bài viết trong chuyên mục "dịch học"

âm dương tổng luận bát trạch bát tự biểu phí bủa trú phù ấn phong thủy câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch tử bình tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn dịch học. Hiển thị tất cả bài đăng

Tam Ban Xảo Quái
Trong những cách cục có thể giúp cho trạch vận của căn nhà được lâu dài, bền bỉ thì ngoài cách “Hợp Thập” còn có những cách cục “Tam ban quái”.
    Nói “Tam ban quái” là vì trong toàn trạch bàn, các vận-sơn-hướng tinh tại mỗi cung hoặc là nối liền nhau thành 1 chuỗi như 1-2-3, 2-3-4, 3-4-5, 4-5-6, 5-6-7, 6-7-8, 7-8-9, 8-9-1, 9-1-2, hoặc là tạo thành những chuỗi số cách đều nhau 3 số như 1-4-7, 2-5-8, 3-6-9. Cách có những chuỗi số nối liền nhau được gọi là “Tam ban quái”, còn cách có những chuỗi số cách đều nhau 3 số được gọi là “Phụ mẫu Tam ban quái”.
   

     Trong “Phụ mẫu Tam ban quái” còn được chia ra làm 2 loại là “Thất tinh đả kiếp” và “Tam ban Xảo quái”. Riêng trong mục này chỉ xin bàn qua “Tam ban Xảo quái” mà thôi.

     Gọi là “Tam ban Xảo quái” là vì đây là trường hợp “Tam ban quái” kỳ diệu và hiếm có nhất, và do đó cũng là cách cục quý giá và tốt đẹp nhất trong mọi cách cục của Huyền không Phi tinh. Nó chỉ xuất hiện khi các vận-sơn-hướng tinh tại mỗi cung kết hợp thành 1 trong 3 cặp số: 1-4-7, 2-5-8, 3-6-9. Điều kiện tiên quyết là tất cả các cung phải có 1 trong 3 cặp số này, tức là toàn bàn đắc Tam ban quái thì mới được coi là đắc “Tam ban Xảo quái”.
     Thí dụ: nhà tọa THÂN hướng DẦN (tức hướng 60 độ), nhập trạch trong vận 8.

     Nếu lập trạch vận thì ta thấy tất cả các cung đều có 1 trong 3 cặp số 1-4-7, 2-5-8 hay 3-6-9, cho nên căn nhà này toàn bàn là cuộc Tam ban quái, và được coi là đắc “Tam ban Xảo quái”.

     Vì cách cục như trên là rất hiếm, nên trong tổng số 1944 cách cục của Phi tinh thì chỉ có 16 cách là hội đủ điều kiện của “Tam ban Xảo quái” như sau:


     - Nhà tọa CẤN hướng KHÔN: trong các vận 2, 5 và 8.
     - Nhà tọa KHÔN hướng CẤN: trong các vận 2, 5 và 8.
     - Nhà tọa DẦN hướng THÂN: trong các vận 2, 5 và 8.
     - Nhà tọa THÂN hướng DẦN: trong các vận 2, 5 và 8.
     - Nhà tọa SỬU hướng MÙI: trong các vận 4 và 6.
     - Nhà tọa MÙI hướng SỬU: trong các vận 4 và 6.


    Đối với Huyền không Phi tinh, những nhà đắc “Tam ban Xảo quái” được coi là kỳ diệu, vì chẳng những là mỗi con số được cách nhau 3 số, “giống như 1 chuỗi ngọc đính liền nhau, (thuận hay nghịch đều cách 3), hoàn toàn tự nhiên, không chút gượng ép” như Trạch vận Tân án đã nói, mà còn vì trong 3 cặp số đó, mỗi cặp đều có 1 số tiêu biểu cho Thượng Nguyên – Trung Nguyên – Hạ Nguyên. Như 1-4-7 thì 1 là số của Thượng nguyên, 4 là số của Trung nguyên, 7 là số của Hạ nguyên. Với cặp 2-5-8 thì 2 là số của Thượng nguyên, 5 là số của trung nguyên, 8 là số của Hạ nguyên. Với cặp 3-6-9 thì 3 là số của Thượng nguyên, 6 là số của Trung nguyên, 9 là số của Hạ nguyên. Các số 1-4-7 lại đều là những số khởi đầu của Tam nguyên, 2-5-8 đều là những số giữa, 3-6-9 đều là những số cuối, nên vừa có thể làm cho tương thông (hay thông khí) hết cả 3 Nguyên, lại vừa không bị rối loạn hoặc pha tạp. Những cặp số có thể làm thông khí cả Tam Nguyên há không phải là lâu dài hay sao? Lại không bị rối loạn hoặc pha tạp, há không phải là quý khí hay sao? Cho nên những nhà đắc được cuộc “Tam ban Xảo quái” chẳng những vận khí sẽ rất lâu dài trong suốt Tam Nguyên Cửu Vận, mà vì còn đắc quý khí, nên nếu biết cách xử dụng thì dòng họ đời đời sẽ phú quý, danh gia vọng tộc. Nếu không biết cách xử dụng thì cũng chỉ bình thường, thậm chí có thể mang lấy nhiều tai họa tùy theo từng trường hợp
Những trường hợp Tam Ban Quái phát sinh tai họa



     Tuy một số nhà đắc cách “Tam ban Xảo quái” chẵng những đã không gặp được điều gì tốt lành, lại bị nhiều tai họa liên tiếp xảy ra, hại người tốn của... là do những nguyên nhân sau đây:

     1) Nhà thường chỉ có cửa trước, chứ không có cửa sau. Lý do là vì những nhà đắc “Tam ban Xảo quái” hầu như bao giờ cũng gặp trường hợp “Thượng Sơn, Hạ Thủy”, vượng tinh của Hướng sẽ tới phía sau nhà, còn vượng tinh của Sơn sẽ tới phía trước. Nếu phía sau nhà không có cửa hoặc hồ tắm... thì vượng tinh của Hướng đã bị “Thượng Sơn”, nên tài lộc sẽ gặp nhiều khó khăn, bế tắc. Nếu như phía trước nhà đã có cửa mà còn trống, thoáng, thì vượng tinh của Sơn đã bị “Hạ thủy”, chủ phá bại về nhân đinh. Đó là chưa kể trong 16 cách cuộc đắc “Tam ban Xảo quái” thì đa số lại còn bị Phản-Phục Ngâm, nên làm sao tránh được tai họa? Cho nên tối thiểu là nhà phải có cổng, cửa, hay thủy tại khu vực có vượng khí của Hướng tinh, dùng cách “Nhất chính đương quyền” để hóa giải những cuộc “Thượng Sơn, Hạ Thủy” và Phản-Phục ngâm thì mới có thể tránh được tai họa (nên nhớ là cách “Thượng Sơn, Hạ Thủy” của Phi tinh chỉ là về hình thức, tức là vì Hướng tinh chiếu tới phía sau nhà, nên trên danh nghĩa thì nó đã bị “lên núi” tức “Thượng Sơn”. Nhưng nếu phía sau nhà có thủy hoặc cửa ra vào thì nó đã “gặp nước”, nên biến thành cách “Đáo Hướng”, chứ không còn là cách “Thượng Sơn” nữa. Tương tự với Sơn tinh tới hướng trên danh nghĩa là “Hạ Thủy”, nhưng nếu phía trước có núi hay nhà cao thì Sơn tinh đã “gặp núi”, nên lại biến thành cuộc “Đáo Sơn”. Còn về Phản-Phục ngâm thì chúng chỉ gây tai họa trong trường hợp là khí suy, tử mà thôi. Nên nếu phương có vượng khí mà có cửa hoặc sông hồ... thì cái họa do Phản-Phục ngâm cũng không còn nữa).

     2) Phía sau nhà đã không có cửa, lại còn có núi cao hay nhà cao. Phía trước nhà đã có cửa, lại còn thêm trống, thoáng thì tai họa càng nặng.

     3) Nếu đã phạm các điều ở trên, mà hướng nhà lại kiêm nhiều, vị trí cửa, bếp, bàn thờ... còn phạm Không vong thì tai họa càng nghiêm trọng.

     4) Phía sau nhà đã không có cửa hay thủy, còn cửa trước tuy không nằm ngay đầu hướng, nhưng lại nằm trong 1 khu vực làm tiết thoát nguyên khí của hướng tinh nơi đầu hướng (tức Hướng tinh ở hướng phải sinh cho Hướng tinh nơi cửa) thì cũng gặp nhiều tai họa.

     5) Những nhà tuy phía sau có cửa, nhưng lại bị nhà hàng xóm cao hoặc áp sát, phía trước tuy không có cửa, nhưng có sân trống hay thủy... thì cũng vẫn là cách cục phá bại và gặp nhiều tai họa.

     Gần đây, có 1 số nhà Phong thủy lại cho rằng những nhà đắc “Tam ban Xảo quái” cần phải vuông vức, để tất cả các cung của Bát quái đều nằm gọn trong căn nhà và chiếm 1 phần bằng nhau, chứ không thể có cung nào bị lọt ra ngoài nhà hay chiếm 1 phần quá ít so với những cung khác!!! Họ cho rằng chỉ có những nhà như thế mới phát phúc, lộc, còn những nhà không vuông vức thì sẽ gặp nhiều tai họa. Tuy nhiên, nếu gặn hỏi lý do thì họ thường chỉ trả lời được rằng nếu các cung không đồng đều, hay có 1, 2 cung lọt ra ngoài cửu cung thì Tam ban quái sẽ không đầy đủ, nên khí sẽ “không thông” mà gây ra tai họa. Nhưng thật ra nếu xét kỹ “tiêu chuẩn” này thì có thể nhận thấy là ngay chính họ cũng không biết lý do tại sao những nhà đắc “Tam ban Xảo quái” mà cũng vẫn bị họa, nên mới đưa ra “tiêu chuẩn” nhà cần vuông vức. Và vì không tìm được lý do giải thích, cho nên họ mới xoay sang “kết hợp” đủ mọi lý thuyết khác để tìm câu giải đáp như sau:

     - Về hình cục loan đầu: thì những gì vuông vức đều được coi là tốt đẹp, làm cho khí lưu thông điều hòa, còn những gì méo mó, lệch lạc đều bị coi là xấu, là làm cho khí bị bế tắc hoặc trì trệ, thiên lệch... mà làm hỏng cuộc “Tam ban Xảo quái”.

     - Về vận khí: hầu hết các cuộc đắc “Tam ban Xảo quái” đều xuất hiện trong các vận 2, 5, 8 tức là Thỗ vận, nên nếu nhà vuông vức thì tướng nhà sẽ hợp với nguyên vận (hình vuông thuộc Thổ) mà làm cho tốt đẹp.

     - Về phương vị: vì chỉ có những nhà nằm trong tọa hướng CẤN-KHÔN, KHÔN-CẤN (tức trục ĐÔNG BẮC –TRUNG CUNG - TÂY NAM) là đắc “Tam ban Xảo quái”, mà Ngũ hành của trục này đều thuộc Thổ, cho nên hình dáng của căn nhà mới “cần” vuông vức để hợp với Ngũ hành của tọa-hướng và trung cung mà giúp cho thông khí hoặc tăng thêm cái tốt, chế hóa được cái xấu...



     Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều nhà đắc “Tam ban Xảo quái”, lại vuông vức nhưng vẫn gặp tai họa như 1 số trường hợp dưới đây:

     - Trường hợp 1: nhà tọa SỬU hướng MÙI (210 độ), nhập trạch trong vận 6 (1965). Nhà hình chữ nhật, chiều dài của mặt tiền là 9m, chiều sâu 4m 5, có cửa trước tại khu vực phía TÂY NAM, cửa hông tại khu vực phía TÂY. Phía sau không có cửa, chỉ có nhà hàng xóm áp sát ngay sau tường.





     Nếu lập tinh bàn thì thấy có vượng khí Lục bạch của Hướng tinh tới phía sau, cửa trước có hướng tinh Cửu Tử, cửa hông có Hướng tinh Ngũ Hoàng. Sau khi vào ở được 2 năm thì người ông nội mất, sau đó 8 năm thì người cha mất (lúc đó mới có 49 tuổi). Về kinh tế thì gia cảnh ngày 1 túng thiếu, trong nhà luôn có người bệnh hoạn.

     - Trường hơp 2 (trong Trạch vận Tân án, trang 412): nhà tọa MÙI hướng SỬU kiêm KHÔN-CẤN 3 độ (tức hướng 33 độ), nhập trạch năm CANH NGỌ (1930, tức thuộc vận 4). Trong sách không nói kích thước bao nhiêu, nhưng theo hình vẽ thì nhà hình vuông. Phía sau không có cửa, ở hướng cũng không có cửa, chỉ có 1 cửa duy nhất nằm tại phương KHẢM để ra, vào mà thôi.





     Nếu lập tinh bàn thì thấy vượng khí của Hướng tinh tới phía sau, phía trước có hướng tinh Nhất bạch, nơi cửa ra vào có Hướng tinh Tam bích. Nhà này sau khi vào ở làm ăn thất bại, hao tài tốn của, xung đột với khách hàng, lại còn bị thầy Phong thủy tiên đoán “sẽ có giặc cướp đến quấy nhiễu, hoặc bị kẻ xấu vu khống khiến phải hao tổn nhiều tiền của”, nên khuyên 1 là làm cửa và đường đi thông phía sau, 2 là “tìm ngay 1 căn nhà khác để thuê và chuyển đến sẽ tránh được tổn thất”.

     - Trường hợp 3 (cũng trong Trạch vận Tân án, trang 202): nhà của 1 đại phú gia, xây dựng vào vận 2, tọa CẤN hướng KHÔN (tức hướng TÂY NAM – 225 độ). Đây là 1 dinh thự “có quy mô hùng tráng, trông như lâu đài vua chúa”. Nhà có cổng, cửa ra vào tại khu vực phía NAM, phía sau (tức khu vực ĐÔNG BẮC) có biển mênh mông.





    Nếu lập tinh bàn thì sẽ thấy phía ĐÔNG BẮC đắc vượng khí Nhị Hắc, phía NAM đắc sinh khí Tam bích, nên tuy trong sách không vẽ hình dáng ra sao, nhưng trong vận 2, vượng khí chiếu đến phía ĐÔNG BẮC, mà nơi này có đại thủy mênh mông, nên “phát đạt vô hạn, tiến triển mạnh mẽ, có thể nói là nhà phát phúc duy nhất trên quần đảo”. Qua vận 3, hướng tinh Nhị Hắc tuy đã biến thành thoái khí, nhưng cửa khẩu nơi phía NAM lại đón được vượng khí, nên “vẫn tiếp tục phát triển thịnh vượng như vận trước”. Cuối vận 3, vượng khí đã hết, công việc làm ăn gặp thất bại nặng, sự nghiệp trong phút chốc ra tro, chủ nhân đau buồn mà chết. Nhìn vào trạch vận này, Thẩm điệt Dân tiên sinh (tức con trai của Thẩm trúc Nhưng) đã từng nhận định:”Toàn bộ cục diện này hợp thành Tam ban quái, nên vận 2 đại vượng, vận 3 vẫn có lợi. Nhưng khi sắp sang vận 4 thì sẽ thất bại nặng, chỉ e còn có tai họa khác đáng sợ hơn”.

    - Trường hợp 4: nhà tọa KHÔN hướng CẤN kiêm THÂN-DẦN 5 độ (tức hướng ĐÔNG BẮC – 50 độ). Xây trong vận 8, vào ở từ đầu năm 2006, nhà trên tầng thứ 5 của 1 chung cư lớn. Cầu thang chung của tầng lầu nằm tại khu vực phía ĐÔNG NAM (so với căn hộ), từ đó đi vòng ra khu vực phía ĐÔNG rồi tới phía ĐÔNG BẮC trước nhà. Cửa trước nằm trong 2 cung SỬU-CẤN (đều thuộc ĐÔNG BẮC), cửa sau ra ban công (balcony) nằm trong khoảng giữa 2 cung KHÔN-ĐOÀI (nhưng chủ yếu tại KHÔN). Bếp nằm tại khu vực phía BẮC. Nhà này khá vuông vức, chiều dài 9m, chiều rộng 7m.





