao giờ mà bạn không hay đấy thôi.

Tuy nhiên, nên nhớ rằng bạn chỉ nên lau dọn giường ngủ sạch sẽ, tuyệt đối không xê dịch giường nhất là đầu giường.

Như đã nói ở trên, phong thủy tốt yêu cầu mọi thứ phải sạch sẽ và gọn gàng. Vì thế hãy lên kế hoạch làm vệ sinh sạch sẽ cho toàn ngôi nhà.
 
Vứt đi tất cả những gì trong nhà mà bạn không cần dùng đến nữa sau đó sắp xếp đồ vật thật ngăn nắp. Nhà cửa lộn xộn chính là yếu tố ngăn chặn dòng năng lượng tích cực chảy vào trong nhà của bạn.
tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829

1. LONG MẠCH

Long mạch được tạo nên do sự vận hành của âm dương, thiên địa, ngũ hành, can chi, bát quái đầy vẻ huyền bí nhưng các nhà phong thủy nhìn qua có thể biết được đất nào là đất long mạch? Long mạch loại đại địa cuộc cao quý đứng đầu địa linh được chia ra can long (thân), chi long (cành), cước long (nhánh)...

Can long: đất đế vương, đất kinh sư (nơi đóng đô).
Chi long: đất lập tỉnh, phủ lỵ.
Cước long: đất lập huyện, quận lỵ. Đại can long có hình thế khúc chiết vững vàng là yếu tố tiên quyết để lập quốc, hình thành một quốc gia.

Long mạch tạo nên sự vận hành của khí, tương quan với trời, đất, chòm sao, địa hình... Khí có chỗ bế, chỗ mở, chỗ phát tán, nơi ngưng tụ, có khi hung, khi kiết, biến đổi tùy thời. Long mạch là địa linh, đại can long là cực địa linh, muốn gắn bó lâu dài với nó phải lấy nhân nghĩa làm nền tảng bởi "Đức trọng quỷ thần kinh". Nếu chỉ biết bạo lực, hung tàn, đàn áp và khủng bố thì sợ e không bền bởi: "Thiện tất thọ lão, ác tất tảo vong".

Sau đây chúng tôi xin ghi lại đôi nét lịch sử qua các triều đại, để chúng ta có thể nhìn thấy quy luật lịch sử rất công bằng đã và đang vận hành chi phối mọi sự tồn vong của các triều đại mà không hề miễn trừ bất cứ một triều đại nào.

2. ĐÔI NÉT LỊCH SỬ QUA CÁC TRIỀU ĐẠI:

Nhà Hồng Bàng: (2879 TTL-258 TTL): 2621 năm 20 đời vua:
Lộc Tục Kinh Dương Vương cháu 4 đời Vua Thần Nông làm vua nước Xích Quỷ, truyền ngôi cho con là Sùng Lãm Lạc Long Quân. Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên bây giờ, truyền ngôi được 18 đời. Họ Hồng Bàng bắt đầu từ vua Kinh Dương Vương đến vua Hùng Vương thứ 18 gồm 20 đời kéo dài 2.621 năm. Như vậy 18 đời Vua Hùng Vương nước Văn Lang đóng đô ở Phong Châu phải có ít nhất 2.000 năm? Một con số huyền sử không xác thực, nhưng ý nghĩa mà huyền sử muốn nói là nguồn gốc Rồng Tiên cao quý của dân tộc, thời đại lập quốc của nước Văn Lang thái bình thịnh trị qua hàng nghìn năm và kinh đô Phong Châu là một đại can long, đại long mạch.

Nhà Thục (257 TTL-207 TTL) 50 năm 1 vua 1 đời:
Thục Phán An Dương Vương đặt tên nước là Âu Lạc đóng đô ở Phong Khê (thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An, Bắc Việt) hiện còn dấu tích thành Cổ Loa.

Nhà Triệu (207 TTL-111 TTL) 96 năm 5 vua 5 đời:
Triệu Đà Triệu Vũ Vương đặt tên nước là Nam Việt đóng đô tại Phiêng Ngung trên bờ Tây Giang gần Quảng Châu, Trung Hoa bây giờ.

Trưng Nữ Vương (40-43): 3 năm 1 vua 1 đời: đóng đô ở Mê Linh (làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên bây giờ).

Nhà Tiền Lý (544-602): 58 năm: 3 vua:
* Lý Bôn xưng Nam Việt Đế (544-548) đặt tên nước Vạn Xuân đóng đô ở thành Long Biên làm vua 4 năm.
* Triệu Việt Vương: (549-571) 22 năm: 1 vua 1 đời: tức Triệu Quang Phục xưng vương đóng đô ở thành Long Biên.

Hậu Lý Nam Đế: (571-602) 31 năm: 1 vua 1 đời: tức Lý Phật Tử xưng đế hiệu đóng đô ở Phong Châu (huyện Bạch Hạc tỉnh Hưng Yên).

Đời nhà Đường (618-907) bên Tàu, nước ta bị đô hộ:
Vua Đường đổi An Nam thành Tĩnh Hải phong cho Cao Biền làm Tiết Độ Sứ. Cao Biền trị dân có phép tắc nên được kính phục gọi tôn lên là Cao Vương. Cao Biền cho đắp lại thành Đại La 4 mặt cao hơn 2 trượng ở bờ sông Tô Lịch, 4 mặt có đường đê bao bọc dài hơn 2.000 trượng, cao 1, 5 trượng, dày 2 trượng. Trong thành cho dân làm nhà hơn 400.000 nóc. Ông là người ưa dùng phép phù thủy, sách VNSL ghi: "Tục lại truyền rằng Cao Biền thấy bên Giao Châu ta lắm đất đế vương, thường cứ cỡi diều giấy đi yểm đất, phá những chỗ sơn thủy đẹp, và hại mất nhiều long mạch. "

Nhà Ngô: (939-965): 26 năm: 4 vua:
* Tiền Ngô: Ngô Quyền (939-944) xưng vương mở đầu thời đại tự chủ, đóng đô ở Cổ Loa (huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên) làm vua 5 năm: đặt quan chức, chế triều nghi, định sắc phục, chỉnh đốn chính trị, vua mất thọ 47 tuổi.
* Dương Tam Kha (945-950) cướp ngôi xưng là Bình Vương làm vua 5 năm
* Hậu Ngô (950-965): Ngô Xương Văn xưng là Nam Tấn Vương (15 năm) mời anh là Ngô Xương Ngập cùng làm vua xưng là Thiên sách vương (4 năm). Nhà Ngô rơi vào loạn thập nhị sứ quân.