     Nếu lập tinh bàn của căn nhà thì thấy phía ĐÔNG NAM có 4-1 đồng cung, nơi đó có cầu thang chung cho cả tầng lầu nên động khí mạnh, chủ người trong nhà có bằng cấp, công việc và tài lộc ổn định. Cửa sau đắc vượng khí Bát bạch, nhưng vì không có đường dẫn khí nên chỉ tạm được chứ không tốt lắm. Cửa trước gặp hướng tinh Ngũ Hoàng nên chủ tai họa, bệnh tật. Bếp nằm nơi phía BẮC có hướng tinh Thất xích nên khí huyết kém, có tai họa về đường con cái. Chính vì vậy mà sau khi vào ở thì người vợ mắc bệnh về khí huyết và bị hư thai.

     Qua 4 trường hợp trên, ta thấy ngay cả đối với những nhà đắc “Tam ban Xảo quái” thì họa, phúc vẫn là do cổng, cửa hay những phương vị có sơn-thủy... quyết định, chứ không phải là do nơi hình dạng của căn nhà có vuông vức hay không. Ngay cả trong trường hợp 3 tuy không biết hình dạng căn nhà như thế nào, nhưng nếu nó thiên lệch thì tại sao trong vận 2 và 3 vẫn vượng phát, cực thịnh 1 thời? Còn nếu nó vuông vức thì tại sao khi sắp qua vận 4 cơ nghiệp lại hóa thành tro, bụi? Cho nên nguyên do tạo ra họa, phúc cũng vẫn là cổng, cửa và những phương vị có Son, Thủy... mà thôi. Ngoài ra, có 1 vài trường hợp nhà đắc “Tam ban Xảo quái” cũng đòi hỏi nhà cần vuông vức, nhưng là để thỏa mãn những yếu tố khác, chứ hoàn toàn không liên quan gì tới cách cục này cả. Sau cùng, tuy trong lý thuyết thường nói những nhà hay mộ đắc cách này đều sẽ được “thông khí” và phát suốt Tam Nguyên Cửu Vận, nhưng thật ra muốn đạt được sự “thông khí” thì cần phải thỏa mãn 1 số điều kiện cần thiết thì phúc lộc mới được trường cửu, lâu dài.


DỰ ĐOÁN HÀ LẠC

Dự đoán Hà Lạc bao gồm 3 bước:

A- Xem xét Cấu trúc Hà Lạc của chủ thể thuộc loại Mệnh hợp cách, hay Mệnh không hợp cách.
B- Nghiên cứu Quẻ Dịch và Hào.
C- Làm Lời giải.

==================================

A- Mệnh hợp cách và Mệnh không hợp cách

Trong Dự đoán Hà Lạc, đây là một vấn đề rất quan trọng, đồng thời cũng cực kỳ phong phú và phức tạp. Cùng một quẻ và hào, cho kết quả dự đoán rất khác nhau đối với người có Mệnh hợp cách và người có Mệnh không hợp cách. Quẻ và Hào rất tốt, đối với người Mệnh không hợp cách đôi khi trở nên đầy hiểm họa, ngược lại, những hào xấu, quẻ xấu đối với người Mệnh không hợp cách thì lại hóa hay.

Mệnh hợp cách là gi? Mệnh có thể hiểu là Ngôi nhà cuộc đời, sống động hơn có thể hiểu là Đường đi Nước bước của một Con Người hình thành từ khi Con người ra đời. Trong Toán Hà Lạc thì Mệnh chính là Cấu trúc Hà Lạc (mà ta vừa vạch ra). Cách, nằm trong cụm từ Quy Cách, là những thể thức hợp lý, hợp lẽ, những thể thức có tính quy luật. Vậy Mệnh hợp cách là Mệnh, hoặc Cấu trúc Mệnh, hợp với quy luật thuận hành của Trời Đất.

Người xưa đặt ra 10 tiêu chuẩn cho Mệnh hợp cách là:

1- Tên quẻ tốt.
2- Vị trí hào Nguyên đường tốt.
3- Lời hào Nguyên đường tốt.
4- Được mùa sinh (Lấy quẻ Nguyệt lệnh làm chuẩn).
5- Nguyên đường có yểm trợ.
6- Trị số Âm, Dương hợp mùa sinh.
7- Hành của Mệnh gặp được các quẻ tương ứng thuận lợi.
8- Hào Nguyên đường ngồi vị trí hợp lý (còn gọi là Đáng vị).
9- Can năm sinh gặp quẻ, gặp mùa hợp lý.
10- Gặp được quẻ "Có quần chúng theo".

Trong 10 tiêu chuẩn trên, đạt được ba đến bốn tiêu chuẩn đã là quý lắm. Người xưa tổng kết đánh giá mức độ Mệnh hợp cách bằng địa vị xã hội, cho biết, người đạt 9-10 tiêu chuẩn có thể làm đến chức khanh tướng trong triều đình.

Đi đôi với 10 tiêu chuẩn hợp cách, người xưa cũng nêu lên 10 điểm không hợp cách. Mệnh không hợp cách là Mệnh không hợp với quy luật thuận hành của trời đất. 10 điểm không hợp cách là:

1- Tên quẻ xấu.
2- Vị trí hào Nguyên đường xấu.
3- Lời hào Nguyên đường xấu.
4- Không được mùa sinh (Lấy quẻ Nguyệt lệnh làm chuẩn)
5- Nguyên đường không được yểm trợ.
6- Trị số Âm, Dương không hợp mùa sinh.
7- Hành của Mệnh không gặp được các quẻ tương ứng thuận lợi.
8- Hào Nguyên đường ngồi vị trí không hợp lý.
9- Can Năm sinh gặp quẻ, gặp mùa không hợp lý.
10- Gặp phải quẻ "Bị quần chúng ghét".

Không nên hiểu, Mệnh không hợp cách là ngoài những gì hợp cách, còn lại là không hợp cách. Không hoàn toàn như thế. Có những Mệnh không hợp cách ở mức độ nghiêm trọng, ví dụ sinh mùa hè mà trị số Dương ở dưới 8; lại có Mệnh không hợp cách mức độ trung bình, ví dụ gặp phải quẻ có tên không tốt, nhưng cũng không xấu lắm, ví dụ quẻ Vô Vọng, quẻ Tỉnh. Không có quẻ được lòng quần chúng, nhưng không rơi vào một trong những quẻ không được lòng quần chúng, thì không có nghĩa là phạm vào Mệnh không hợp cách.

Người xưa xem xét rất kỹ loại Mệnh không hợp cách và cho thấy, người phạm 3-4 cách thì làm lụng khổ sở, cuộc đời vất vả; phạm 5-6 cách thì cô độc, phạm 7-8 cách thì đi ăn xin hoặc bị chém giết, phạm cả 10 cách thì không chết non cũng nghèo hèn.

Dưới đây giải thích từng tiêu chuẩn.

1- Tên quẻ tốt.
Ví dụ các quẻ có tên tốt: Càn, Khôn, Hàm, Hằng, Thái, Đại Hữu... Các quẻ có tên xấu: Truân, Khốn, Khuê (Khuê là chia lìa), Bác... Cần biết rằng, có quẻ rất xấu, tên càng xấu, như quẻ Độn (Độn là ẩn, trốn), quẻ Bác (Bác là Tan mất), nhưng sinh tháng 6 được quẻ Độn, sinh tháng 9 được quẻ Bác, thì lại là tín hiệu đẹp, vì đó là những quẻ Nguyệt lệnh (xem dưới đây, giới thiệu tiêu chuẩn 4). Ngày xưa đã có người được quẻ Tiên thiên là Bác, mà làm quan to trong triều đình. Quẻ Bác là quẻ thời âm thịnh, nên đối với mệnh Nữ thì quẻ Bác chưa hẳn đã xấu. Cho nên, tên quẻ cũng chỉ là một tiêu chí để xem xét mà thôi.

2- Vị trí hào Nguyên đường tốt.
Đọc lại bài viết trước, sẽ thấy Nguyên đường rơi vào những hào 2, 5 là những vị trí tốt. Nguyên đường ở hào 1, 4 là trung bình, ở hào 3, 6 thì phải coi chừng. Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ. Có quẻ hào 6 lại là hào tốt, ví dụ hào 6 quẻ Cổ, quẻ Tỉnh là hào tốt, Nguyên đường rơi vào hào này là được vị trí tốt. Cần xem lời hào, rồi hãy phán xét vị trí hào tốt xấu.

3- Lời hào Nguyên Đường tốt.
Ví dụ, quẻ Địa Phong Thăng người có Nguyên đường ở hào 1, vị trí chưa phải là đẹp, nhưng lời hào rất đẹp: Thuận đi lên, rất tốt! (Doãn thăng, đại cát).

4- Được quẻ hợp mùa sinh (Lấy quẻ Nguyệt lệnh làm chuẩn).
Nếu có tiết lệnh dành cho Tháng, thì cũng có Nguyệt lệnh dành cho Quẻ. Nguyệt lệnh là sự "chỉ định" của Trời Đất, sinh tháng nào thì nên được quẻ nào, sẽ là hợp mùa sinh, mang lại nhiều tốt lành, dù quẻ ấy là quẻ xấu. (Ví dụ, quẻ Bác là quẻ xấu, nhưng người sinh tháng 9 được quẻ Bác thì rất tốt, đó là tượng những bà quả phụ làm ăn giàu có, đó cũng là quẻ của người "gái góa lo việc triều đình"). Quẻ Nguyệt lệnh cũng là tiêu chí để xem xét Trị số Âm, Dương có hợp mùa sinh hay không.

Bảng sau đây trình bày 12 Nguyệt lệnh bắt đầu từ tháng 11 hàng năm để bạn đọc dễ nhận xét xu thế sinh trưởng của số Âm, Dương (theo luật “Âm tiêu Dương trưởng, Dương tiêu Âm trưởng”).

Tháng sinh……Chi tháng……..Quẻ hợp mùa sinh
Tháng 11: ………Tý ………..Địa Lôi Phục (1 0 0 0 0 0)
Tháng 12: ………Sửu ….…..Địa Trạch Lâm (1 1 0 0 0 0)
Tháng 01: ………Dần…..…..Địa Thiên Thái (1 1 1 0 0 0)
Tháng 02: ………Mão.……..Lôi Thiên Đại Tráng (1 1 1 1 0 0)
Tháng 03: ………Thìn.……..Trạch Thiên Quải (1 1 1 1 1 0)
Tháng 04: ………Tỵ………..Thuần Càn (1 1 1 1 1 1)
Tháng 05: ………Ngọ….…..Thiên Phong Cấu (0 1 1 1 1 1)
Tháng 06: ………Mùi…..…..Thiên Sơn Độn (0 0 1 1 1 1)
Tháng 07: ………Thân..…...Thiên Địa Bĩ (0 0 0 1 1 1)
Tháng 08: ………Dậu.……..Phong Địa Quán (0 0 0 0 1 1)
Tháng 09: ………Tuất...…..Sơn Địa Bác (0 0 0 0 0 1)
Tháng 10: ………Hợi….…..Thuần Khôn (0 0 0 0 0 0)

Quan sát bảng trên ta dễ dàng nhận thấy, bắt đầu tháng 11 hằng năm, tháng giữa Đông, xuất hiện Hào Dương đầu tiên, sau đó các hào Dương phát triển dần đến Tháng Tư năm sau là quẻ 6 hào Dương. Tháng Năm xuất hiện Hào Âm đầu tiên, đến tháng Mười là quẻ 6 Hào Âm. Đó cũng là Nguyệt lệnh để xem xét Tỷ lệ số Âm Dương theo điểm 6 dưới đây.

Chú ý: Ngoài 12 quẻ Nguyệt lệnh trên đây, tất cả các quẻ còn lại đều được sắp xếp vào từng tháng theo luật “Âm tiêu dương trưởng”, ví dụ quẻ Trạch Địa Tụy thuộc tháng 6. Trong Hà Lạc giải đoán đều có ghi quẻ nào thuộc tháng nào. Người sinh tháng Sáu được quẻ Tụy cũng được coi như hợp mùa sinh, nhưng mức độ không bằng trường hợp người sinh tháng Sáu được quẻ Độn, là quẻ Nguyệt lệnh.

5- Nguyên Đường có yểm trợ.
Hào Nguyên đường là hào Thế. Cách hai hào là hào Ứng. Nguyên đường là Dương có ứng là Âm, hoặc Nguyên đường là Âm có ứng là Dương, là có yểm trợ. Thế và Ứng cùng Dương hoặc cùng Âm là không có yểm trợ. (Chú ý: Cần phân biệt Thế và Ứng của quẻ Hà Lạc với Thế và Ứng của quẻ Dịch ở hệ Hỗn Thiên. Quẻ Hà Lạc, bất kỳ hào nào cũng có thể là Thế và Ứng, tùy theo Nguyên đường hoặc hào chủ ngồi ở đâu, còn quẻ Dịch hệ Hỗn Thiên, mỗi quẻ chỉ có một hào Thế và một hào Ứng). Có Ứng là tốt, nhưng cũng tùy theo hào Ứng ở vị thế nào, tốt hay xấu, mạnh hay yếu, giúp đỡ để làm điều lành hay làm điều dữ.

Hào 1 được hào 4 yểm trợ là tương đối tốt, vì hào 4 ở vị thế trên, mạnh hơn.

Hào 2 được hào 5 yểm trợ là rất tốt, vì hào 5 ở vị thế cao nhất, mạnh nhất (trừ trường hợp ở một số quẻ từ chối sự yểm trợ).

Hào 5 được hào 2 yểm trợ cũng rất tốt, khác nào thủ trưởng được chân tay trung thành giúp đỡ (hào 2 bao giờ cũng ở vị thế Trung, nếu lại Chính nữa, thì còn gì hơn).

Hào 3 được hào 6 yểm trợ thì không ăn thua gì, vì hào 6 ở thế suy, thời mạt. Tuy vậy, hào 6 ở một số quẻ đang ở đỉnh cao của quẻ, hội tụ sức mạnh thì sự yểm trợ lại có ý nghĩa (ví dụ, hào 6 quẻ Tỉnh).

Hào 6 được hào 3 yểm trợ thì đáng lo hơn mừng, vì hào 3 thường ở vị thế bất chính, chứa đựng những tín hiệu không lành.

Hào Đại vận nào cũng coi như hào Thế của Đại vận ấy, cần xem xét có yểm trợ hay không, và chất lượng yểm trợ như thế nào.

6- Trị số Âm Dương hợp mùa sinh (dưới đây gọi là số Âm Dương) là một tiêu chí quan trọng đối với Toán Hà Lạc, mang đầy tính dự báo. Số Âm Dương đã được sử dụng để tìm mã số quẻ, nay dùng để xem xét Mệnh hợp cách, đồng thời, bản thân nó cũng cho những dự báo tổng quát.

Quy tắc:

a- Ngưỡng để xem xét số Âm Dương có hợp mùa sinh hay không là hai con số 25 và 30, đã dùng làm modulo để tìm Mã số Quẻ. Số 25 là số Dương, số 30 là số Âm.

Chuẩn mực để xem xét là: Tỷ lệ hai số Âm, Dương phải hợp với mùa sinh.

Sinh mùa Xuân hai số ấy phải ở Tỷ lệ ngang hòa, nghĩa là số Dương khoảng 25 hơn kém một ít, tùy theo quẻ Nguyệt lệnh. Số Âm khoảng 30 hơn kém một ít, tùy theo quẻ Nguyệt lệnh.

Càng sang mùa Hạ, số Dương cao dần, số Âm thấp dần. Sinh mùa Hạ, số Dương phải cao, số Âm phải thấp.

Theo Nguyệt lệnh, càng sang Thu, số Dương thấp dần, số Âm cao dần. Sinh mùa Thu, số Âm Dương lại ngang hòa, nhưng càng sang Đông, số Dương thấp dần, số Âm cao dần.

Sinh mùa Đông, số Âm phải cao, số Dương phải thấp.

Theo Nguyệt lệnh, càng sang Xuân, số Âm thấp dần, số Dương cao dần để trở về ngang hòa.