Nhà Đinh (968-980) 12 năm 2 vua 2 đời:
Đinh Bộ Lĩnh tức Đinh Tiên Hoàng Đế (làm vua 11 năm) đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư cho xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn võ.

Nhà Tiền Lê (980- 1009) 29 năm 3 vua 2 đời: Lê Hoàn xưng là Đại Hành Hoàng Đế, đóng đô ở Hoa Lư.

Nhà Lý: (1010-1225) 215 năm gồm 9 vua 9 đời:
Lý Công Uẩn lên ngôi Lý Thái Tổ, tháng bảy năm Thuận Thiên nguyên niên (1010) dời đô về thành Đại La, đổi Đại La thành Thăng Long tức Hà Nội bây giờ, cải Hoa Lư làm Trường An Phủ, và Cổ Pháp làm Thiên Đức Phủ.

Vua Lý Thái Tổ sùng đạo Phật, trọng đãi người tu hành, lấy tiền kho làm chùa đúc chuông. Năm 1018, vua sai quan Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang Tàu thỉnh kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng. Vua Tống phong làm Giao Chỉ quận vương, sau gia phong Nam Bình Vương. Chiêm Thành và Chân Lạp đều sang triều cống, việc bang giao được yên trị. Trong nước có đôi ba nơi làm loạn, nhà vua phải thân chinh đi dẹp mới yên. Các hoàng tử đều phong tước vương và phải cầm quân đi đánh giặc. Các công chúa thì coi việc thu thuế. Nhà vua lưu tâm việc sửa sang trong nước: đổi phép cũ của nhà Tiền Lê, chia nước ra làm 24 lộ. Định ra 6 hạng thuế. Vua trị vì được 18 năm, thọ 55 tuổi.

Năm 1044 Vua Lý Thái Tông đánh chiếm kinh đô Phật Thệ (làng Nguyệt Bậu, xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) bắt Vương phi Mị Ê, các cung nữ cùng 5.000 người và 30 con voi đem về. Vua Lý Thánh Tông làm vua 18 năm, đổi tên nước là Đại Việt, năm 1069 đánh Chiêm bắt vua Chiêm là Chế Củ, Chế Củ dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Quảng Bình, Quảng Trị) để chuộc tội. Vua Lý Nhân Tông khởi đầu đắp đê Cơ Xá, năm 1075 Lý Thường Kiệt sang đánh Tàu giết 10 vạn người, bắt người lấy của mang về. Chiêu Thánh Công Chúa mới 7 tuổi lên ngôi là vua Lý Chiêu Hoàng chỉ hơn 1 năm thì bị ép nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.

Nhà Trần: (1225-1400) 175 năm 12 vua 8 đời:
Năm 1225 Trần Cảnh lên ngôi Trần Thái Tông làm vua 38 năm đóng đô ở Thăng Long chia nước làm 12 lộ, đắp đê 2 bên bờ sông Hồng gọi là Đỉnh Nhĩ Đê đặt quan chánh phó coi việc đê. Thời Trần Thánh Tông năm 1272 Lê Văn Hưu làm xong bộ Đại Việt Sử 30 quyển chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng, nước ta có quốc sử từ đấy. Năm 1257, 1284, 1287 quân Mông Cổ sang đánh nước ta. Năm 1383 Chế Bồng Nga đánh chiếm Thăng Long.

Năm 1396, Hồ Quý Ly bắt vua Trần Thuận Tông dời đô vào thành Tây Đô (thuộc xã Yên Tôn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, hiện còn di tích) . Thành Thăng Long gọi là Đông Đô. Hồ Quý Ly bắt vua Trần Thuận Tông nhường ngôi cho con mới 3 tuổi làm vua là Trần Thiếu Đế đi tu tiên ở cung Bảo Thanh, núi Đại Lại (Thanh Hóa), sau Quý Ly sai người giết vua Trần Thuận Tông, năm 1400 bỏ Trần Thiếu Đế tự xưng làm vua.

Nhà Hồ: (1400-1407) 7 năm 2 vua 2 đời:
Năm 1400 Hồ Quý Ly xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng, đổi quốc hiệu là Đại Ngu (Hồ thuộc dòng dõi nhà Ngu bên Tàu) làm vua được 1 năm nhường ngôi cho con để làm Thái Thượng Hoàng.

Nhà Hậu Trần: (1407-1413) 6 năm 2 vua 2 đời: Giản Định Đế và Trần Quý Khoách kháng chiến chống giặc Minh thất bại.

Nhà Hậu Lê (1428-1527) 99 năm 10 vua 6 đời:
Sai giết Trần Cao chết rồi, Bình Định Vương Lê Lợi có công dẹp giặc Minh lên ngôi vua là Lê Thái Tổ năm 1428, đặt quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long làm vua được 5 năm: chia nước làm 5 đạo. Xã 10 người gọi là tiểu xã, xã 50 người gọi là trung xã, xã 100 người gọi là đại xã. Nước ta xưa nay không có bản đồ, đến đời vua Lê Thái Tông, vua sai quan các đạo vẽ địa đồ núi sông, ghi chép sự tích gởi về bộ Hộ để làm quyển địa dư nước ta. Đến đời Vua Lê Thánh Tông (vị minh quân) vua sai Ngô Sĩ Liên làm bộ Đại Việt Sử ký chia làm 2 bản 15 quyển chép từ đời Hồng Bàng đến đời vua Lê Thái Tổ. Cuối đời Hậu Lê loạn lạc: Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dục lập vua Lê Chiêu Tông rước vào Tây Đô; Nguyễn Hoằng Dụ đem binh về đốt phá kinh thành Thăng Long, Trần Cao đem quân sang chiếm Đông Đô tự xưng làm vua, triều đình họp binh đánh, Trần Cao bỏ chạy... Vua Lê Chiêu Tông nhờ Mạc Đăng Dung dẹp loạn, Mạc Đăng Dung chuyên quyền, vua bỏ chạy lên Sơn Tây, Mạc Đăng Dung lập vua Lê Cung Hoàng rước về ở Gia Phúc tỉnh Hải Dương. Năm 1524 Mạc Đăng Dung đem quân vào Thanh Hóa đánh Trịnh Tuy bắt vua Chiêu Tông về Đông Hà sai người giết đi, năm 1527 bắt các quan nhà Lê thảo chiếu truyền ngôi cho mình, Cung Hoàng và bà Hoàng Thái Hậu đều bị giết.