Tháng Tư, Tháng Mười, Nguyệt lệnh thuần Dương và thuần Âm, nhưng không có nghĩa chỉ có số Dương hoặc chỉ có số Âm. Về nguyên tắc, vẫn có đầy đủ hai số Âm Dương, tất nhiên với tỷ lệ cao và thấp. Nhưng ngưỡng cao thấp cũng không nên quá, sẽ phạm vào Cô Âm, Cô Dương.

Người xưa không định được con số cụ thể cho các tỷ số Âm Dương, chỉ nêu nguyên tắc như trên để vận dụng. Hình 2 (xem phụ lục) biểu diễn một cách tài tình sự vận động tiêu-trưởng số Âm Dương và quẻ Nguyệt lệnh.

Sau đây là những chỉ dẫn cụ thể hơn:

Số Dương thuận mùa sinh:

- Từ sau tiết Đông Chí đến trước Vũ Thủy (Tháng 11, 12 và đầu tháng Giêng) số Dương ít là tốt. Nhiều thì sẽ bị hình khắc, thương tổn.

- Từ sau Lập Xuân đến trước Xuân Phân (Tháng 1-2) số Dương nên vừa phải (Nguyệt lệnh là quẻ Thái). Số Dương ít thì không phấn phát lên được.

- Từ sau Thanh Minh đến trước Tiểu Mãn (Tháng 3, 4) số Dương nhiều là tốt (Nguyệt lệnh quẻ Kiền, quẻ Quải). Vừa vừa cũng được; ít nên lo.

Số Âm thuận mùa sinh:

- Từ sau Hạ Chí đến trước Xử Thử (Tháng 5, 6 và đầu tháng 7), số Dương còn nhiều. Số âm ít là tốt. Nếu Âm nhiều thì tổn hại.

- Từ sau Lập Thu đến trước Thu Phân (Tháng 7, 8) số Âm vừa là tốt. (Nguyệt lệnh quẻ Bĩ, 3 âm, 3 dương). Nếu số Âm ít thì có hại, người nhu nhược, không phấn phát.

- Từ sau Hàn Lộ đến trước Tiểu Tuyết (Tháng 9) số Âm nhiều là tốt. (Nguyệt lệnh quẻ Bác 5 hào Âm; sau đó đến quẻ Khôn 6 hào Âm).

Số Dương bằng 25: Lợi cho Nam, không lợi cho Nữ. Sinh tháng lẻ thì phú quý, sinh tháng chẵn thì nghèo nàn và khắc mẹ.

Số Âm bằng 30: Lợi cho Nữ, không lợi cho Nam. Lợi nhưng cũng không được toàn mỹ. Sinh tháng chẵn còn mừng, sinh tháng lẻ cô đơn, khắc khổ.

Số Dương không đủ 25: Từ 9 đến 24 là Không đủ. Sinh vào Tháng Tý (Tháng 11) Sửu (Tháng 12) thuận thời thì còn khá, nhưng cũng đáng lo. Sinh vào Tháng Dần (Tháng 1) đến Tháng Tỵ (Tháng 4) là nghịch thời thì hoàn toàn kém: khắc cha, kém phúc, kém thọ. Nếu không được Quẻ, Hào tốt, Nguyên đường có yểm trợ thì còn xấu hơn.

Số Âm không đủ 30: Từ 18 đến 28 thì gọi là Không đủ. Sinh từ sau Hạ Chí đến Lập Thu là thuận thời thì còn khá. Sinh từ Thu phân trở đi đến trước Tiểu Tuyết thì kém Thọ, kém Phúc, không có hậu, và có thể chôn mẹ trước. Nữ sinh vào Ngày, Giờ Tý Ngọ, Mão, Dậu thì khắc Mẹ; hoặc Cha già, Mẹ là vợ bé; hoặc bản thân làm con nuôi.

Số Dương quá yếu (Cô Dương): Từ 4 đến 8 là số Dương quá yếu. Mệnh Nam thì gian nan, tân khổ. Sinh tháng chẵn còn đỡ, sinh tháng lẻ càng xấu.

Số Âm quá yếu (Cô Âm): Từ 8 đến 12 là số Âm quá yếu. Mệnh Nữ từ nhỏ đã mồ côi hay phải xa lìa cha mẹ, nghèo nàn, khắc khổ, cô đơn.

Số Dương quá nhiều: Từ 40 đến 60 là quá nhiều, nếu sinh vào Tháng 3, 4 (Nguyệt lệnh là quẻ Quải, Kiền, 5-6 hào Dương) thì không hại gì. Sinh mùa khác là ngược, tượng hào quá cương, có việc hối hận.

Số Âm quá nhiều: Từ 50 đến 60 là quá nhiều, nếu sinh sau Lập Đông đến trước Đông Chí, thì không hại gì. Sinh mùa khác rất hại, dễ gặp hình thương, khốn khổ.

7- Hành của Mệnh gặp được quẻ tương ứng thuận lợi (Còn gọi là Được Thể).
Lấy Can Chi năm sinh và Nạp Âm (còn gọi là Mạng, Mệnh) đối chiếu với “Bảng Ngũ Mệnh gặp Quẻ” (Ngũ mệnh đắc quái) sau đây, nếu cái được nhiều thì thuận (Có sách gọi là Được Thể), nếu cái không được nhiều hơn, thì không thuận.

Bảng Năm Mạng gặp quẻ

* Mạng Kim
Người tuổi Canh, Tân, Thân, Dậu và Nạp âm Kim gặp:

Kiền: Phú quý.
Khảm: Bồng bềnh, chìm nổi.
Cấn: Nên ẩn cư.
Chấn: Có điều sở đắc, tốt.
Tốn là cơn gió: Xuân Hạ mát mẻ; Thu Đông lạnh lùng.
Ly: Nghịch chiều trong hành động.
Khôn: Được phúc lành
Đoài: Đắc địa, tốt.

* Mạng Mộc
Người tuổi Giáp, Ất, Dần, Mão và Nạp âm Mộc, gặp:

Kiền: Nhiều hão huyền, ít thực tế.
Khảm: Hãm, mắc kẹt, không làm lớn được, không lâu bền được.
Cấn: Tốt về Xuân, Hạ, bất lợi về Thu, Đông.
Chấn: Vinh hoa.
Tốn: Tuổi nhỏ hay bị dao động, gặp sự trắc trở, lo âu. Không tự chủ, bình tĩnh.
Ly: Hương thơm, sắc tươi bị tổn thiệt.
Khôn: Phải đợi thời, rồi mới phát đạt.
Đoài: Giữa mùa Thu mới khởi sắc.

* Mạng Thủy
Người tuổi Nhâm, Quý, Hợi, Tý và Nạp âm Thủy gặp:

Kiền: Như có suối nước chảy, sẽ gặp thời cơ phát đạt.
Khảm: Hãm, nên lúc lành lúc dữ không định trước được.
Cấn: Có hiểm trở, khó khăn.
Chấn: Cuộc đời như nước chảy xuôi dòng, nhưng chẳng được nhàn hạ.
Tốn: Sóng gió bất kỳ. Về các mùa Thu, Đông có điều đáng ngại.
Ly: Tranh đấu khắc khổ. Thành có bại có.
Khôn: Nhu thuận, nhàn nhã.
Đoài: Như nguồn nước chảy dồi dào. Mọi việc hanh thông.

* Mạng Hỏa
Người tuổi Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ và nạp âm Hỏa gặp:

Kiền: Quang minh, sáng láng, nếu có hào tốt thì phi thường
Khảm: Phản phúc, phá hoại.
Cấn: Ích kỷ, hại nhân.
Chấn: Như thiêu đốt, tác động không bền.
Tốn: Như lửa gặp gió, có thừa dịp may để khởi cơ nghiệp.
Ly: Lửa gặp lửa, mừng giận thất thường, trong ngoài không tương ứng, bên ngoài bị rình rập, trong không đề phòng.
Khôn: Lưỡng tình, tương đắc, gặp dịp thuận lợi.
Đoài: nghi nghi hoặc hoặc, không quyết.

* Mạng Thổ
Người tuổi Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và nạp âm Thổ gặp:

Kiền: Có lành có dữ.
Khảm: Hãm, mắc kẹt, rủi ro nhiều.
Cấn: Những tháng Tứ quý (3, 6, 9, 12 - Thìn, Mùi, Tuất, Sửu) thì phát tài, có hậu, nhiều tốt lành.
Chấn: Có thương tổn, chỉ ích cho người, vất vả, rơi rụng, xấu nhiều.
Tốn: Như gió quét đất làm nổi bụi, lắm chuyện ồn ào, sôi động, vất vả.
Ly: Nếu mất của, của lại tìm về, phúc không nhỏ.
Khôn: Phúc lộc trùng trùng, có địa vị quan trọng ở địa phương, lên trung ương cũng làm chuyên gia.
Đoài cũng như Kiền.

8- Hào Nguyên đường ngồi vị trí hợp lý (Còn gọi là Đáng vị).
Điểm 2 trên kia xem xét Nguyên đường ở vị trí Hào tốt hay không tốt đối với bất kỳ quẻ Dịch nào. Điểm 8 yêu cầu xem xét vị trí Nguyên đường theo 3 tiêu chuẩn:

- Sinh tháng Âm, Nguyên đường ngồi hào Âm; sinh tháng Dương, Nguyên đường ngồi hào Dương, là Đáng vị.

- Đã thống kê 19 quẻ có 21 hào Đáng vị, Nguyên đường ngồi đúng vào một trong 21 hào đó là Đáng vị.

- Đã thống kê 14 quẻ có 14 hào Không đáng vị, Nguyên đường ngồi đúng vào một trong 14 hào đó là Không đáng vị.

Bảng thống kê 21 hào Đáng vị

Thứ tự……….Tên quẻ kép……Hào Đáng vị

01…………………Cấu……………..hào 5
02…………………Bĩ……………….hào 5
03………………..Tấn………………hào 2
04………………..Tiết………………hào 5
05………………..Ký Tế……………hào 2
06………………..Lý……..…………hào 5
07………………..Tỉnh………..……hào 5
08………………..Tùy………………hào 5
09………………..Tốn………………hào 5
10………………..Gia Nhân……..…hào 4
11………………..Cổ……………..…hào 2
12………………Hoán………………hào 5
13………………Đồng Nhân……….hào 5
14………………Khôn………………hào 5
15………………Phục………………hào 1
16………………Lâm…………….…hào 4
17………………Lâm…………….…hào 5
18………………Quải………………hào 2
19………………Quải………………hào 5
20………………Kiển………………hào 5
21………………Khiêm………….…hào 2

Bảng Thống kê 14 hào không đáng vị

Thứ tự……….Tên quẻ kép……Hào Không đáng vị

01…………………Bĩ………………....hào 3
02………………..Tấn………………..hào 4
03………………..Khuê………………hào 3
04………………..Trung Phu………hào 3
05………………..Phong…………….hào 4
06………………..Chấn……..…..….hào 3
07………………..Dự………..……...hào 3
08………………..Thăng…………...hào 6
09………………..Vị Tế………………hào 3
10………………..Quải…………..….hào 1
11……………….Nhu………………..hào 6
12………………Đoài…………….….hào 3
13………………Tụy………………...hào 4
14………………Tiểu Quá…………hào 4

9- Can năm sinh gặp Quẻ, gặp Mùa hợp lý.
Đối chiếu với Bảng 9, thấy Thiên Can phối với quẻ nào, nếu cấu trúc Hà Lạc của chủ thể có quẻ đó là hợp lý, được quẻ khác, đối chiếu thêm với bảng Năm Hành gặp quẻ (bảng 14), lại thấy khắc nữa, là trái lý. Ví dụ Bảng 9 cho biết Tuổi Tân gặp quẻ Tốn, đối chiếu với cấu trúc Hà Lạc của chủ thể, nếu có Tốn là hợp lý. Nhưng đối chiếu thêm với bảng 14, nếu thấy trong cấu trúc Hà Lạc có thêm Khảm, thì tính hợp lý giảm, vì Khảm thì hãm, số phận bồng bềnh chìm nổi. Cũng như vậy, tuổi Giáp gặp Kiền thì tốt, nhưng Kiền Kim khắc Giáp Mộc, không tốt bằng Tuổi Nhâm gặp Kiền, vừa được phối quẻ (xem Bảng Ngũ Mệnh gặp quẻ) vừa được Kim sinh Thủy, tính hợp lý cao hơn.

10- Có quần chúng theo hay Bị quần chúng ghét.
Những quẻ có 1 hào Âm hoặc 1 hào Dương là những quẻ phản ánh cuộc đời của chủ thể có quần chúng (đám đông) theo hay ghét. Đây cũng là một trong 10 tiêu chuẩn Mệnh hợp cách. Đối chiếu 2 bảng thống kê sau đây, nếu cấu trúc Hà Lạc của chủ thể có quẻ cùng tên, là có mệnh Quần chúng theo, hoặc Bị quần chúng ghét. Hào được chỉ dẫn chính là Hào chủ của Quẻ. Hào đó (ở quẻ Quần chúng theo) trùng với Nguyên đường là Mệnh người đó làm công tác quần chúng rất tốt.

Bảng thống kê 8 quẻ “Có quần chúng theo”:

1- Quẻ Phục, hào 1 Dương được niềm vui mở đầu.
2- Quẻ Sư, hào 2 Dương, như người ở giữa ba quân.
3- Quẻ Khiêm, hào 3 Dương, tốt về sau, muôn dân đều phục.
4- Quẻ Dự, hào 4 Dương, người có chí lớn làm nên.
5- Quẻ Tỷ, hào 5 Dương, được gần gũi công khai.
6- Quẻ Tiểu Súc, hào 4 Âm hợp với chí trên (Hào 5 Dương).
7- Quẻ Đỉnh, hào 5 Âm lợi về chính bền.
8- Quẻ Bác, hào 6 Dương, người lớn đi xe, kẻ nhỏ làm tan nhà của chính nó.

Bảng thống kê 3 quẻ “Bị quần chúng ghét”:

1- Quẻ Cấu, hào 1 Âm, vị thế thấp mà ràng buộc cây kim, thì ràng buộc sao được?
2- Quẻ Đồng Nhân, hào 2 Âm, chỉ thân với người cùng tông phái nên đáng thẹn.
3- Quẻ Quải, hào 6 Âm, chẳng kêu gọi ai được nữa, cuối cùng xấu.

Tổng hợp về 10 tiêu chuẩn Mệnh hợp cách: Thuận mùa sinh thì thịnh, nghịch mùa sinh thì nguy. Quẻ và Hào hợp Thời, hợp Nguyệt lệnh, lại được tên quẻ tốt, lời Hào đẹp, được Hào vị, có yểm trợ, thế là Phú Quý song toàn. Trái lại là bần tiện.

Muốn biết Lớn Nhỏ thì xem Quẻ. Muốn biết Sang Hèn thì xem Hào vị cao hay thấp. Muốn biết Cát Hung xem ở Hào Âm hay Dương. Trị số Âm Dương nếu không hợp, tuổi Âm hào Nguyên đường là Dương, tuổi Dương hào Nguyên đường là Âm thì cục diện như sau: Đối với tuổi Dương, trước cùng khốn sau giàu có; đối với tuổi Âm là người trọng lợi, khinh tài.

................Xuân Cang 
B- Nghiên cứu quẻ Dịch và Hào.

Trong cuốn “Bát tự Hà Lạc lược khảo”, nhà nghiên cứu Học Năng đã lược dịch toàn bộ 64 quẻ Dịch dành riêng cho Dự đoán học Hà Lạc, do nhà Dịch học nổi tiếng Trung Quốc Trần Hy Di (tức Trần Đoàn, đời Nhà Tống) biên soạn. Chúng ta sẽ thấy, Trần Hy Di chủ yếu dựa vào Tượng và Lời Tượng của mỗi quẻ, mỗi hào, các mối quan hệ Âm Dương trong mỗi hào, mà đưa ra những dự đoán khái quát cho từng quẻ, từng hào trong những thời điểm khác nhau: một chặng đường đời (Đại vận 9 năm và 6 năm), một năm, cho đến một tháng. (Sở dĩ chúng tôi nói “chủ yếu dựa vào Tượng...”, là vì trong một số quẻ và trong nhiều hào, Trần Hy Di cũng dựa vào cả Lời Kinh, chứ không riêng Tượng  Lời Tượng).

Lời Kinh ở đây là Lời của Chu Văn Vương chú thích cho từng quẻ và Lời của Chu Công Đán chú thích cho từng hào. Còn Lời Tượng là trích trong sách Đại Tượng truyện của Khổng Tử căn cứ vào Tượng quẻ và Tượng hào mà chú thích cho từng quẻ và từng hào (chú thích cho quẻ gọi là Đại tượng, chú thích cho hào gọi là Tiểu tượng). Trong sách của Học Năng, ông cho biết, đi đôi với lược dịch sách của Trần Hy Di, ông có biên soạn thêm, căn cứ vào nhiều học giả khác và kinh nghiệm của bản thân.

Đến lượt chúng tôi, khi biên soạn những bài giảng thực hành này, đến lúc phải trình bày 64 quẻ Dịch và 384 hào, chúng tôi cũng dựa vào sách của Học Năng là chính. Tuy nhiên, cách làm của chúng tôi có khác:

- Chúng tôi lược bỏ một phần lớn những chữ phiên âm từ chữ Hán, chỉ giữ lại phần dịch nghĩa. Ngay phần dịch nghĩa, chúng tôi cũng cố gắng tìm cách diễn đạt sao cho bạn đọc ngày nay dễ tiếp cận với ý tứ của người xưa. Chúng tôi chỉ lược bỏ một phần lớn chữ Hán, chứ không dám nói là tất cả. Ví dụ, toàn bộ tên 64 quẻ Dịch, thay đổi một chữ, ít nhất vào thời buổi này, cũng sẽ là ngớ ngẩn, vả lại cũng chưa đến lúc phải làm như thế. Tên quẻ, ngoài chữ Hán - Việt, chúng tôi có bổ sung tiếng Pháp, để bạn đọc rộng đường suy ngẫm. Chúng tôi nghĩ rằng, sẽ đến lúc tên quẻ Phong Thủy Hoán đọc là Gió Mây Tan.

- Chúng tôi căn cứ vào các sách dịch và biên soạn của các tác giả Dịch học Việt Nam hiện có trong tay, biên soạn bổ sung những gì liên quan đến Dự đoán học Hà Lạc mà chúng tôi tiếp nhận được và những gì giúp cho bạn đọc hiểu thêm về các quẻ Dịch và các Hào. Trong các sách nói trên thì chủ yếu là bộ Kinh Dịch (Trọn bộ) do Ngô Tất Tố dịch và hai cuốn Quốc văn Chu Dịch diễn giải của Phan Bội Châu, tức tập 7 và 8 trong Phan Bội Châu Toàn tập. Hầu hết những điều dẫn giải trong các bộ sách trên đã được Nguyễn Hiến Lê chọn lọc, tổng hợp rất tài tình và sắc sảo trong cuốn sách Kinh Dịch, Đạo của người quân tử. Mặc dầu ông nói ngay ở đầu sách rằng, ông nghiên cứu Kinh Dịch chủ yếu là về Triết học và Đạo đức học, nhưng khi ông trình bày 64 quẻ Dịch, thì cũng đầy những lời thuộc về Dự đoán học, bởi những bộ phận đó gắn với nhau, bổ sung cho nhau, không tách ra được. Khi bạn đọc thấy lời giảng sau hàng chữ “Nguyễn Hiến Lê giảng”, thì có nghĩa là trong lời giảng ấy đã tổng hợp, lồng ghép các ý kiến dẫn giải của Khổng Tử, Trình Di, Chu Hy, Phan Bội Châu và các học giả uyên thâm khác.

Riêng đối với tác phẩm của Phan Bội Châu, chúng tôi nhận thấy, bên cạnh những lời giảng Dịch, dẫn giải chính thức câu chữ của Thánh hiền, ông còn những đoạn Phụ chú rất hay.

Phụ chú là Ghi thêm. Tại đây ông "ghi thêm" những thẩm định, những cảm nhận, những điều ông tâm đắc, tâm huyết đối với một chữ, một nhận định của thánh hiền; ông ghi thêm những liên hệ, so sánh giữa một Thời, một hoàn cảnh thể hiện trong một Hào với một sự kiện, một nhân vật lịch sử nào đó.

Ví dụ, khi dẫn giải Hào 4 quẻ Tùy, ông liên hệ với Trần Hưng Đạo; khi dẫn giải quẻ Tụng ông liên hệ với cuộc Đại chiến thế giới thứ nhất của Thế kỷ 20; hào 2 quẻ Tụng khiến ông nhớ tới nhân vật Nguyễn Hoàng, Trịnh Kiểm và lời khuyên bất hủ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông tuyệt nhiên không liên hệ một lời nào với hoàn cảnh lịch sử và hoạt động cách mạng của chính ông, nhưng đọc sâu vào các Phụ chú ấy, ta sẽ thấy toàn bộ trước tác về Chu Dịch của ông chính là bản tổng kết vĩ đại cuộc đời ông, chỉ có điều, ông không nói ra mà thôi. Bản thân những Phụ chú ấy tập hợp lại đã là môt tác phẩm lớn chứa chất đầy tâm huyết của ông. Do nhận xét trên, mà trong phần Hai cuốn sách này, được sự khuyến khích của nhà thơ lão thành Khương Hữu Dụng, người học trò của Phan Bội Châu, nhân chứng sống hiếm hoi còn lại cho đến ngày chúng tôi biên soạn sách này, đã từng nhiều lần tiếp kiến Phan Bội Châu, chúng tôi không bỏ lỡ một cơ hội nào có thể trích dẫn các Phụ chú tuyệt vời của Phan Bội Châu, nhằm giúp bạn đọc hiểu thêm một góc độ thâm thúy khác của Dịch học ở Việt Nam. Có điều cần nói trước là, do cụ Phan sử dụng nhiều tiếng Huế cổ và xen nhiều chữ Hán, nên trong nhiều trường hợp chúng tôi buộc phải "dịch" lại ý kiến cụ bằng ngôn ngữ hiện nay, mong các bạn thông cảm và lượng thứ cho những trường hợp còn vụng về, sai sót.

Để có thể ứng dụng thành thạo các quẻ Dịch vào Dự đoán Hà Lạc, bạn nên nghiên cứu đi sâu vào một số quy luật của Dịch học mà chúng tôi giới thiệu tóm tắt sau đây:

1- Quy luật Âm Dương.

Dịch học cho rằng, Âm Dương là hai nhân tố phổ quát, đối lập nhau và tác động vào nhau làm nên sự vật, có mặt trong mọi cấu tạo của sự vật. Âm Dương bao trùm cả không gian (như phía Bắc, phía Nam), thời gian (như đêm ngày), thời tiết (như Đông Hạ, nắng mưa), không vật gì hữu hình hay vô hình trong vũ trụ mà không có Âm Dương. Âm Dương xoắn xuýt gắn bó với nhau, tác động vào nhau mà làm nên sự vật.

Không những Âm Dương xoắn xuýt với nhau làm nên sự vật, mà trong mỗi yếu tố Âm Dương đều có mầm mống của nhau, trong Âm có Dương và trong Dương có Âm. Điều này thể hiện trong đời sống hàng ngày: trong sự sống có cái chết, và trong cái chết sự sống còn tiếp tục, trong phúc có họa, trong họa có phúc...

Âm Dương tương phản.

Âm Dương là hai yếu tố trái ngược nhau, tương phản nhau, như nam và nữ, sáng và tối, ngày và đêm, sống và chết, cứng và mềm... Chính do tính chất tương phản, tác động vào nhau mà sinh ra sự biến chuyển không ngừng của sự vật. Sự tương phản ấy thể hiện thành hiện tượng phổ biến Âm thịnh thì Dương suy, Dương thịnh thì Âm suy. Sự thành của Âm là sự hủy của Dương và sự thành của Dương là sự hủy của Âm.

Âm Dương tương giao, tương thành.

Âm Dương tuy tương phản, trái ngược nhau đấy, nhưng không tương khắc như nước với lửa, mà tương giao (gặp nhau), tương thôi (xô đẩy nhau), tương thế (thay thế nhau). Âm Dương tương giao, tương thôi, tương thế theo những nhịp điệu khác nhau, tùy sự vật, tùy nơi, tùy thời, cứ cái này xuống thì cái kia lên, cái này lên thì cái kia xuống, mỗi cái làm chủ trong một thời rồi lại nhường chỗ cho cái kia.

Không những vậy, Âm Dương còn tương thành nữa, có nghĩa là âm dương tác động vào nhau mà tạo thành sự vật mới. Chúng tương thành vì chúng bổ túc cho nhau: Ngày sáng để vạn vật sinh hoạt, đêm tối để vạn vật nghỉ ngơi, hè nóng để vạn vật phát triển, đông lạnh để vạn vật gom lại sức. Tương thành vì còn một lẽ nữa: Nếu cái nọ diệt cái kia thì không cái nào còn cả. Không còn Âm thì cũng không còn Dương, không còn Dương thì làm sao có Âm, mà vũ trụ, vạn vật cũng không có (Nguyễn Hiến Lê).

Âm Dương tương cầu, tương ứng.

Âm Dương còn một tính cách nữa là tương cầu, tương ứng, có nghĩa là âm dương tìm đến nhau, cầu gặp nhau và so sánh, đối đáp nhau, hòa hợp nhau. Có vậy thì mới tương thành mà sinh ra vạn vật. Trong vũ trụ, không loài nào không theo luật đó. Kinh Dịch diễn luật đó bằng sự tương quan giữa các cặp hào 1-4, 2-5, 3-6 đã trình bày ở bài 2. Khi Âm Dương tương ứng thì Dương xướng Âm họa, như Trời và Đất, như quẻ Càn và quẻ Khôn. (Càn cương kiện, Khôn nhu thuận, Càn tạo ra vạn vật ở vô hình, thuộc về phần khí, nhưng phải nhờ Khôn vạn vật mới hữu hình, mới sinh trưởng, cho nên công của Khôn cũng lớn như công của Càn, chỉ khác Khôn có đức Thuận, tùy theo Càn, bổ túc cho Càn mà tiếp tục công việc của Càn, còn vai trò của Càn là khởi xướng.)

2- Luật Phản phục, tuần hoàn.

Âm Dương thay thế nhau được là do một luật phổ biến là Luật phản phục, tuần hoàn (Dưới đây gọi tắt là Luật Phản phục). Luật này cho thấy, bất cứ sự vật nào hễ cực thịnh thì đến suy, cực suy thì đến thịnh, khi sự vật chuyển biến tới chỗ cực Thịnh hay cực Suy thì sự vật lại biến diễn quay trở lại theo chiều nghịch với phương hướng cũ, cứ thế mà tiếp tục phát triển. Từ cực thịnh, trải qua suy vi tới diệt vong thì gọi là phản, từ diệt vong lại phát sinh để phát triển đến chỗ cực thịnh, gọi là phục...

Bảng Nguyệt lệnh (Bảng 13) là một ví dụ đầy đủ và sinh động về Luật Phản phục. Bạn hãy quan sát quẻ Càn (Nguyệt lệnh tháng Tư) là thời kỳ Dương cực thịnh, đồng thời bắt đầu thời kỳ Dương suy, sang tháng Năm một hào Âm xuất hiện thành quẻ Cấu, khí Âm thịnh dần lên, khí Dương suy kiệt dần, 6 hào Dương bị hào Âm chiếm ngôi hết thì thành quẻ Khôn (Nguyệt lệnh tháng 10) là Âm cực thịnh. Từ đây bắt đầu thời kỳ Âm suy, dương thịnh, tháng 11, một hào Dương lại sinh, thành quẻ Phục, khí Âm suy dần, 6 hào Âm bị 6 hào Dương chiếm ngôi hết thì lại thành quẻ Càn. Cứ một lần phản, một lần phục, phục rồi lại phản, thành luật Tuần hoàn.

Luật Phản phục phát huy tác dụng mạnh nhất trong quỹ đạo đời người là khi chuyển từ quẻ Tiên thiên, Tiền vận sang quẻ Hậu thiên, Hậu vận. Các nhà sáng tạo Hà Lạc đã hoán vị quẻ Thượng Tiên thiên thành quẻ Hạ Hậu thiên, Hạ Tiên thiên thành Thượng Hậu thiên, đồng thời biến Nguyên đường Dương thành Âm hoặc Âm thành Dương, thành quẻ Hậu thiên mới. Chúng ta cũng đã thấy cách tính Đại Vận và Tiểu Vận của Hà Lạc theo luật Phản phục, quẻ mới bao giờ cũng từ trong lòng quẻ cũ sinh ra, đồng thời tạo ra một sự chuyển dịch mới bằng cách biến một hào Âm thành Dương hoặc Dương thành Âm. Hết một Đại vận thì quỹ đạo đời người cũng sang một giai đoạn mới có chuyển biến về chất.

3- Chữ Thời

Người xưa từng nói: Cả bộ Kinh Dịch, quy lại chỉ một chữ Thời. Quả thật như vậy, 64 quẻ Dịch là 64 Thời. Quẻ Càn nói về Thời tự cường, như rồng lên cuồn cuộn. Quẻ Khôn nói về thời nhu thuận, bao dung, như đất dày bao bọc. Quẻ Khốn nói về thời cùng khốn, quẻ Khuê nói về thời chia lìa, quẻ Độn nói về thời phải ẩn tránh... Cấu trúc Hà Lạc sẽ cho ta biết Mệnh ta thuộc về thời nào trong trời đất và trong cuộc sống con người. Thời đây là Thời của bản thể, không phải Thời sự, thời cuộc khách quan. Thời của mỗi người sẽ cho ta biết lúc nào nên cương, lúc nào nên nhu, lúc nào nên tiến, lúc nào nên thoái, lúc nào nên động, lúc nào nên tĩnh, lúc nào nên nhường nhịn, lúc nào nên tấn công, cải cách vào lúc nào thì thành công, có đức thành tín là hay, nhưng cũng phải biết biến thông mới tốt. 64 quẻ Dịch x 6 hào = 384 hào, cũng là 384 Thời, 384 hoàn cảnh. 384 thời và hoàn cảnh ấy lại được đặt trong hàng ngàn mối tương quan âm dương với những cấp độ khác nhau, vị trí hào khác nhau, ở những nơi khác nhau, với những kiểu người khác nhau tạo nên biết bao nhiêu tình huống được dự đoán và xử lý.

4- Chữ Tượng

Tượng là những hình thái cụ thể giúp ta hình dung ra các khái niệm của dịch học, hoặc nói cách khác, những khái niệm dịch học bắt nguồn từ những hình thái cụ thể đó. Có tượng quẻ và tượng hào.

Quẻ Càn, tượng là Trời (chữ Hán là Thiên), Khôn là Đất (Địa), Cấn là Núi (Sơn), Chấn là Sấm (Lôi), Tốn là Gió, cũng là Cây (Phong), Ly là Lửa (Hỏa), Đoài là Đầm, Hồ (Trạch). Tượng quẻ còn bao gồm Hành quẻ, Phương quẻ và Thời quẻ. Càn, Đoài thuộc hành Kim; Khôn, Cấn thuộc Thổ; Chấn, Tốn thuộc Mộc; Ly thuộc Hỏa; Khảm thuộc Thủy. Càn thuộc phương Tây Bắc, Đoài Chính Tây, Khôn Tây Nam, Cấn Đông Bắc, Chấn Chính Đông, Tốn Đông Nam, Ly Chính Nam, Khảm chính Bắc. Đoài thuộc mùa thu, Khảm thuộc mùa Đông, Chấn thuộc mùa Xuân, Ly thuộc mùa Hạ, còn Càn, Khôn, Cấn, Tốn ở vào thời chuyển tiếp giữa các mùa.

Tượng hào gồm hào Âm, hào Dương và vị trí hào đó trong quẻ, ví dụ hào Dương trong quẻ Khảm, nằm giữa hai hào Âm, tượng cho sự hiểm nạn, cũng tượng cho lòng chí thành, tính cách trí tuệ và xu thế vượt hiểm.