Bắc Triều Nhà Mạc (1527-1592) 65 năm 5 vua 5 đời:
Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi lên làm vua là Mạc Thái Tổ được 3 năm thì nhường ngôi cho con về Cổ Trai làm Thái Thượng Hoàng. Nhà Mạc đến năm 1592 thì bị Trịnh Tùng dứt, nhưng Mạc Kính Cung và con cháu 2 đời được nhà Minh bênh vực còn giữ được đất Cao Bằng.

Nam Triều Nhà Lê Trung Hưng: (1532-1599) 66 năm, 4 vua:
Năm 1532 Nguyễn Kim tôn Lê Duy Ninh lên ngôi là Lê Trang Tông ở Ai Lao về đóng ở Sầm Châu (Thanh Hóa), năm 1543 chiếm Tây Đô (Thanh Hóa), năm 1545 lập hành điện ở đồn Vạn Lại (huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hóa), Trịnh Kiểm giữ binh quyền.

Nhà Hậu Lê thời Trịnh Nguyễn phân tranh: (1600-1788) 188 năm 12 vua 8 đời:
Vua Lê Kính Tông lên ngôi làm vua được 19 năm thì bị Trịnh Tùng giết. Đến đời vua Lê Mẫn Đế niên hiệu Chiêu Thống năm 1788 bị Tây Sơn đánh bại chạy sang Tàu cầu cứu.

Đời Nhà Trịnh (Chúa Trịnh): (1592-1786) 194 năm 10 chúa 8 đời:
Trịnh Tùng tranh quyền của anh nối nghiệp Trịnh Kiểm, năm 1592 dứt nhà Mạc lấy lại thành Thăng Long, rước vua Lê ra. Năm 1599 thông sứ tốt với nhà Minh chịu nhường đất Cao Bằng cho con cháu nhà Mạc, tự xưng Bình An Vương phù Lê lập nên nghiệp chúa Trịnh. Nhà Trịnh đánh nhau với chúa Nguyễn 7 lần, năm 1775 sai Hoàng Ngũ Phúc vào đánh chiếm Phú Xuân, Quảng Nam, chúa Nguyễn chạy vào Gia Định. Năm 1786 Nguyễn Huệ ra đánh Bắc Hà bắt được Chúa Trịnh Khải, Khải tự vẫn.

Nhà Nguyễn (Chúa Nguyễn): (1558-1777) 219 năm 9 chúa, 9 đời:
Năm 1558, Chúa Tiên Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa đóng dinh tại xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị. Năm 1570 dời vào làng Trà Bát cùng huyện gọi là Cát Dinh, làm Chúa được 55 năm. Năm 1626 chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên dời vào làng Phúc An huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên đổi chỗ tư sở thành phủ. Năm 1636, chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan dời phủ vào làng Kim Long huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên. Năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Trăn dời phủ về làng Phú Xuân tức Cố Đô Huế bây giờ gọi là chính dinh. Chỗ phủ cũ làm Thái Tông Miếu thờ chúa Hiền. Năm 1702, chúa Nguyễn Phúc Chu sai người sang cống vua Thanh để xin phong, nhưng Thanh triều nói rằng nước Nam còn họ Lê nên không phong được. Nguyễn Phúc Chu tự xưng là Quốc Chúa đúc ấn Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa Vĩnh Trấn Chi Bảo để truyền quốc bảo đến đời vua Gia Long mới thôi. Năm 1744 Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu, đổi phủ ra điện, sửa sang phép tắc, đổi lại chế độ, định triều nghi, chia nước thành 12 dinh.

Đất Đàng Trong tuy độc lập nhưng Họ Nguyễn chỉ xưng chúa và không đặt quốc hiệu nên người ngoại quốc thường gọi là Quảng Nam Quốc. Năm 1692, lấy hết đất Chiêm, năm 1757 lấy hết đất Thủy Chân Lạp.

Nhà Nguyễn Tây Sơn (1778-1802) 24 năm 3 vua 2 đời:
Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng đế ở Qui Nhơn làm vua từ Quảng Nam trở vào, từ Phú Xuân trở ra thuộc nhà Lê. Năm 1784, Nguyễn Huệ đánh tan quân Tiêm La ở đất Gia Định. Năm 1786, Nguyễn Huệ lấy thành Phú Xuân ra Bắc Hà diệt họ Trịnh. Năm 1788, quân Thanh sang đánh chiếm thành Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế đặt niên hiệu Quang Trung dẫn quân ra Bắc đánh tan quân Thanh, sau cho người sang dâng biểu xin phong, vua nhà Thanh sai sứ sang phong Ngài làm An Nam Quốc Vương, làm vua 4 năm thì mất.

Nhà Nguyễn: (1802-1945) 143 năm 12 vua 7 đời:
Vua Nguyễn Thế Tổ Gia Long khởi binh tại Gia Định năm 1778, năm 1780 xưng vương, năm 1801 chiếm thành Phú Xuân, dứt nhà Tây Sơn. Năm 1802 lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Việt Nam đóng đô ở Phú Xuân tức nội thành Huế bây giờ. Năm 1804, vua Thanh sai sứ sang phong vương, năm 1806 làm lễ xưng đế hiệu ở đền Thái Hòa, định triều nghi cứ rằm mùng một thiết đại triều, mồng 5, 10, 20, 25 thiết tiểu triều, không đặt ngôi hoàng hậu chỉ có hoàng phi và các cung tần, bỏ chức tể tướng, mọi việc đều do lục bộ trông coi, chia nước làm 23 trấn 4 doanh. Đến đời Vua Minh Mạng đổi quốc hiệu là Đại Nam, năm 1836 đặt Tôn Nhân Phủ, đặt quan chức coi mọi việc trong họ nhà vua, đặt 7 miếu thờ tiên tổ, miếu bên tả gọi là chiêu, miếu bên hữu gọi là mục, con cháu dòng chiêu hay mục phải phân biệt chi nào ra chi nấy. Mọi người trong hoàng tộc đều được nuôi nấng cấp tước lộc.

Năm 1858 chiến thuyền Pháp và I-Pha-Nho đánh Đà Nẵng. Năm 1862 ký hòa ước Nhâm Tuất 12 khoản cắt 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp. Năm 1867, quân Pháp đánh chiếm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử. Năm 1873, quân Pháp hạ thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương tử tiết. Năm 1882 quân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội, Hoàng Diệu thắt cổ tự tử.

Nhà Nguyễn truyền ngôi đến năm 1883 là năm vua Tự Đức mất cũng mất quyền tự chủ, tuy ngôi vua còn nhưng đất nước bị Pháp đô hộ. Năm 1884 Hòa ước Patenôtre định thể lệ bảo hộ.

Từ năm 1945 đến nay nước ta có 3 thủ đô:

* Huế: Thủ đô của Chính phủ Thủ tướng Trần Trọng Kim, Quốc trưởng Bảo Đại.

* Sài Gòn: Thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa: (1954-1975): 21 năm gồm các thời chính: Tổng thống Ngô Đình Diệm, Đại tướng Dương Văn Minh, Đại tướng Nguyễn Khánh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

* Hà Nội: Thủ đô của Nhà Nước **** Việt Nam (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam): đến nay là 60 năm gồm 1 đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, và 6 đời Tổng bí thư: Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh.

Trong suốt lịch sử, nước ta có nhiều quốc hiệu: Văn Lang, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Việt Nam, Đại Nam...

Nhiều kinh đô, thủ đô: Phong Châu (Vĩnh Yên), Phong Khê (Phúc An), Mê Linh (Phúc Yên), Long Biên, Vạn Xuân, Đại La (Hà Nội), Cổ Loa (Phúc Yên), Hoa Lư, Thăng Long (Hà Nội), Tây Đô (Thanh Hóa), Đông Đô (Hà Nội), Vạn Lại (Thanh Hóa) Ái Tử (Quảng Trị), Phú Xuân (Huế), Qui Nhơn (Bình Định), Gia Định, Sài Gòn, Huế, Hà Nội.

Nước Văn Lang và kinh đô Phong Châu kéo dài hàng ngàn năm.

Nước Đại Việt: xuất hiện từ thời nhà Lý do vua Lý Thánh Tông (1054-1072) đặt, đến hết đời nhà Lý (171 năm) đời Trần (175 năm), đời Hậu Lê (255 năm), đời Tây Sơn (14 năm) tổng cộng trên 600 năm.

Thủ đô Hà Nội xuất hiện từ thời Lý Nam Đế gọi là Long Biên (4 năm), thời Triệu Quang Phục gọi là Long Biên (22 năm), thời nhà Đường đô hộ bắt đầu từ Cao Biền xây thành Đại La khoảng năm 866 đến hết thời Đường đô hộ khoảng 40 năm, năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long đến năm 1788 Tây Sơn diệt nhà Hậu Lê khoảng 700 năm, Hà Nội từ năm 1945 đến nay: 60 năm, tổng cộng thời gian Hà Nội được sử dụng làm kinh đô khoảng trên 800 năm.

Tóm lại trải qua hàng ngàn năm lịch sử có 3 quốc hiệu được dân tộc ta sử dụng lâu dài nhất là Văn Lang, Đại Việt, Việt Nam. Có 3 kinh đô được sử dụng lâu dài nhất là Phong Châu, Hà Nội, Huế. Phong Châu, Huế đã trở thành cố đô, Hà Nội hiện đang là thủ đô.

3. THĂNG LONG ĐẤT ĐẠI CAN LONG, ĐẠI LONG MẠCH

Nếu Thủ đô Hoa Thịnh Đốn là đất đại can long, đại long mạch của Hoa Kỳ nằm trên bờ sông Potomac, thì Hà Nội tức Thăng Long xưa là đất đại can long, đại long mạch của Việt Nam nằm trên bờ sông Hồng Hà. Người Hoa Kỳ không biết có học phong thủy không nhưng khi xây Tòa Nhà U.S. Capitol họ đã xây trên ngọn đồi nhìn về hướng Tây trông ra dòng sông Potomac, nơi có Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, Đài Kỷ Niệm Washington, Đài Tưởng Niệm A. Lincoln, Đài Tưởng Niệm T. Jefferson, Đài Tưởng Niệm F.D. Roosevelt, (những biểu tượng của hồn thiêng sông núi) và thực hiện đúng câu "Tiền đê hậu cao" (trước thấp sau cao) trong phong thủy.

Mùa Thu năm Canh Tuất (1010) từ kinh đô Hoa Lư, Vua Lý Thái Tổ ban lệnh dời đô, thuyền ngược dòng Hồng Hà cập bến Đại La nơi đô cũ của Cao Biền lúc trước. Khi ra đến La Thành, Vua Thái Tổ lấy cớ nằm mộng trông thấy rồng vàng hiện ra bèn đổi thành Đại La thành thành Thăng Long. Việc xây dựng kinh thành theo Giáo sư Phan Huy Lê: "Buổi đầu đã sử dụng tòa thành này cùng một số kiến trúc có sẵn rồi sửa sang xây dựng thêm những cung điện mới".

Kinh thành đại thể được giới hạn bằng ba con sông: mặt Đông là sông Hồng, mặt Tây mặt Bắc là sông Tô Lịch, mặt Nam là sông Kim Ngưu. Kinh thành chia 2 phần:

Hoàng Thành nằm trong lòng kinh thành, gần Hồ Tây nơi có cung điện hoàng gia và chỗ thiết triều, cấm thành nơi ở của hoàng gia gọi là Long thành. Điện Kiền Nguyên là điện chính nơi vua làm việc, hai bên tả hữu là điện Tập Hiền, Giảng Vũ. Bên trái mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân. Bên phải mở cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn. Chính Bắc dựng điện Cao Minh, đằng sau là cung Thúy Hoa nơi các cung phi ở. Bao bọc các cung điện là một bức tường thành bảo vệ gọi là Long Thành với 10 cấm quân canh gác ngày đêm. Các công trình thổ mộc đẹp đẽ, cách chạm trổ trang sức khéo léo.

Qua các triều đại sơ lược trên đây, chúng ta thấy Nhà Lý là một triều vua nhân đức hơn hết, do đó cũng được thịnh trị hơn hết, lâu dài hơn hết.

Lý Công Uẩn lên ngôi không giết một sinh mạng, trong khi Nhà Trần, Trần Thủ Độ giết gần hết hoàng tộc nhà Lý. Nhà Hồ, Hồ Quý Ly giết vua Lê Thuận Tông, công thần: Trần Khát Chân cùng 370 người. Nhà Lê, Lê Lợi giết Trần Cao, công thần Trần Nguyên Hãn, Phạm văn Xảo. Nhà Mạc, Mạc Đăng Dung giết vua Lê Chiêu Tông, vua Lê Cung Hoàng, bà Hoàng Thái Hậu và vô số triều thần Nhà Lê khác. Nhà Nguyễn, Vua Gia Long tùng xẻo vua tôi Nhà Tây Sơn, đào mồ cắt đầu anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc bỏ giam trong ngục tối, giết hại công thần Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường.