Các nhà dự đoán học Hà Lạc rất quan tâm tới tượng quẻ và tượng hào, từ đó suy đoán ra những vấn đề thuộc Khí chất, Tính cách, Xu thế phát triển, Phương hướng vận động, nhất là Thiên hướng trong nghiệp nghệ, trong ham muốn và cảm súc của chủ thể. Nhờ có Tượng quẻ mà trong phần 3 cuốn sách này, tôi đã thử phác họa chân dung các nhà văn, soi chiếu dưới ánh sáng của Hà Lạc, cảm thấy bổ ích và lý thú vô cùng khi nhận biết, khám phá một sự nghiệp văn chương.

5- Thể và Dụng

Thể là những yếu tố thuộc về bản thể, bản chất, hoặc nguyên thể. Dụng là những yếu tố thuộc về quá trình vận dụng, ứng dụng.

Dịch học là khoa học về vũ trụ, còn là khoa học về con người, về nhân sinh. Vì vậy nên mới có Thể và Dụng. Có một cấu trúc nguyên thể tốt mà không biết tận dụng thời cơ và hoàn cảnh, thì nhiều khi tốt cũng bằng không. Ngược lại có một nguyên thể xấu, là kẻ tiểu nhân đấy, nhưng biết dùng mưu mẹo, biết thời vận, vẫn được “số đỏ” như thường. Dịch học nêu chữ Thời để từ đấy mà khuyến khích người quân tử biết Thể còn phải biết Dụng. Biết thời biết thế, còn phải biết làm gì cho hợp thời, kịp thời, đúng thời, làm gì cho chính bền, chính bền cũng phải đúng thời, thì mới phát triển được, chính bền lại ở giữa thời cuộc (Trung), mà không biết tận dụng thời cơ, thì cũng hỏng đời.

Nhân nói quân tử, tiểu nhân, chúng tôi xin chép đoạn bình luận rất hay sau đây của Nguyễn Hiến Lê.

Ông viết: Dịch không ghét tiểu nhân, vì có tiểu nhân mới có quân tử, có Âm mới có Dương, có thiện thì có ác, không sao diệt hết được ác. Cuộc chiến đấu với ác, với tiểu nhân không bao giờ chấm dứt. Nó khuyên ta thời bình thường phải khoan dung đôn hậu với tiểu nhân (quẻ Lâm), mà vẫn sáng suốt để ý, thấy chúng ló dã tâm thì chế ngự ngay (quẻ Cấu). Nhưng khi tiểu nhân mạnh, đắc thời, thì phải biết tùy hoàn cảnh mà đối phó một cách thận trọng: bước đầu, tình thế chưa khó khăn, có cơ cứu vãn được phần nào, thì hành động (quẻ Truân), khi đã nguy rồi (quẻ Kiển và quẻ Khốn) thì nên chờ thời, mà vẫn giữ đức trung chính; tuy nhiên, nếu có người nào quyết tâm hy sinh, chống chọi một cách tuyệt vọng để cứu dân cứu nước (hào 2 quẻ Kiển) thì vẫn quý, phục. Tới lúc tiểu nhân bắt đầu suy, thì đoàn kết nhau lại mà tấn công (quẻ Tụy), chế ngự chúng (quẻ Đại Súc) và sau cùng là diệt chúng (quẻ Quải).

Dịch lại nhắc ta rằng, trong đám tiểu nhân vẫn có những người lỡ lầm, nhưng biết phục thiện, khéo dẫn dụ thì họ sẽ trở về đường chính (quẻ Phục); mà trong việc chiến đấu với tiểu nhân, có những tiểu nhân bỏ bè của chúng, mà về với phe quân tử (hào 3, hào 5 quẻ Bác); còn trong phe quân tử, cũng có người thân cận với tiểu nhân, rồi sau cải quá (hào 3 quẻ Quải), cương quyết bỏ chúng để theo chính nghĩa. Cuối cùng, phe quân tử thắng, mà không bao giờ hết người quân tử (hào 6 quẻ Bác).
 
C- Làm lời giải.

1- Lời giải một bài toán Hà Lạc bao gồm những nội dung sau.

- Nhận xét tổng quát: Những thông tin quan trọng nhất ảnh hưởng đến tính cách và hành lang số phận xuyên suốt cuộc đời của chủ thể. Những thông tin này tìm thấy ở:

* Tám chữ Can Chi và Năm hành tương ứng với Quẻ.
* Trị số Âm, Trị số Dương.
* Hóa công, Thiên nguyên khí, Địa nguyên khí.
* Mệnh hợp cách hoặc Mệnh không hợp cách.
* Cấu trúc Hà Lạc của chủ thể. Quẻ Tiên thiên và ý nghĩa. Hào Nguyên đường Tiên thiên và ý nghĩa. Quẻ Hậu thiên và ý nghĩa. Hào nguyên đường Hậu thiên và ý nghĩa.
* Tượng quẻ. Những tố chất thiên nhiên thẩm thấu vào tính cách, cảm xúc, chi phối phương hướng hành động của chủ thể.
* Những nét lớn của Tiền vận, đối chiếu giữa Tiền vận và Hậu vận.

- Giải về Tiền vận.
Những thông tin này tìm thấy ở Cấu trúc quẻ Tiên thiên - Tiền vận, hào Nguyên đường, quẻ Hỗ Tiên thiên, các hào Đại vận. Quẻ Tiên thiên lấy ra từ Tổng số Âm Dương phản ánh số mệnh Trời Đất dành cho chủ thể. Nó không chỉ có giá trị đối với Tiền vận, mà còn có ảnh hưởng xuyên suốt cả cuộc đời. Theo Luật Phản phục, nó đã biến thành quẻ Hậu Thiên, nhưng quẻ gốc vẫn còn giá trị tham khảo trong những năm sau, nhất là Nguyên đường tiên Thiên. Trong Cấu trúc Hà Lạc, quẻ Tiên thiên là bản thể, là cấu trúc thuần chất. Vì thế cần quan sát và suy ngẫm cho kỹ quẻ Tiên thiên trong khi làm lời giải, sẽ thấy chủ thể là người như thế nào. Ví dụ, quẻ Tiên thiên của bạn là Thủy Phong Tỉnh, thì quẻ đó chi phối suốt đời bạn là sự yên tĩnh, như cái giếng, làng xóm có thể dọn đi, nhưng giếng thì ở lại (làng đổi, giếng không đổi), tĩnh thì có phúc lộc (có nước mạch, múc lên ăn), động thì bị hại (như giếng hoang, chim chóc không thèm đến).

Khung vuông Toán Hà Lạc giải trong mỗi quẻ gồm những gợi ý chính giúp bạn nhanh chóng tìm lời giải Tiền vận của chủ thể, nhưng xin bạn đừng đóng khung ở đó. Linh cảm và sự hiểu biết sâu xa của bạn về Kinh Dịch và Lý Số Hà Lạc sẽ giúp bạn vượt khung, phản biện để có những tìm tòi mới vô hạn.

- Giải về Hậu vận.
Những thông tin này tìm thấy ở Cấu trúc quẻ Hậu thiên - Hậu vận, hào Nguyên đường, quẻ Hỗ, các hào đại vận. Nếu Tiên thiên là bản thể, thì Hậu thiên là những gì đã sàng lọc, tích lũy, biến thông trong một quá trình sự sống. Tiên thiên thì tĩnh. Hậu thiên thì động. Cũng vì thế, khi xem xét Tiên thiên cần đến luận lý cơ bản nhiều hơn; khi xem xét Hậu Thiên cần đến thực tế ứng dụng nhiều hơn, có nghĩa, cần xem xét cả Địa điểm, Thời thế, thì mới tìm ra đúng Cuộc xoay vần của chủ thể. Đại vận hào Nguyên đường là Đại vận đầu tiên của Hậu vận, có vai trò chi phối suốt những năm còn lại của cuộc đời. Trong quan hệ Thể - Dụng, thì Tiên thiên là Thể, còn Hậu thiên là Dụng. Ví dụ, quẻ Tiên thiên là Thủy Phong Tỉnh, suốt đời sang đến Hậu vận, cũng vẫn là Tĩnh lợi hơn Động. Nhưng nếu Nguyên đường là hào 6, thì có thể vận dụng. Bởi Hậu vận là Thuần Tốn. Tượng quẻ là hai làn gió. Gió thì di động. Đến đây, gặp hoàn cảnh thuận thì có thể động, Động lợi hơn Tĩnh, có thể đi nước ngoài được.

Hóa Công, Thiên Nguyên khí, Địa Nguyên khí nằm trong Cấu trúc Hà Lạc, có tác động cả đời người. Nếu thuộc Tiên thiên, thì tác động trực tiếp đến những năm Tiền vận. Nếu thuộc Hậu thiên, thì tác động trực tiếp đến những năm Hậu vận. Trong Cấu trúc Hà Lạc, có thể không có Hóa Công, Thiên nguyên khí, Địa nguyên khí, nhưng gặp quẻ Năm, Tháng có Hóa Công hoặc Nguyên khí, thì năm tháng ấy cũng được hưởng ưu tiên về năng lượng và nguyên khí.

- Giải các Đại vận.
Mỗi hào là một đại vận, hào dương đại vận 9 năm, hào âm đại vận 6 năm. Xem nguyên đường tốt hay xấu, có ứng hay không, ở hào nào có thể biết tổng quát vận mệnh, đến chặng đường đời nào thịnh suy ra sao, tình duyên hôn nhân, công danh sự nghiệp. Các đại vận gắn với Mệnh hợp cách và không hợp cách. Trong các lời hào tốt thường có câu dành cho người có số xấu. Đó là vì đối với người mệnh hợp cách trung bình, chưa đủ mười tiêu chuẩn, vẫn phải nghiên cứu phần nói về mệnh không hợp cách. Số xấu là ở đây. Thêm lẽ biến thông trong Dịch học, trong cái tốt vẫn tiềm ẩn cái xấu và ngược lại. Một chặng đường 9 năm, hoặc 6 năm, có năm tốt năm xấu. Số xấu thường diễn ra trong năm xấu.

- Giải các Tiểu vận Năm.
Mỗi năm là một quẻ Dịch, phản ánh cuộc vận hành năm đó đối với chủ thể. Hà Lạc bảo bạn, năm nay là năm Thuần Cấn, tượng hai trái núi, có nghĩa năm nay bạn gặp nhiều ngăn trở, phải biết ngừng, dừng như đang đi trên đường núi. Hào chủ mệnh của quẻ Năm lại chi phối vận hành năm đó. Nếu chủ mệnh là hào 5 quẻ Thuần Cấn, thì cái ngừng, dừng đó chủ về lời nói, bạn hãy dè dặt về phát ngôn, ăn nói, nhưng chính vì vậy, năm đó là năm lập ngôn của bạn. Các thày giáo, nhà nghiên cứu, nhà văn trong năm đó sẽ giảng hay, viết hay, có những phát hiện mới và nổi tiếng về tài ăn nói. Tài này không đi đôi với hùng biện, mà ở chỗ “biết dè dặt lời nói”, trên cơ sở đó mà “lập ngôn”. Những dự đoán cụ thể về vận Năm lấy ở hào chủ mệnh này.

- Giải các Tiểu vận Tháng.
Một năm có 14 quẻ dùng cho giải các vận tháng. Hai quẻ Tiên thiên và Hậu thiên dùng để giải khái quát diễn biến 6 tháng đầu năm và 6 tháng cuối năm. Riêng quẻ Tiên thiên, đồng thời là quẻ Năm, còn dùng để khái quát vận hạn của cả năm. Mỗi tháng cũng là một quẻ Dịch. Tên quẻ, nghĩa quẻ, tượng quẻ cho ta biết xu thế của tháng đó: thịnh, suy, xấu, tốt… Cũng cho ta biết nội dung vận hành của chủ thể trong tháng. Ví dụ gặp quẻ Khuê, ta biết tháng này có sự chia lìa hay hòa hợp, do xuất hiện sự khác biệt (Khuê là Khác, là chia lìa). Gặp quẻ Cách, ta biết tháng này có sự cải tiến, cải cách, đổi mới. Gặp quẻ Mông, ta biết tháng này có sương mù che tầm mắt, hướng đi dễ thay đổi, hoặc có quan hệ với trẻ em (Mông là Muội, là Non yếu, như trẻ con, như dòng suối mới sinh dưới núi). Xem Lời quẻ, Lời hào thì phải biết vận dụng, vì Lời quẻ, Lời hào khái quát những vấn đề lớn xuyên suốt cuộc đời, hoặc Đại vận. Còn tháng thì bao giờ cũng “cụ thể hóa” hơn. Lời hào có chữ “thọ”, dùng vào dự đoán cho tháng có thể là “có sức khỏe, có bệnh thì khỏi”. Lấy hào chủ mệnh quẻ Tháng để dự đoán cho Tháng là chính.

- Giải đến Ngày, nếu cần.
Tuần Hà Lạc có 6 ngày, mỗi ngày là một hào, bắt đầu từ hào chủ (xem công thức tính vận Ngày). Mỗi hào có ghi sẵn một dòng chữ in nghiêng sau hàng chữ “Toán Hà Lạc giải”. Đó là lời giải tinh túy nhất, có thể dùng cho ngày Hà Lạc đó. Nó cho ta biết xu thế xấu, tốt (trong mệnh của ta) ngày đó, thậm chí cả nội dung xấu tốt. Nhờ biết trước, ta có thể quyết định hành động của ta trong ngày. Tất nhiên, Hà Lạc bảo hôm nay “cẩn thận đường lui tới” nhằm đúng ngày ta đi máy bay, ta vẫn phải đi thôi, nhưng cẩn thận vẫn hơn. Nói chung, Hà Lạc Năm chi phối Tháng, Tháng chi phối Tuần (căn cứ hào chủ trong Tuần), Tuần chi phối Ngày. Dự đoán Ngày chỉ dùng cho mỗi người tự xem, tự biết về mình, không thể làm bài giải cho người khác. Một ngày có 12 giờ Can Chi (mỗi giờ Can Chi gồm 2 giờ đồng hồ). Các chuyên gia Hà Lạc tính toán, mỗi hào cũng chỉ bao quát được khoảng 11, 25 giờ Can Chi trong một ngày. Vậy, còn khoảng 1 giờ 30 phút đồng hồ nằm ngoài dự đoán. Tôi trong vài năm gần đây có nền nếp ghi nhật ký trắc nghiệm Hà Lạc ngày, có khoảng 80% số ngày ứng nghiệm, kể cũng đã là kỳ diệu. Nay với cách tính vận Tháng và Ngày được thử thách hơn, tôi hy vọng những sai số còn nhỏ hơn nữa.

Về nguyên tắc, khi đã hình thành Cấu trúc Hà Lạc của chủ thể, là có thể giải đoán bất kỳ thời điểm nào trong hành lang vận mệnh, quá khứ cũng như tương lai. Cho nên, không nhất thiết phải làm lời giải đến tất cả các Đại vận, Tiểu vận Năm và Tháng trong một lúc, mà có thể làm theo yêu cầu của chủ thể đối với bất kỳ thời gian nào.

- Vai trò quẻ Hỗ.
Ở đây, chỉ nói quẻ Hỗ Tiên thiên và Hỗ Hậu thiên, còn Hỗ Nhân Quả xem ở đoạn sau.

Về mặt cấu trúc, quẻ Hỗ nằm sẵn trong lòng quẻ Tiên Thiên và Hậu Thiên, nó sinh ra từ các hào 2, 3, 4, 5. Các hào 3, 4, 5 thành các hào (4, 5, 6) của quẻ Thượng; các hào 2, 3, 4 thành các hào (1, 2, 3) của quẻ Hạ. Do chỗ nó lặp lại các hào 3 và 4 hai lần và trùng với các hào ở các vị trí trung tâm (2 và 5) và chuyển tiếp (3 và 4) trong quẻ chính nên nó phản ánh mặt động của quẻ chính, nói cách khác nó nhấn mạnh và tô đậm thêm cái phần hồn của quẻ chính. Cái phần hồn đó có thể là một mặt thuận hoặc nghịch nào đó của quẻ chính. Do đó, quẻ Hỗ nằm trong Cấu trúc Hà Lạc của chủ thể. Nó cũng có giá trị nhất định, phản ánh và tác động vào quỹ đạo cuộc đời của chủ thể.