Hoàng tộc nào được ngồi không hưởng bổng lộc xa hoa? Riêng hoàng tộc nhà Lý thì hoàng tử phải đi đánh giặc, công chúa phải đi thu thuế, cung nữ phải học nghề thêu dệt gấm vóc.

Vua Lý Thái Tổ lên ngôi cho xây chùa thỉnh kinh.

Vua Lý Thái Tông "bao giờ cũng để lòng thương dân. Hễ năm nào đói kém hay là đi đánh giặc về, thì lại giảm thuế cho hàng hai ba năm - VNSL" nhà vua không giết hai người em phản nghịch mà còn phục lại chức cũ, nhà vua hạ chiếu cấm không cho ai được mua người để làm nô lệ. Còn Lý Thánh Tông là "một ông vua nhân từ, có lòng thương dân; một năm trời rét, Thánh Tông bảo những quan hầu gần rằng: "Trẫm ở trong cung ăn mặc như thế này còn rét, nghĩ những tù phạm giam trong ngục, phải trí buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm." Nói rồi truyền lấy chăn chiếu cho tù nằm và mỗi ngày cho hai bữa ăn. Lại có một hôm Thánh Tông ra ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên Công Chúa đứng hầu bên cạnh. Thánh Tông chỉ vào công chúa mà bảo các quan rằng: "Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi." Vua Thánh Tông có nhân như thế cho nên trăm họ mến phục, trong đời Ngài làm vua ít có giặc giã. Ngài lại có ý muốn khai hóa sự văn học, lập văn miếu, làm tượng Chu Công Khổng Tử và 72 tiên hiền để thờ. Nước ta có văn miếu thờ Khổng Tử và chư hiền khởi đầu từ đấy. - VNSL ".

Việc binh chính, binh pháp nhà Lý thời Lý Thánh Tông "có tiếng là giỏi, nhà Tống bên Tàu phải bắt chước, ấy là sự vẻ vang cho nước mình bao nhiêu? - VNSL" Nhà Lý đem binh đánh tới Quảng Đông Quảng Tây nước Tàu là lần duy nhất trong lịch sử và cũng là triều đại mở đầu cuộc Nam Tiến chiếm đất bắt vương phi Chiêm Thành. Trần Trọng Kim viết:

"Nhà Lý có công làm cho nước Nam ta nên được một nước cường thịnh: ngoài thì đánh Tàu, bình nước Chiêm, trong thì chỉnh đốn việc võ bị, sửa sang pháp luật, xây vững cái nền tự chủ."

Vua Lý Thái Tổ là một vị minh quân nhân đức mới 3 tuổi đem cho nhà sư chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn làm con nuôi đặt tên là Lý Công Uẩn, sau theo học sư Vạn Hạnh. Lớn lên vào Hoa Lư làm quan nhà Tiền Lê đến chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi lên ngôi ngài thấy Hoa Lư chật hẹp và cũng sáng suốt nhìn thấy thành Đại La đô cũ của Cao Biền khi xưa nằm trên bờ sông Hồng Hà là một đại can long, một "thắng địa" thuộc hàng đại long mạch lý tưởng:

"Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.... - Chiếu dời đô - Lý Công Uẩn".

Càng đắc địa hơn, trước khi chảy đến Thăng Long, dòng Hồng Hà ngoằn ngoèo uốn khúc để tạo nên một vùng cát địa có đại long mạch tầm cỡ "thượng đô kinh sư". Và trước khi ra biển, dòng sông ngoái lại nhìn rồi tỏa ra tạo thành những chi long, cước long, bàng long lung linh như một bức gấm thêu giữa vùng non nước hữu tình. Địa huyệt kết nơi cao nhất có tên là núi Nùng. Thiên huyệt kết chỗ thấp nhất có tên là Hồ Hoàn Kiếm nơi Thần Kim Quy hiện ra báo hiệu điềm lành. Tuy nhiên khác với Hoa Lư, địa thế Thăng Long trống trải, đã bao lần bị quân Tàu, quân Pháp đánh chiếm, ngay Chế Bông Nga vua Chiêm cũng đã 3 lần ra chiếm Thăng Long đốt phá lấy sạch vàng bạc châu báu và bắt con gái mang về.

Muốn đại can long, đại long mạch lưu phúc trạch lâu dài cho con người, con người phải có đại nhân đại đức, lấy đức báo oán, lấy đức đối đãi với bá tánh và mưu cầu cho bá tánh có một đời sống xứng đáng là con người đúng với hai chữ hạnh phúc ấm no. Hễ đức càng nhiều thì vận càng dài, đức cạn thì vận tuyệt.

4. CON SỐ 8 HUYỀN BÍ

Niên hiệu Thuận Thiên năm 1010, Vua Lý Thái Tổ thỉnh Thiền sư Vạn Hạnh về làm Quốc sư, sau khi dời đô về Thăng Long, Ngài nhanh chóng thiết lập nền tảng cơ sở đạo đức và tôn giáo: xây 8 ngôi chùa tại phủ Thiên Đức, năm 1018 sai người sang Tàu thỉnh kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng. Các nhà phong thủy cho rằng Ngài đã thông hiểu những bí mật của đại can long đại long mạch Thăng Long. Con số 8 huyền bí như một lời khẩn cầu cho quốc thái dân an tu nhân tích đức và cũng là con số giới hạn đối với chủ nhân của đại can long đại long mạch Thăng Long. Quả là một con số 8 huyền bí nếu chúng ta chịu khó lược qua sự tồn vong của các triều đại:

Nhà Lý do Vua Lý Thái Tổ dựng lên đóng đô trên đất đại can long đại long mạch Thăng Long 215 năm tính từ đời Ngài cho đến đời Lý Huệ Tông bỏ cung vàng đi tu vừa đúng 8 đời thì cơ nghiệp triều chính lọt vào tay Nhà Trần. Tính thêm đời vua Lý Chiêu Hoàng là 9 đời, nhưng đời vua này trên thực tế có cũng như không, vì do Trần Thủ Độ đạo diễn đưa lên làm vua mới có 7 tuổi và chỉ 14 tháng sau thì bị ép phải nhường ngôi.

Nhà Trần làm chủ Thăng Long từ đời Trần Thái Tông đến Trần Thiếu Đế được 175 năm gồm 12 vua 8 đời.

Nhà Hồ 7 năm 2 vua 2 đời

Nhà Hậu Lê 99 năm 10 vua 6 đời

Nhà Mạc 65 năm 5 vua 5 đời

Nhà Lê Trung Hưng 66 năm 4 vua 4 đời

Nhà Hậu Lê Thời Trịnh-Nguyễn: 188 năm 12 vua 8 đời

Nhà Trịnh 194 năm 10 chúa 8 đời

Đại can long đại long mạch là gì mà có một sự tác động ghê gớm như thế? Và con số 8 kể từ thời Lý Thái Tổ đến nay đã gần 1.000 năm mà vẫn chưa có một triều đại nào (đóng đô trên đất Thăng Long) vượt qua kể cả những triều đại hiễn hách trong lịch sử?

Phải chăng sự tác động của đại can long đại long mạch là điều có thật? Phải chăng kiến thức huyền bí về long mạch đã bị chiến tranh thiêu hủy hay thất truyền nên ngày nay chúng ta không thể lý giải nổi dù chúng ta vẫn tin vào quy luật nhân quả đang hiện hữu và chi phối con người từng giờ từng phút.

5. DẤU XƯA XE NGỰA HỒN THU THẢO

Nhắc đến hai chữ Thăng Long, người ta ngậm ngùi nhớ đến Bà Huyện Thanh Quan thời Nhà Nguyễn với bài thơ trầm buồn Thăng Long Thành Hoài Cổ:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Và mới đây trên báo Trẻ Florida số 83A ngày 21/10/2005 có đăng bài viết "Cổ Thụ, Dấu Vết Của Lịch Sử" của tác giả Dương Quốc Trung, khi đọc đoạn văn viết về Thăng Long xưa-Hà Nội nay sau đây chắc chúng ta không khỏi thấm thía bùi ngùi:

"Chùa Một Cột hay đình Diên Hựu xưa sử sách chép niên đại có từ rất sớm gắn với triều Lý thịnh Phật, những kiến trúc hôm nay chứng kiến mới chỉ được dựng lại chưa đầy nửa thế kỷ, sau khi đã bị phá hủy hoàn toàn vào năm 1954. Thành Thăng Long xây từ đời Lý qua đời Trần, Lê... sử sách mô tả bề thế mà đến cuối thế kỷ trước, đầu thế kỷ này bị chiến tranh tàn phá không còn gì. Một mảnh tường ngoài cổng thành cửa Bắc còn lưu vết đạn (...)
Gở tấm bản đồ xưa của Thăng Long-Hà Nội, ta sẽ thấy hình vẽ, tên gọi những con sông. Tô Lịch, Kim Ngưu, Lũ, Thiên Phù, Sét... mà nay đã biến mất hoặc chỉ còn dấu tích tàn tạ. Những dấu vết kiến trúc của nơi tụ cư xưa nhất mà ta hay gọi là "36 phố phường" còn lại là bao?".

Bình phong trong kiến trúc truyền thống Việt
TỪ MỘT HUYỀN THOẠI
Năm 1636, chúa Nguyễn Phước Lan đã vì sự nghiệp phát triển của Đàng Trong và cả vì mối tình với một cô gái yêu kiều ở đất làng Kim Long mà đã quyết định dời thủ phủ - kinh đô từ Phước Yên về vùng đất tươi đẹp bên bờ con sông Hương mang tên Kim Long.

                                                             Bình phong trong kiến trúc truyền thống Việt.