Vì vậy, vai trò của quẻ Hỗ như sau:

a- Trường hợp Hóa Công, Thiên Nguyên khí, Địa Nguyên khí rơi vào hai quẻ Hỗ, thì vẫn được tính như là Cấu trúc Hà Lạc có Hóa Công và các nguyên khí đó.

b- Khi dự đoán các hào của quẻ Chính, thì phải tham khảo các hào có liên quan ở quẻ Hỗ.
Cụ thể là:

Dự đoán hào 2 quẻ Chính, phải tham khảo hào 1 quẻ Hỗ.
Dự đoán hào 3 quẻ Chính, phải tham khảo hào 2 và 4 quẻ Hỗ.
Dự đoán hào 4 quẻ Chính, phải tham khảo hào 3 và 5 quẻ Hỗ.
Dự đoán hào 5 quẻ Chính, phải tham khảo hào 6 quẻ Hỗ.

- Về quẻ Diễn biến Nhân Quả.
Trước hết, nói về quẻ Hỗ Nhân Quả. Hỗ Nhân Quả có vai trò làm cầu nối để xem xét Diễn biến Nhân Quả (nguyên nhân – kết quả), theo giáo lý đạo Phật. Tuy nhiên, khái niệm “nhân quả” ở đây chỉ bao hàm những diễn biến trên trần gian và gắn với một đời người. Nó có phản ánh theo chiều sâu nhân quả sang thế giới bên kia, có tính truyền kiếp hay không, xin bàn ở một dịp khác, khi có điều kiện.

Quẻ Hỗ Nhân Quả không nằm trong cấu trúc Hà Lạc. Nó không dùng trực tiếp cho dự đoán. Ví dụ, khi xem xét ngày giờ sinh có Hóa Công, Thiên nguyên khí, Địa nguyên khí hay không, chỉ xem xét ở 4 quẻ Tiên thiên, Hậu thiên, Hỗ Tiên thiên và Hỗ Hậu thiên.

Như trên đã nói, chức năng của Hỗ Nhân Quả là cầu nối từ Nhân đến Quả. Nếu những dự đoán về diễn biến số phận trên kia là Nhân, thì nhờ quẻ Hỗ này, ta tìm đến một quẻ phản ánh cái Quả tiếp theo, từ cái Nhân đó sinh ra. Nó hình thành nhờ một phép nhân các hào giữa quẻ Tiên thiên và quẻ Hậu thiên. Nhờ nó, cũng bằng một phép nhân các hào, ta sẽ tìm ra một quẻ tạm gọi là Diễn biến Nhân Quả tiếp theo các quẻ Vận Năm, Vận Tháng, kể cả Vận Tuần (Ngày) nếu cần.

Hào chủ mệnh quẻ chính ở đâu thì Diễn biến Nhân Quả nằm ở hào tương đương với hào chủ mệnh đó. Bạn chỉ cần xem dòng chữ in nghiêng sau hàng chữ “Toán Hà Lạc giải” (có tính cô đọng) là thấy cái Quả hiện ra.

Ví dụ, Vận Năm của chính người đang viết những dòng này. Năm nay, anh ta được quẻ Thuần Cấn chủ mệnh hào 5. Diễn biến chính trong mệnh anh ta là như người đi giữa hai trái Núi, đầy đèo dốc ngăn trở, cái ngăn trở chính thuộc về lời nói, năm nay anh ta biết dè dặt lời nói, vì thế mà có mệnh lập ngôn. Cái mệnh lập ngôn đó thể hiện trong việc hoàn thành cuốn sách này. Hỗ Nhân Quả của anh ta là Sơn Hỏa Bí. Quẻ Thuần Cấn nhân với quẻ Sơn Hỏa Bí thành quẻ Thiên Phong Cấu (001001 x 101001 = 011111). Diễn biến Nhân Quả của anh ta ở hào 5 quẻ Cấu: Lấy Dương khắc chế Âm, chính là đạo Trời. Cuốn sách này phải chăng sẽ có thành quả của Dương khắc chế Âm, hợp với đạo trời? Dù sao, Hà Lạc đã báo cho biết trước như thế.

Tìm Diễn biến Nhân Quả cho quẻ Tháng cũng vậy. Quẻ Tháng nhân với Hỗ Nhân Quả thành Diễn biến Nhân Quả, lời giải ở hào tương đương với hào chủ mệnh của quẻ Tháng. Nếu tháng này của anh ta là Lôi Hỏa Phong hào 4 (Thịnh lớn, tuy gặp cấp trên không xứng đáng, nhưng cùng bạn tiến lên thì tốt), thì Diễn biến Nhân Quả là ở (101100 x 101001 = 111010) hào 4 quẻ Thủy Thiên Nhu (Gần nơi hiểm trở rồi. Nên biết tránh sự tai hại). Trong thực tế đó là công việc biên soạn sách tiến hành thuận lợi, được bạn bè cổ vũ, nhưng đã đến đoạn khó, nên biết tránh sự tai hại.

Còn lời giải của Diễn biến Nhân Quả cho một Tuần thì cũng vậy, nằm ở hào tương đương với hào chủ mệnh của quẻ Tuần, có nghĩa là ở một ngày nào đó ứng với hào chủ mệnh đó, ngày đó đồng thời là ngày mở đầu trong Tuần Hà Lạc đó.

Trên đây là những tiêu chí về nội dung. Bài giải có thể dài, ngắn, đơn giản hay kỹ càng, tùy theo năng lực của người giải đoán, nhưng cái mà chủ thể cần là những gì dự đoán trong tương lai sẽ diễn biến trên hành lang số phận của họ, và lời khuyên cần thiết về xử lý, cứu giải. Những giải đoán về quá khứ cũng cần, nhưng chỉ để đối chiếu với thực tế xem Cấu trúc Hà Lạc có đúng không, nếu không đúng thì nguyên nhân vì đâu, có phải do bản khai ngày giờ sinh không chính xác, hay vì những lý do nào khác? Và để gây một niềm tin đối với chủ thể mà thôi.

2- Tính khoa học và tính nghệ thuật của Lời giải đoán Hà Lạc.

2a- Trước hết là vấn đề Số và Lý.
Theo Học Năng, có ba môn mệnh học chính là Tử vi Đẩu Số, Hà Lạc Lý Số và Mệnh Lý. Tử vi dùng hệ thống Sao và Thần phản ánh số phận con người, thiên về sự an bài của số phận. Số phận đã an bài đến từng giờ khắc, con người chỉ còn cách đi trong cái mệnh đã được định sẵn theo quy luật của trời đất.

Mệnh Lý (tức Tứ trụ Dự đoán học, còn gọi là Thuật Tử Bình) cao siêu hơn cả, nó phân tích giữa những nguyên liệu vật lý (năm hành và thời tiết) mà con người thừa hưởng lúc sinh ra, xem thứ nào thừa, thứ nào thiếu, thích ứng, không thích ứng, thành, hủy ra sao, để rồi có cách phát huy, khắc chế thích hợp tạo nên sự cân bằng trong cấu trúc Thân, Mệnh, nhằm phát huy hết tiềm lực bẩm sinh, tạo cho mình một cấu trúc hoàn hảo hơn thiên nhiên đã ban cho. Mệnh lý là môn học cấp tiến nhất phù hợp với tính sáng tạo và tính tích cực của con người.

Ở giữa hai môn Đẩu số và Mệnh lý là môn Lý số Hà Lạc. Môn này lấy phần Số làm phần cứng trong Mệnh người, bởi vì nó hình thành từ ngày giờ sinh, tám chữ Can Chi, là bộ phận không thay đổi được. Nhưng Hà Lạc cũng mở cho Con người một cánh cửa của lý trí, đặt con người trước sự lựa chọn, biết cách len lỏi đi lên trong hành lang số phận, tìm cho mình đường đi nước bước, sao cho hợp lý nhất, tiến thoái, động tĩnh cho đúng với chữ Thời mà triết lý Hà Lạc đã vạch ra. Chính trên cơ sở ấy, mà Con người thích ứng được với Trời Đất và Cuộc sống, khai thác cho mình cái ưu thế tiềm ẩn sẵn có mà không tìm đến với Hà Lạc, thì không bao giờ biết.

Trong giải đoán Hà Lạc, những chỉ dẫn về số mệnh bao giờ cũng đặt ta trước một sự lựa chọn: chủ thể có Mệnh hợp cách hay Mệnh không hợp cách, tỷ lệ những giá trị hợp cách và không hợp cách, chủ thể là tầng lớp người nào, quan chức, kẻ sĩ hay người thường, người thức thời hay không thức thời, chủ thể đang ở Thời nào, Nơi nào, từ đó phải tham khảo những chỉ dẫn số mệnh ở những khía cạnh nào, để mà chỉ ra thật chính xác những gì sẽ diễn ra trong quỹ đạo cuộc đời của chủ thể. Chính vì thế có thể giải thích vì sao tám chữ Can Chi giống nhau, Cấu trúc Hà Lạc giống nhau nhưng số phận các chủ thể không bao giờ giống nhau. Vì sao những người sinh cùng ngày giờ với Vua Quang Trung, lại không thể trở thành những Quang Trung, hay một số phận gần như thế. Nhiều khi, những dự đoán Hà Lạc tiềm ẩn dưới dạng những lời khuyên, nên thế này, nên thế kia. Quẻ Hằng chẳng hạn, nói về đạo vợ chồng trong đời sống thường ngày, là quẻ đẹp, nhưng tượng quẻ và lời quẻ đầy những lời báo động, khuyên ta nên tránh điều này điều kia để giữ được đạo Hằng. Cái điều ta nên tránh, chính là cái sẽ xảy ra trong đời sống vợ chồng mà Hà Lạc đã báo trước.

Tóm lại, Hà Lạc dành cho ta một hành lang rộng rãi, hợp lý để làm chủ số phận mình, và điều này rất thích hợp với những con người thời nay.

2b- Tính cách và số phận.
Dự đoán Hà Lạc có rất nhiều chỉ dẫn về tính cách, và từ đó mà chỉ dẫn về số phận. Đây là một phương pháp có tính lô-gích cao. Ví dụ Hào 1 quẻ Càn có câu: Rồng còn ẩn dưới thấp, đừng dùng gì vội. Mệnh đề rồng ẩn vừa là Thời, vừa là Tính cách. Sức rồng đang mạnh, đức rồng cương kiên nhưng đang là thời sơ mỏng, cần kín đáo, thủ thế đợi thời. Đó là tính cách. Còn số phận là ở chỗ chưa thành sự nghiệp, chưa được dùng, chưa vội. Có những tính cách hình thành từ Mệnh (hành) nào đó, gặp quẻ nào đó. Ví dụ: Mệnh Mộc gặp quẻ Càn thì nhiều mơ mộng hão huyền, ít thực tế. Những tính cách nào hình thành từ một hào đại vận thường tác động trong phạm vi đại vận đó. Nhưng tính cách nào hình thành từ Mệnh (hành) gặp quẻ như người Mệnh Mộc vừa rồi thì nó đeo đẳng người đó suốt đời, cộng với những tính cách khác làm nên một số phận truân chuyên, nhiều khi chủ thể biết rõ mà không thoát ra khỏi.

2c- Tham khảo Toán Tứ trụ.
Gần đây trong nước ta mới lưu hành một cuốn sách dạy dự đoán bằng Tứ trụ của nhà dự đoán học Thiệu Vĩ Hoa, cháu 29 đời nhà Dự đoán học Thiệu Ung, tức Thiệu Khang Tiết danh tiếng. Điều thú vị là Tứ trụ tức tám chữ Can Chi Năm, Tháng, Ngày, Giờ sinh dùng trong môn Toán này cũng rất giống Hà Lạc, là phải tuân theo một cách nghiêm túc Tiết lệnh tháng.

Vì vậy, hoàn toàn có thể tham khảo Toán Tứ trụ để bổ sung cho Toán Hà Lạc. Toán Tứ trụ có hệ thống Lục thân và Sao, Thần phản ánh rất rõ xu hướng nghề nghiệp của chủ thể (Văn võ, sức học, triển vọng sự nghiệp, chẳng hạn quan chức hay chuyên gia) hơn nữa có bảng Sinh Vượng Tử Tuyệt từ gốc Can ngày sinh cho thấy những ưu thế sinh học của chủ thể. Còn Toán Hà Lạc thì mạnh nhất là sự hình thành quỹ đạo đời người cho đến Năm, Tháng, thậm chí Ngày. Tôi trong thực tế thường sử dụng Toán Tứ trụ để bổ sung cho Toán Hà Lạc về dự đoán xu hướng sự nghiệp (như thiên mệnh văn chương của các nhà văn, toán tứ trụ phản ánh rõ hơn), ưu thế sinh học, và đặc biệt là vận hạn cho Năm và Tháng. Bạn đọc thành thạo cả hai thuật toán Hà Lạc và Tứ trụ, sau khi vạch 12 tháng Hà Lạc lại đối chiếu với 12 tháng Tứ Trụ trong một năm sẽ có nhận thức thú vị vô cùng về sự kỳ diệu của văn hóa phương Đông mà lâu nay chúng ta bỏ qua.

2d- Cấp độ xét đoán.
Đối với mỗi cách ứng xử trong mỗi thời và hoàn cảnh, Hà Lạc thường biểu lộ một thái độ xét đoán (đánh giá) theo những cấp độ khác nhau. Nhiều khi tiếng Việt không đủ để cô đúc cho gọn (nói cách khác bạn đọc chưa quen với những cách cô đúc gọn), chúng tôi buộc phải sử dụng từ phiên âm chữ Hán. Sau đây là một số từ miêu tả các cấp độ xét đoán.

Đọc các quẻ Dịch thường gặp bốn chữ “Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh”, đó là bốn đức của quẻ, cũng gọi là bốn đặc tính của quẻ. Chỉ có 7 quẻ có đủ 4 đức, tiêu biểu nhất là quẻ Càn. Còn lại là những quẻ có từ 3-4 đức, 1-2 đức, có quẻ không có đức nào.

Nguyên là đầu tiên, lớn, trùm mọi điều thiện.
Hanh là hanh thông, thuận tiện, tập hợp các điều hay.
Lợi là nên, thỏa thích, hòa hợp các điều phải.
Trinh là chính đáng, bền chặt, gốc của mọi việc.

Ngoài ra ta thường gặp những xét đoán (đánh giá) như sau:

Tốt, là lành, là thuận lẽ trời, lẽ đời, đem lợi ích, may mắn đến cho người. Có quẻ tốt, có hào tốt. (Lời Kinh là cát)
Xấu, dữ là ngược lại với tốt (Lời Kinh là hung).
Xấu hổ là phiền muộn vì lỗi nhỏ, tật mọn (Lời Kinh là lận).
Ăn năn là phạm lẽ phải, phàn nàn, đáng tiếc (Lời Kinh là hối).
Không lỗi có 3 nghĩa là không sai phạm, không trách (lỗi) ai (cái gì) được; không đổ lỗi cho ai (cái gì) được (Lời Kinh là vô cữu).

Trong 3 chữ Xấu, Xấu hổ, Ăn năn (hung, lận, hối), thì Xấu (hung) nặng hơn Xấu hổ (lận); Xấu hổ nặng hơn Ăn năn (hối). Không lỗi (vô cữu) thì không hay, cũng không dở.

Đôi khi, Lời Kinh nói về phương hướng cụ thể, xin hiểu như sau:

Đông Bắc: Hướng khí Dương bắt đầu tiến. Quẻ khuyên ta nên hành động mau, nên tiến, nên đương đầu với mọi khó khăn. Đông Bắc là phía động của khí Dương, phía Tây Nam là phía tĩnh của khí Dương. Thiếu Dương sinh thành ở phía Đông Bắc.