Hơn 50 năm tiếp đó, thủ phủ Kim Long đã được xây dựng thành một “đô thị lớn”, phồn hoa diễm lệ bậc nhất của Đàng Trong khiến không ít giáo sĩ phương Tây khi đến đây đã tỏ ra hết sức thán phục. Vậy mà đến năm 1687, ngay sau khi kế vị, chúa Nguyễn Phước Thái đã cho dời ngay thủ phủ về đất Phú Xuân, cách đó chỉ khoảng 3km. Nguyên nhân của sự dịch chuyển này là do đâu? Các nhà nghiên cứu khi phân tích sự kiện trên đã đưa ra nhiều nguyên nhân, nhưng trong huyền thoại dân gian Huế thì dường như chỉ có một: đó là vì ngọn núi Ngự Bình vốn xưa mang tên là Mạc Sơn! Ngọn núi này được trời đất tạo ra dường như là để che chắn cho kinh đô của bậc
đế vương. Chính chúa Nguyễn Phước Thái là người đầu tiên nhận ra điều này và ông đã không ngần ngại cho xây dựng lại cả một kinh đô chỉ vì một chiếc bình phong! Cũng từ đó Mạc Sơn mới chính thức trở thành Ngự Bình và dần dần trở thành biểu tượng của đất Huế (miền Hương - Ngự)
NGUỒN GỐC CỦA BÌNH PHONG
Bình phong có từ bao giờ? Thật khó trả lời chính xác câu hỏi này, chỉ biết rằng, ở phương Đông, từ khi con người biết xây dựng nhà cửa thì các quan niệm về phong thuỷ cũng dần dần xuất hiện và từng bước hoàn thiện; chiếc bình phong ra đời cũng từ các nguyên lý của phong thuỷ học.
Theo các nhà nghiên cứu về phong thuỷ Trung Quốc, việc sử dụng bình phong cho gia trạch cũng như mộ phần bắt nguồn từ lý thuyết về Triều và án trong Phong thuỷ. Triều có nghĩa là “quay về, hướng về”, viết tắt của chữ Triều sơn, tức chỉ núi quay về, chầu về nhà cửa hay mộ phần - tựa như sự đối ứng giữa chủ và khách. Núi chầu về trong nghĩa triều sơn chỉ những ngọn núi ở phía xa và ở mặt trước. Triều sơn có nhiều loại, có loại đỉnh nhọn, đỉnh bằng, đỉnh tròn... Trong Phong thuỷ thường chỉ chuộng loại núi tròn đều hay ngang bằng bởi cho rằng loại núi nhọn hay có góc cạnh thường phát ra khí chẳng lành.
Còn “án” vốn nguyên có nghĩa gốc là cái bàn, bàn đương nhiên là đặt trước mặt của người ngồi. Án sơn là để chỉ ngọn núi nhỏ ở phía trước gia trạch hay mộ phần .
Nói chung, triều và án hết sức cần thiết cho gia trạch và mộ phần, tác dụng của chúng là ngăn cản những ảnh hưởng xấu (theo quan niệm dân gian) hay Hỏa khí (theo thuyết âm dương Ngũ hành) xâm nhập trực diện từ phía trước. Nhưng không phải lúc nào triều và án cũng mang lại những điều tốt lành mà đòi hỏi phải có sự lựa chọn phù hợp nhưng việc lựa chọn này lại hoàn toàn không dễ dàng.
Thường thì mộ phần đặt ở vùng núi non nên việc chọn triều án khá thuận tiện, nhưng nhà cửa gia trạch lại chủ yếu nằm ở miền đồng bằng nên rất khó tìm triều và án. Trừ trường hợp cung điện đồ sộ của nhà vua thì đương nhiên phải tìm ra triều và án, còn thì đa số quan lại, thường dân chỉ mong tìm được án đã là tốt lắm rồi. Nếu không có án, người ta thường tạo nên những vật thay thế như đắp non bộ, trồng hàng rào hay xây bức tường ngắn... Chiếc bình phong ra đời từ đây.
Thuở ban đầu bình phong được làm rất đơn giản bằng các vật liệu dễ kiếm như tre nứa, gỗ, phiến đá, thậm chí bụi cây cũng được. Nhưng càng về sau, bình phong càng ngày càng được chú trọng làm bằng vật liệu bền vững như xây gạch, đắp đá; hình thức của bình phong cũng ngày càng cầu kỳ và phong phú.
Người Việt vốn chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của văn minh Trung Hoa và các học thuyết Phong thuỷ nên cũng từ rất sớm, chiếc bình phong đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong ngôi nhà của họ. Còn hơn cả người Hán, người Việt đã phát triển quan niệm về chiếc bình phong trở nên phong phú, đa dạng lên nhiều.
CÁC LOẠI BÌNH PHONG
Đối với đại đa số chúng ta, khái niệm bình phong hầu như không được phân biệt rõ ràng, dù là triều hay án, dù to hay nhỏ đều gọi chung là bình phong. Tuy nhiên trong Phong thuỷ thì không phải như vậy. Như trên đã nói, triều và án là hai khái niệm khác nhau và tác dụng của chúng cũng khác nhau khi áp dụng. Phong thuỷ rất chuộng triều sơn, nhưng trên thực tế thường chỉ áp dụng được cho các công trình có quy mô lớn hoặc cả một quần thể công trình như Kinh đô, lăng tẩm của vua chúa... Ngót ngàn năm trước, khi tìm ra đất Thăng Long, Lý Thái Tổ đã ca ngợi đây là mảnh đất “long bàn hổ cứ” có “sơn triều, thủy tụ”, địa thế tuyệt vời để xây dựng kinh đô. Lê Quý Đôn khi vào tiếp quản đô thành Phú Xuân năm 1775, cũng đã hết lời ca ngợi thế phong thủy của mảnh đất này, đặc biệt là vai trò của triều sơn: “Đất rộng bằng như bàn tay, độ hơn 10 dặm, ở trong là Chính dinh, đất cao, bốn bề đều thấp, tức là chỗ nổi bật giữa đất bằng, ngồi vị Càn trông hướng Tốn; đằng trước quần sơn chầu về la liệt, toàn thu nước về bên hữu, vật lực thịnh giàu”.
Nhưng phần lớn đối với các cuộc đất, do không có triều sơn nên người ta chỉ chú trọng đến án. Đối với kinh đô Huế, núi Ngự Bình cũng không phải là triều sơn mà chính là án, cũng như với lăng Thiên Thọ (lăng Gia Long), án chính là ngọn Đại Thiên Thọ Sơn...
Thế nhưng án cũng có 2 loại: ngoại án và nội án; ngoại án hay tiền án là chiếc bình phong đặt ở phía bên ngoài, ở phía trước công trình; còn nội án là chiếc bình phong (cũng có khi gọi là trấn phong) đặt ngay trong công trình.
Nhìn chung, đối với các công trình lớn, ngoại án thường là các ngọn núi, có thể là núi tự nhiên để nguyên, có thể là núi tự nhiên nhưng được sửa sang lại cho phù hợp, cũng có thể là núi nhân tạo hoàn toàn như ngọn núi nhỏ đắp phía  trước phần lăng vua Tự Đức. Đối với những công trình hoặc cụm công trình có quy mô nhỏ hơn thì ngoại án thường được xây dựng thành một bức bình phong bằng gạch đá, hoặc có thể là một bờ rào, hàng cây, một phiến đá...
Đối các loại bình phong được xây dựng cẩn thận bằng gạch đá, thường ngoài ý nghĩa về phong thuỷ còn là những công trình mang ý nghĩa trang trí thật sự. Về đại thể, tuy chỉ là một bức tường xây ngang nhưng kiểu dáng và cách thức trang trí của bình phong thì vô cùng phong phú. Kiểu bình phong phổ biến nhất có lẽ là kiểu cuốn thư nhưng có rất nhiều biến thể. Các đề tài trang trí trên bình phong cũng đa dạng, nhưng phổ biến nhất vẫn là những con vật trong Tứ linh, gồm long(rồng) - lân - phượng - quy (rùa). Tại các đình làng, các am miếu  dân gian, hình tượng long mã hay hổ cũng được sử dụng rất nhiều trên bình phong.
Nội án tức chiếc bình phong đặt bên trong công trình, ngay sau cửa chính. Dù có kiểu dáng, hình thức rất phong phú nhưng chúng đều là loại bình phong có thể di chuyển được. Chất liệu làm các loại bình phong này cũng rất đa dạng, bằng gỗ, bằng mây, bằng tre, bằng đá hoặc đá kết hợp với gỗ, thậm chí bằng đồng, bằng bạc, vàng... nhưng có thể nói, gỗ là loại chất liệu được sử dụng phổ biến hơn cả. Hầu hết các bức bình phong được sử dụng làm nội án đều được trang trí rất công phu và có giá trị nghệ thuật cao.
Căn cứ vào hình thức kiểu dáng có thể chia nội án thành 2 loại: loại bình phong một tấm cố định và loại bình phong nhiều tấm rời ghép thành.
Loại bình phong một tấm cố định phổ biến nhất là kiểu cuốn thư, được làm chắc chắn, có chân cố định, khi di chuyển phải di chuyển nguyên tấm. Còn loại bình phong nhiều tấm rời ghép thành thường có hình chữ nhật hoặc vuông, do 6,8 hay 10 tấm gỗ hình chữ nhật ghép lại với nhau bằng bản lề. Loại này có thể có chân hoặc không có chân, khi di chuyển có thể di chuyển cục bộ từng phần hoặc có thể tháo rời ra để tiện vận chuyển. Kiểu bình phong này hiện còn khá phổ biến tại Nhật Bản, Hàn Quốc .
SỬ DỤNG BÌNH PHONG THẾ NÀO CHO PHÙ HỢP
Đây thực sự là một bí ẩn của Phong thủy học. Sách vở về Phong thuỷ xưa rất hiếm khi đề cập đến điều này, các kiến thức về sử dụng bình phong chủ yếu được truyền thừa qua các thế hệ thầy Địa lý. Phỏng vấn một số thầy Địa lý có uy tín ở khu vực miền Trung thì được biết, kích thước triều sơn không quan trọng lắm, chủ yếu là do dáng vẻ, thần thái của chúng tạo nên; còn kích thước của án (kể cả ngoại án và nội án) thì rất quan trọng đối với chủ nhân công trình. Tuy nhiên, đối với phần đông dân chúng do không hiểu hết các nguyên lý uyên áo của Phong thủy nên thường cho rằng, bình phong cốt để che kín ngôi nhà (hoặc huyệt mộ) cho ấm cúng và ngăn chặn gió độc, hay để ngăn chặn những thứ khí chẳng lành phát ra từ những vật lạ phía trước nhà (cây cối, cột mốc, đường đi...), nên việc dựng bình phong không theo quy chuẩn và kích thước phù hợp, gây mất cân đối cho công trình, ảnh hưởng đến thẩm mỹ thậm chí gây trở ngại cho việc đi lại.
Thực ra, theo Phong thủy, nguyên do phải đặt bình phong (kể cả ngoại và nội án) đều nhằm cản bớt hỏa khí xâm nhập quá mạnh vào nhà gây hại cho chủ nhân. Phong thủy căn cứ vào thuyết Ngũ Hành cho rằng, phía trước công trình thuộc Hỏa (phía Nam); bên phải công trình là Kim (phía Tây), tượng cho chủ nhân; bên trái thuộc Mộc (phía Đông) tượng thê tài (vợ, tiền tài); phía sau thuộc Thủy (phía Bắc) tượng tử tôn (con cháu); còn trung ương thuộc Thổ. Quy định này cũng dễ hiểu vì vốn xưa nhà được đắp bằng đất (thổ); nhà sinh ra chủ (Kim), chủ sinh ra con cháu (Thủy) và điều khiển vợ, người làm (Mộc). Ngũ hành tương sinh hay tương khắc tùy thuộc khi ta đặt công trình vào các hướng cụ thể của thiên nhiên. Nếu đặt mặt trước công trình về hướng (đây lại là hướng được người Việt yêu thích nhất khi làm nhà: “Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”) thì Hỏa khí càng thêm vượng, dễ gây tổn hại cho chủ nhân nên mới đặt bình phong để ngăn chặn. Còn đối với các công trình xoay mặt về phía Bắc (nhất là các chùa) thì hầu như không sử dụng bình phong vì phía Bắc thuộc Thủy, mà Thủy lại khắc Hỏa. Chính vì những nguyên lý này mà khi làm nhà (hoặc lăng mộ) người ta phải mời thầy Địa lý để có sự nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp.
Kích thước bình phong thế nào là vừa phải? Theo Phong thủy, khí được dẫn vào công trình từ cổng hay cửa. Trường hợp cổng và cửa công trình cùng một hướng thì Hỏa khí được dẫn trực tiếp vào mặt trước công trình. Trong kiến trúc truyền thống, cửa giữa là cửa chính để chủ nhân ra vào nên bình phong phải làm sao che kín được cửa giữa. Kinh nghiệm của các thầy Địa lý cho biết, kích thước của bình phong thường lấy từ kích thước của cửa giữa công trình nhưng có gia giảm để làm sao đứng từ trung tâm công trình nhìn ra thì cảm thấy bình phong vừa che kín hết cửa giữa là được. Đó là bề ngang của bình phong, còn chiều cao thì lấy theo mái hiên công trình. Nhà cửa xưa mái hiên thường thấp, chiều cao của bình phong (nhất là nội án) làm sao nhìn ngang bằng mái hiên nếu ta đứng từ trung tâm công trình nhìn ra; còn đối với ngoại án, kích thước là phù hợp nếu ta ngồi trên ghế mà cảm thấy có thể gác hai tay vừa vặn trên đầu bình phong (tức như đặt hai tay trên bàn).
Khoảng cách đặt bình phong (ngoại án) đối với công trình cũng khá linh động nhưng đều có căn cứ vào kích thước công trình. Theo phần lớn các thầy Địa lý, khoảng cách giữa công trình và bình phong (Phong thủy gọi là Tiểu minh đường) thường lấy tương đương với kích thước bề ngang công trình. Tuy nhiên, nếu do hoàn cảnh, ngoại án phải đặt hơi xa thì cần có một lớp bình phong khác hoặc nội án hỗ trợ. Tiêu biểu là trường hợp Kinh thành Huế, do núi Ngự Bình cách Kinh thành đến 3km, Tiểu minh đường hơi rộng hơn bề ngang Kinh thành (chỉ khoảng 2,2km) nên trước mặt Hoàng Thành đã có thêm Kỳ Đài có vai trò như lớp án thứ hai che chắn cho nhà vua.

Ở Việt Nam, có lẽ Huế là nơi còn giữ lại được nhiều kiểu bình phong nhất. Điều này cũng dễ hiểu vì Huế là cố đô cuối cùng của Việt, lại vẫn giữ được khá nguyên vẹn diện mạo của kinh đô thời quân chủ. Nhưng không chỉ trong kiến trúc cung đình mà ngay cả ở đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ... dường như nơi nào chúng ta cũng có thể nhìn thấy những bức bình phong được trang trí cầu kỳ, tinh xảo. Tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế hiện nay vẫn còn giữ được một số bức bình phong tuyệt đẹp, trong đó có cả bình phong bằng gỗ loại một tấm cố định, có cả loại ghép nhiều tấm hình chữ nhật đan bằng mây trên khung gỗ, lại có cả những bức bằng đá, bằng bạc, bằng ngà voi được chạm trổ cực kỳ tinh xảo. Đây thật sự là những kiệt phẩm của các nghệ nhân tiền bối mà mỗi khi đứng trước chúng ta thường có cảm giác như bị mê hoặc hút hồn. Chẳng biết do chúng quá đẹp hay do chúng đã hội tụ được phần nào những điều thần bí của Phong thuỷ

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.