Tây Nam: Hướng khí Dương bắt đầu suy. Quẻ khuyên ta nên dừng lại, nên thoái lui, không nên tiến cũng không nên đương đầu. Ví dụ: Quẻ Kiển có câu: Kiển, lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc. Có nghĩa quẻ khuyên ta ở thời Kiển, vận Kiển thì nên thoái lui, không nên đương đầu.

3- Sau đây là mấy cách thuộc Mệnh quý hiển:

a. Kiền: Người tuổi Ngọ mà được quẻ Kiền là cách Mã Tế Phong (ngựa phi trong gió). Được quẻ Đỉnh, Độn, Cấu cũng cách ấy. Tuổi Ngọ, Mùi được quẻ Đại Hữu là cách Thái Dương Đương Thiên (vầng Thái Dương trên trời).

b. Khôn: Người tuổi Sửu được quẻ Khôn là cách Ngưu Bội Phong (trâu phẫn chí về gió). Được quẻ Quan, Thăng cũng cách ấy.

c. Cấn: Người tuổi Dần, Tuất được quẻ Cấn là cách Cẩu Hổ Tiếu Phong (cẩu hổ cười gió). Được quẻ Cổ là cách Hổ Lộng Phong (hùm rỡn gió). Được quẻ Mông là cách Hổ Ẩm Thanh Tuyền (hùm uống nước suối trong).

d. Chấn: Người tuổi Thìn, Tị được quẻ Chấn là cách Vân Tòng Long (mây theo rồng). Được quẻ Ích là cách Ngư Hỏa Long Môn (cá hóa rồng).

e. Tốn: Tuổi Tị, Dậu được quẻ Tốn là cách Phụ Phượng Thừa Phong (bám cánh con phượng nhân có gió mà bay cao).

g. Ly: Tuổi Ngọ mà được quẻ Ly là cách Chu Tước Hồi Quân (phong thư trở về với chủ).

h. Đoài: Tuổi Dậu mà được quẻ Đoài là cách Trạch Thừa Ân (được ơn trên). Tuổi Dậu, Hợi mà được quẻ Quải thì cũng được cách ấy, được quẻ Trung Phu (sau Giữa Thu) là cách Hạc Minh Cửu Cao (hạc kêu ở chín tầng cao).

i. Khảm: Tuổi Hợi mà được quẻ Khảm là cách Huyền Vũ Đương Quyền. Tuổi Mão được quẻ Giải là cách Ngọc Thỏ Ngoạn Thiềm (ngọc thỏ ngắm trăng). Tuổi Thân được quẻ Tỷ, tuổi Thân, Thìn được quẻ Truân là cách Thỏ Ngoạn Ngân Thiềm (thỏ ngắm vầng trăng bạc). Tuổi Tuất, Hợi được quẻ Nhu là cách Thái Âm Thăng Thiên (vầng Thái Âm lên trời).

4- Mấy Cách thuộc Mệnh không tốt:

a. Tên quẻ Xấu mà không được Hóa Công, Thiên, Địa nguyên khí là xấu.

b. Đại, tiểu vận ở hào Sơ và hào Thượng (1 và 6) thì dù có gặp tai nạn cũng nhẹ thôi. Nếu ở các hào khác (2, 3, 4, 5) mà số âm dương không đủ, thêm gặp năm dương (Can chi năm dương) nếu có tai nạn càng nặng.

c. Quẻ chính Tiên thiên, Hậu thiên mà không có Hóa Công, Nguyên khí thì phải tìm ở quẻ Hỗ, không có nữa mới thực là xấu. Tuy xấu nhưng năm Lưu niên nào có thì năm ấy cũng tương đối khá hơn năm không có, nhất là những quẻ thuộc Thủy Hỏa.

d. Những tuổi Thổ mà gặp quẻ Tốn (Mộc), tuổi Kim gặp quẻ Ly (Hỏa), tuổi Thủy gặp quẻ Cấn (Thổ) là tương khắc, tuy xấu nhưng nếu có Nguyên khí thì cũng không đến nỗi tai họa quá.

e. Tiên, Hậu thiên gặp quẻ Thuần Ly thì hay đau mắt; gặp quẻ Cổ, Đại Quá, Minh Di thì hay bệnh tật; gặp quẻ Phệ Hạp, Vô Vọng, Tụng thì hay tranh chấp, kiện tụng; gặp quẻ Đại Tráng, Khuê, Bác, Truân dù làm nên sự nghiệp, nhưng vất vả gian nan.

g. Đại vận ở quẻ Hậu thiên mà thấy 3 hay 4 hào xấu liền thì dễ chết. 3 năm xấu liền cũng thế.

h. Người tư cách tầm thường, yếu, nghèo hèn mà gặp quẻ, hào rất tốt, bạo phát, thì hẳn là vất vả, có tai hoạ.

i. Hào vị tuy đẹp, nhưng không bằng quẻ Lưu niên đẹp. Hào vị xấu mà Lưu niên lại xấu, thế là xấu lắm.

5- Một vài ví dụ về Luận số của người xưa:

a. Có người đem số đến hỏi Khang Tiết tiên sinh: “Ít người đi tới được đến hào 5 Hậu thiên (đây là nói đến hào thứ 5 của Hậu thiên, tính từ hào nguyên đường Hậu thiên là hào 1), đến hào 1 là đã có thể đoán được sinh, tử rồi. Thế mà có người chưa đầy 20 tuổi đã chết, lại có người thọ đến 8, 9 chục tuổi, là tại sao?” Tiên sinh trả lời: “Sách đã dạy hết các trường hợp, xem chưa kỹ đó thôi. Nên về xem lại, khỏi phải bàn luận”.

b. Trình Y Xuyên nói: “Ta có một người nô bộc tuổi Dương nam, mi thanh mục tú, số hắn được ngồi hào 4 quẻ Kiền. Thế mà hỏi ra thì bố hắn mất sớm, và đến năm 19 tuổi, hắn cũng bị chết bất ngờ. Đó là người tầm thường được quẻ rất tốt cũng ngại lắm.”

c. Tô Đông Pha đi đến Tuế vận được quẻ Bí. Thế mà ba tháng liền, ông Tô ở tại Triều đều bị xui xẻo, ngộ biến, là tại sao? Ông Tô nói: “Ta tuy ngồi được hào vị đẹp, nhưng hành niên nửa xấu nửa tốt (ý nói các vận Tháng nửa xấu, nửa tốt) nên xảy ra thế, chứ không hận gì cả”

d. Sơn Cốc bảo với bạn rằng: “Tôi hiện ngồi ở hào 2 quẻ Truân. Phải hết 10 năm mới được về”. Khi tiên sinh bị an trí ở Dung Châu, liền bảo con rằng: “Trước đây ta ngồi hào 2 quẻ Truân, nay lại ngồi hào Thượng quẻ Phục (Mê phục hung. Mê muội không trở lại, xấu). Thôi hết về rồi.” Sau quả ông mất ở đó.

e. Phú Trịnh Công gặp hào lưu niên xấu, liền viết lên vách để cho con cháu nhìn thấy mà đề phòng cẩn thận.

g. Lý Văn Tịnh Công ngồi hào 2 quẻ Khôn, đến năm gặp hào 4 quẻ Ly (thiêu đốt ư, chết ư, bỏ ư) bèn bảo người nhà: “Sang năm ta chết”. Quả nhiên như vậy.

h. Phạm Văn Chính Công ngồi hào 2 quẻ Đại Hữu (xe lớn chở nặng) biết mình có tài kinh bang tế thế, liền ra giúp nước. Quả có thế thật.


Khai Môn Phong Thủy -

Cấp 1: Bát trạch, do ở mức độ thấp nên độ số không đòi hỏi chính xác.

Cấp 2: Huyền không, ở mức độ cao hơn nên đòi hỏi sự chính xác về độ số cao hơn, nếu lệch khoảng 3 độ phải tính kiêm hướng. Nếu hướng không hợp theo bát trạch nhưng được vị trí tốt thì vẫn tốt hơn là hướng hợp mà vị trí tạo ra cách cục xấu.
 Cấp 3: Khai môn điểm thần sát, đòi hỏi phải chính xác độ số, nếu cách đường phân kim của theo vòng 60 thấu địa long khoảng 0,5 độ là không tính được. Nếu cách cục và hướng tốt nhưng điểm thần sát xấu thì cũng không dùng đặt các tiết minh (bàn thờ, giường ngủ, bàn học, bếp...) được. 16 các cục Huyền không như là bình chứa (hình thức), thần sát như là rượu (nội dung).

Cao cấp: Tam quái, đòi hỏi ngoài sự chính xác về độ số thì thầy địa lý phải có khả năng nhìn được khí (vọng khí, có được sau một thời gian tập các bài tập đặc biệt) từ đó lập ra các phương trình tam quái Thiên, Địa, Nhân (Thiên: ảnh hưởng cả đời, Địa: 20 năm, Nhân: 1 năm), (Dương cơ Âm phần giống nhau ở đây về cách tính).

16 CÁCH CỤC CỦA HUYỀN KHÔNG HỌC
Nhất Vị: là vị trí đặt
Nhị hướng: hướng xác định theo cửu cung phi của bản mệnh

1- Nhất bạch, 2 - Nhị hắc, 3 - Tam bích, 4 - Tứ lục, 5 - Ngũ hoàng, 6 - Lục bạch, 7 - Thất xích, 8 - Bát bạch, 9 - Cửu tử.
Song tinh chính khí bao giờ cũng tại hướng hoặc tại sơn.
Tại hướng tạo ra vượng tài cách (hoặc hạ thuỷ cách)
Tại sơn là vượng đinh cách (hoặc thướng sơn cách)

(1) Khôi tinh cung (1 + 4):
Vượng: thành “Đăng khoa đoạt kim bảng cách”, thuận lợi cho học hành thi cử, thông minh, anh kiệt, tuấn tú: đặt các tiết minh (bàn học, bàn làm việc, giường ngủ của trẻ em...).
Suy: Học tài thi phận.

(2) Phúc đức (Tử tức cung):(4 + 9)
Vượng: Đem lại phúc cho gia đình, cho trạch, đông con, nhiều cháu, gia đình hoà thuận anh em sum họp. Muốn cầu con đặt giường ngủ vào cung này (kết hợp với xoay bếp) để đến năm, ngày giờ nó sinh nhập thì được.
Suy: Hiếm nhân đinh, anh em bất hoà.

(3) Thôi quan cung (1 + 6; 6 + 8]:
Vượng: Chủ quan chức, địa vị, danh tiếng, sự nghiệp. Tốt đẹp cho công việc, cho quá trình phát triển sự nghiệp, công danh của mình (đặt phòng làm việc hoặc cửa...)
Suy: quan vận bất hanh thông, hay bị gẫy đổ, điều tiếng, thị phi, dời đổi trong quan trường.

(4) Tật ách cung (1 + 2; 1 + 5;2 + 5; 3 + 5; 4 + 5):
Ốm đau, bệnh tật, tai hoạ.Nên đặt bất tiết minh (Nhà tắm, vệ sinh, nước thải...)
4 + 5 vượng thành “Hồi lộc chi tai” cách (lộc đến kèm tai họa), suy là hoạ hại.
2 + 5 nếu suy thành “Nhị hắc ôn thần sát”

(5) Đào hoa cung (4 + 7):
Vượng: Hỷ khí, chủ sự may mắn, sớm thành đạt, được nhiều người giúp đỡ, tình cảm, tình duyên, sinh ra người đẹp, khôi ngô, có duyên (Người chưa có gia đình nên đặt cửa, bàn làm việc vào đây, thanh niên mới đi làm đặt bàn làm việc vào đây thì tốt. Kỵ với người có gia đình, con cái, bàn thờ, giường đặt vào; không tốt hay sinh sự).
Suy: Hoạ đào hoa sát (tai hoạ vì tình cảm không trong sáng, không lành mạnh).

(6) Tài lộc cung (1 + 7; 3 + 9; 7 + 8; 8 + 9):
Vượng: Chủ tiền tài, giàu có. Tăng tài tiến lộc, làm ăn thịnh vượng phát tài. Đẹp nhất là đặt cửa ra vào (tài lộc lâm môn là đẹp nhất), hoặc cầu thang (vì động khí mạnh), phòng làm việc, phòng ngủ, bếp nhưng phải xem chủ khách để phụ hoạ thêm vì bếp hành hoả (ví dụ 1-7 đặt bếp thì tốt, nhưng 7-8 thì tài lộc vẫn có nhưng lại ngộ song hao thoát vợi tiền). Nếu mà ra Tuế sát thì có lộc nhưng hay gặp tai hoạ, nếu Tuế hình là lộc chi hình thì có lộc nhưng hay bị hình, rắc rối.
Suy: làm ăn khó khăn hơn, có tiền nhưng hay hao hụt (giống như Lộc ngộ song Hao).

Quyển 1 :Lạc thư đồ

    Ban đầu thì Lạc Thư có 1 điểm trắng 6 điểm đen tại lưng gần đuôi, 7 điểm trắng 2 điểm đen tại lưng gần đầu, 3 điểm trắng 8 điểm đen ở lưng bên trái, 9 điểm trắng 4 điểm đen ở lưng bên phải, 5 điểm trắng 10 điểm đen ở giữa lưng, đại thể như vậy.
- 1 và 6 ở phía dưới phương Bắc sanh Hợi tí thủy
- 2 và 7 ở trên về hướng Nam sanh Tỵ ngọ hỏa.
- 3 và 8 ở bên trái về hướng Đông sanh Dần mão mộc.
- 4 và 9 ở bên phải về hướng Tây sanh Thân dậu kim.
- 5 và 10 ở giữa thuộc trung ương sanh Thin Tuất Sửu Mùi thổ, địa khí thổ nặng phân ra bốn bên vậy



 Hà đồ :

    Tức là hà long giáo đồ vậy, ở lưng có 1 hào dài và 2 hào ngắn, 1 điểm trắng gần đuôi, 9 điểm tía gần cổ, 4 điểm xanh ở vai trái, 2 điểm đen ở vai phải, 6 điểm trắng ở gần chân phải, 8 điểm trắng ở gần chân trái, 3 điểm lục ở hông bên trái, 7 điểm đỏ ở hông bên phải, 5 điểm vàng ở chính giũa lưng. Gồm 9 vị mà sinh ra 7 màu và định phương hướng.
Lấy 3 vạch : 1 vạch dài, 2 vạch ngắn mà sanh hào. Lấy tam tài mà đặt vị trí. Dịch lý từ đây phát sinh vậy.
-  Xét dịch rằng Hà thì xuất đồ Lạc thì xuất thư, Thánh nhân chưa từng nói rõ các số của đồ thư, còn như bậc hán nho xem phục nghi mà định phương vẽ quái biểu thị Ngũ Hành thì thuật gia cũng có cách nói của các thuật gia vậy, các số trong lạc thư mà thuật gia vạch định cũng có khác với các bậc nho học.
Như Tống Châu lấy 1- 6 ở phía Bắc là Hà Đồ, điểm 9 trở về 1 là lạc thư đều cũng do các vị nho hán đời trước. Trần Xuyên Vương lấy phục nghi mà làm dịch phân rõ ràng 2 vạch âm dương nên nói rằng : Dịch có thái cựu sanh lưỡng nghi, lưỡng nghi sanh tứ tượng, tứ tượng sanh bát quái, trước sau tự nhiên như vậy chẳng phải sức người có thể bày bố được, nay nếu cho rằng do cái số ở Hà đồ mà làm dịch thì không theo thái cực mà làm dịch tức chẳng theo luận dịch của Trọng vi ư !
Bậc thánh nhân biểu thị Hà xuất đồ Lạc xuất thư do nơi trời đất mà vẽ ra bát quái thật là thấn ý chỉ dạy của Thánh nhân vậy. Các vị Hán nho không đạt ý này mà dùng phục nghi vạch quái theo Hà đồ và sắp đặt số hạng theo Lạc thư thì quả thật là sai lầm.
Trong Dịch thì trời 1, đất 2 ; trời 3, đất 4 ; trời 5 đất 6 ; trời 7 đất 8 ; trời 9 đất 10. Trời là thuộc dương nên có số 1, 3, 5, 7 và 9. Đất là thuộc âm nên có số 2, 4, 6, 8 và 10. Đây là nói về sự sắp xếp số chẵn và lẻ của trời đất ; về tứ thời và nhị tài cũng đồng một nghĩa ấy vậy.
Các số trong Hà đồ đều có quan hệ với nhau sao ? Huống nửa cách nói trời 1 đất 2 là do sắp xếp sau khi có dịch chứ chẳng phải trước khi có dịch ; Vậy sao lại làm đố mà còn nghĩ Thánh nhân dựa theo đồ thư mà vạch quái ; xem như sách tri thiên hạ như Hồng Phạm, Cửu trù, cửu thức, cửu vũ chẳng là số vậy. Cơ Tử nói : trời có sắc trắng chẳng qua là thủy thổ bằng mặt, chánh nhũ hành để bình ổn thiên hạ, khi nói 9 thì không thể thiếu 1, đó tức là sự cảm ứng giữa Thiên và Nhân vậy, nên phải ở giữa thôi, cho nên sự thứ tự trước sau, nặng nhẹ, nhanh chậm đều theo lẽ tự nhiên.

 Nguyên Tạo Hóa chi Thủy :

- Lão Tử nói : ban đầu tạo hóa, trước chẳng có trên trời đất mà là mẹ của vạn vật hổn độn mà thành, hữu hình sanh ở vô hình ; thuở ban đầu trời đất có thái dịch, có thái sơ, có thái thỉ, có thái tổ. Thái dịch thì chưa có khí, thái sơ thì khí bắt đầu, thái thỉ thì mới tượng hình, thái tổ thì mới tượng chất. Khí với hình và chất hợp mà chưa tan nên gọi là hỗn luân. Trong lịch kỷ nói khi chưa có trời đất thì hỗn độn như kê tử.Trong dịch nói : dịch có thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái,bát quái định ra cát hung.
- Dịch tử nói thái cực tức là trước khi phân chia trời đất, nguyên khí hổn độn làm mị không. Tuyền tử nói : thái sơ tức là cái lý ban đầu vậy, thái hư tức là cái khí ban đầu, thái tổ tức là cái tượng ban đầu, thái tổ tức là khởi đầu của số, thái cực thì kiêm gồm cả lý khí tượng số vậy, do số mà luận ngôn, có thể thấy trước cả hỗn luân chỉ có một khí hỗn hợp u minh hôn muội mà cái lý chưa từng ở trong ấy, cùng với đạo là một đó là thái cực. Trang tử hành đạo lấy thái cực làm đầu, gọi là thái cực tức chỉ về thiên địa nhân khí, và hình đã đủ mà chưa có tên danh, mà đạo lại khác tức huyền không để vật trước cả thái cực, không biết đạo tức thái cực, thái cực tức là đạo, lấy theo lẽ thông thường mà nói tức là đạo, lấy tột cùng của lý tức là thái cực ,sao lại thường có hai điều vậy ?
Cứ xem Châu tử nói ra sự kỳ bí và chu tử diễn giải phân minh, biết rõ cái lý của thái cực mà với khí tự không tương ly vậy; gọi là thái cực tức âm dương động tỉnh mà bổn thể thì không rời khỏi hình khí và rất đoan chính, biến hóa vô cùng mà lại chính xác, một động một tịnh căn gốc tương hổ, phan âm phân dương lưỡng nghi rõ ràng, nghi tức là vật vậy ; thường thì vật chưa từng đối lập mà cũng chưa từng độc lập, trời sinh ra mà trở lại theo đất, đất mang hình mà trở lại theo trời, trời đất có lý khí âm dương là vậy.
Có khí thì có hình, trời đất không sanh nơi trời đất mà sanh ở âm dương ; âm dương không sanh nơi âm dương mà sanh ở động tịnh, động tịnh không sanh nơi động tịnh mà sinh ở thái cực, bởi thái cực tức là cái căn bản tự nhiên vi diệu vậy ; động tịnh thì nương thừa theo sự hoạt động âm dương là nguồn gốc sở sanh vậy.
Thái cực hình mà thượng đạo, âm dương hình mà hạ khí vậy ; động tịnh không chừng, âm dương không trước, đó là sự lập thành của tạo hóa.
- Bách tề Hà tử nói : trời là dương nên động và đến khi nào cực động thì tịnh ;đất là âm nên tỉnh và đến khi nào cực tỉnh thì động. Trời không thể sanh đất, thủy không thể sanh hỏa, kẻ ngu cũng biết vậy.
Trời đất chưa lập mà đạo do nơi trời đất, khi trời đất lập thành là cái lý của thái cực, phân tán ra vạn vật là do nơi ngũ hành mà sanh, ngũ hành nhất âm dương ; 5 tiếp cho 2 chẳng hề dư thiếu. Âm dương nhứt thái cực tinh hay thô vốn chẳng có bĩ thử. Cái chất của ngũ hành có đầy đủ nơi đất mà khí hình thì ở tại trời. Lấy chất mà nói thì thủy, hỏa, mộc, kim, thổ ; thủy hỏa là duong mà hỏa kim là âm vậy, nói tóm lại thì khí dương mà chất âm vậy ; nói một cách khác là động dương mà tịnh âm bởi sự biến hóa của ngũ hành thật không thể lường được nhưng chẵng là cái tự nhiên của thái cực.
- Bách tề Hà tử nói : ngũ hành nhứt âm dương, âm dương nhứt thái cực. Chu tử cũng cho rằng thái cực không ngoài âm dương, âm dương không ngoài ngũ hành vậy, nay luận thủy thủy,hỏa hỏa, sự giao biến của kim mộc thủy hỏa thổ, trời yên ở đất mà lại là tạo hóa của vạn vật, như nói trời là thái cực nên Chu tử lấy thương thiên mà giải thích thái cực đạo trời lưu hành qua lý âm dương. Trong dịch nói : dịch có thái cực sanh lưỡng nghi, lưỡng nghi sanh tứ tượng, tứ tượng sanh bát quái, trong đó có càn có khôn tức là trời đất đều là sự phân thể của thái cực, vậy là trời tức toàn thể của thái cực mà đất là sự phân thể của trời, thật là một quan niệm sai lầm nhưng nghe qua thì tỏ như có lý
      Ngũ hành sanh đều có mỗi tánh, sự lưu hành của tứ thời cũng có mỗi tên. Xuân thì sanh, Hạ thì trưởng, Thu thì tiêu, Đông thì táng. Xuân mà Hạ, Hạ mà Thu, Thu mà Đông, Đông mà trở lại Xuân. Sự tuần hoàn vô cùng bởi ngũ hành thì khác chất mà tứ thời thì khác khí, thế nhưng tất cả đều không ngoài âm dương, âm dương tuy khác vị, động tịnh tuy khác thời mà tất cả đều không nằm ngoài thái cực, thái cực vốn không thanh xú, có thể nói là tự tánh bổn thể vậy, cho nên ngũ hành đều có mổi tánh tức tất cả đều cùng một thái cực vậy ; tứ thời đều có mổi tên tức đều là sự vận dụng của thái cực vậy. Ngũ hành tứ thời tuần hàn xoay chuyển mà cùng một thể thái cực, tánh thì chẳng không sở tại mà lại có thể thấy vậy. Thiên hạ không ngoài tánh của vật mà tánh thì chẳng không dừng vậy, vậy nên vô cực nhị ngũ có thể hỗn dung mà vô chừng đó là sự hợp diệu vậy. Vô cực là lý mà nhị ngũ là khí, thật có lý khi nói thái cực là vô vong vậy, xét về khí thì âm dương và ngũ hành không phải là hai vậy. Ngưng tức là tụ mà khí tụ thì thành hình, bởi tánh là chủ mà âm dương ngũ hành lại ngang dọc hỗn độn tùy theo từng loại ngưng tụ mà thành hình. Dương thì mạnh nên thành nam tức cái tạo làm cha, âm thì thuận nên thành nữ tức cái tạo làm mẹ vậy. Đây là sự khởi đầu của nhân vật dùng khí hóa mà sanh ra. Khí tụ mà thành hình tức hình giao mà khí cảm, hình hóa nên vạn vật sinh sinh biến hóa vô cùng vậy .
     Bào lỗ Trai nói : Trời đất lấy giao khí mà sanh nhân vật, thấy rằng hể có giao thì tức khí đến nên tùy theo loại từ đó mà ra vậy. Khí trời giao với đất đối với người thì nam, đối với vật thì là đực. Khí đất giao với trời đối với người là nữ, đối với vật là cái. Nam nữ đực cái tự giao mà sanh sanh hóa hóa vô cùng. Nhân vật đã sanh thì khí tùy nơi trời đất lên xuống mà giao cảm. Người có được trung khí của trời đất, khí của bốn phương đều giao cảm. Vật có được ngoại khí của trời đất mà cũng có được sự ứng cảm. Cho nên xét khi thiên địa giao khí tức biết rằng nhân vật sẽ theo đó mà sinh, khí trời đất giao cảm tức biết rằng nhân vật tương sinh.
*Chu tử nói : Càn tạo thành nam, khôn tạo thành nữ, thể ngưng ở buổi đầu của tạo hóa, hai khí giao cảm thì hóa sanh vạn vật lưu hành tạo hóa về sau, đây là lẽ thường vậy.
* Trương Cửu Thiều nói : luận về việc trời đất sanh thành nhân vật thì ban đầu do khí hóa mà sau đó là hình hóa tức gọi là trời đất khí sanh. Còn nói về nhân vật kết thai thành hình thì đầu tiên do tụ khí tinh sau đó mới có vật, Chu tử gọi đó là tinh âm dương khí kết tụ lại mà thành hình vật vậy.
Nói vậy tức người, vật, khí, hình tất cả đều không ngoài âm dương mà ra. Bẩm mệnh đã do âm dương mà sanh thì người chẳng thể đổi khác được, chẳng có năng lực gì, Vậy là có sanh mà giàu nghèo, có sanh mà quý mà tiện, có sanh mà thọ mà yểu, có sanh mà phú quý đầy đủ, mà có bần tiện cơ hàn, có sanh thọ mà trở thành yểu, có sanh yểu mà trở lại thọ. Như vậy tuy do nơi sở tích mà cũng do nơi sở tánh nên cổ nhân có câu nhân nặng thắng thiên vậy, nhưng nếu do nơi tánh mà được thì suốt đời phú quý hoặc suốt đời bần tiện, thọ yểu thế nào đều vậy mà chịu ; nếu cổ nhân lại nói mệnh không thể chuyển, như vậy sở tích không chuyển gọi là mệnh, sở tánh không chuyển gọi là nhân, lại có người tuy cũng là do trời đất mà sanh, cũng có bát tự ngũ hành giống nhau nhưng vì sao kẻ thì phú quý trường thọ kẻ thì bần tiện yểu mạng.
 Đáp rằng : hai khí âm dương lúc giao cảm thọ nhận chân tinh ngưng kết thành thai gặp lúc khí hậu trời đất thanh sáng thì bẩm chất hiền nhân trí giả ; nếu gặp lúc ô trược thì bẩm chất ngu độn hèn kém. Vậy như mà có phú quý song toàn là do đầu tiên tiếp nhận được thanh khí trời đất, sinh ra lại gặp thời đắc lịnh, kiêm có tài quan hanh thông, lộc mã vượng tướng nên vận hạn đại cát tường, dù cho có chút ít không may cũng chẳng vào hạng bác tạp. Còn hạng bần tiện thấp hèn bởi do tiếp nhận trược khí trời đất, lại sinh không gặp thời đắc lịnh, gặp hình xung bác tạp không một chút thuận mỹ thì dù không bị họa hoạn lâm tổn cũng khó tránh được trầm trệ bần cùng.
Lại cũng có hạng phú mà bần, bần mà phú, quý mà tiện, tiện mà quý, thọ mà yểu, yểu mà thọ. Lại có hạng là quý hiễn mà trở thành bần tiện hoặc là bần tiện mà trở thành hiễn quý, đó bởi người trong trời đất chẳng thể giống nhau. Tứ thời ngũ hành thiện chánh được mất, trước sau sâu cạn của khí vận mà tạo nên vậy, cho nên đang lúc nguyên khí thanh nhẹ mà sanh gặp khí thời suy bại nên vận mệnh phải bị hưu tù, giàu thì bị tổn thất tài sản, quý thì bị cách chức thôi vị, thọ trở thành yểu vậy ; ngược lại nguyên khí ô trước mà sanh gặp thời trung hòa đắc lệnh, vận thế vượng tướng thì bần chẳng lâu trở thành phú, hèn chẳng lâu trở thành quý.
Tuy nhiên xét rằng nhân định thắng thiên, mạng được trung hòa, tánh có tích thiện nhưng sao không chỉ người ấy được hưởng phước mà con cháu đời sau cũng được vinh hoa phú quý ; trái lại mạng vận thien lệch, tánh chất tích ác mà con cháu đòi sau cũng vẫn bị mang họa. Theo đó mà nói thì tuy hệ thuộc mệnh cũng tại nơi người tích hay không tích mà thôi. Trong dịch nói : nhà có tích thiện tức hưởng phước có dư, nếu tích ác thì chắc phải chịu ương họa có dư là nghĩa ấy.
- Canh Dã Tử nói : Thiên nhất khí hóa sanh thủy, trong nước cặn đục tích lâu ngày thành thổ, nước đẩy đất trôi lâu dần thành sông núi, đất mà cứng thì thành đá mà hóa kim, đất mà mềm thì thành mộc mà sanh hỏa, ngũ hành đều do vạn vật sanh mà biến hóa vô cùng.
- Tuấn xuyên tử nói : Trời đất ban đầu chỉ có hai khí âm dương, dương thì hóa hỏa, âm thì hóa thủy, thủy tích cặn kết thành thổ. Như vậy thủy thổ hỏa là do trời đất hóa thành, còn kim và mộc thì do tự sở xuất chất kim đá do tích tụ lâu ngày mà thành nên đồng với nhân vật,vậy thì khí kim sinh nhân được ư, còn giữa trời đất đã có nguyên khí định tánh định chủng sẵn trước như kim có loại kim, thủy có loại thủy, người có giống người, vật có giống vật, mỗi mỗi đều đều đầy đủ, không hề sai giả vậy mà cứ cho ngũ hành tương sanh được ư. Nay các nhà ngũ hành dùng kim sanh thủy thật là quyết đoán điên đảo không biết rằng mộc lấy hỏa làm khí, lấy thủy mà dưỡng, lấy thổ làm nhà, đây là đạo lý chân thật của thiên nhiên, cho nên nếu nói thủy sanh mộc thì nếu không có thổ mộc sanh ở đâu ? ( nương đâu mà sanh ), thủy nhiều thì hỏa diệt, thổ cũng tuyệt vậy mộc cũng tiêu luôn.
Chu Tử nghi cái thuyết của các nhà ngũ hành, ngũ khí thuận bố, tứ thời chuyển hành ; không biết rằng ngày có lên xuống mà thành nóng lạnh, nóng lạnh phân bình mà thành tứ thời ; chỉ do 5 khí phân bố mà được ư ! Còn nói Xuân mộc Hạ hỏa Thu kim Đông thủy thì đều giả hợp mà luận. Thổ không nơi để trú mà chỉ phối nơi tứ quý, không biết rằng khí thổ tại nơi trời đất. Sao chẳng phải ngày, sao chẳng có nơi, sao chỉ lưu hành nơi cuối quý nguyệt. Khi mạnh nguyệt sanh thì quý nguyệt diệt. Khí đã diệt thì quy về đâu mà tới. Thiên nhất sanh thủy âm dương thủy hỏa nguồn gốc vạn vật vậy. Cho nên nhất hóa thành hỏa là ngày, lại hóa thành thủy tức vũ lộ .
Nay nói thiên nhất sanh thủy, địa nhị sanh hỏa, sự vi diệu hiển nhiên của tạo hóa. Châu tử dùng tứ thời khí lưu hành, luận số thiên địa ngũ hành, luận ngũ hành thái cực đồ, dương biến âm hợp mà sanh thủy hỏa mộc kim thổ. Xét ngũ hành phối hợp với tứ thời thì khí Xuân chỉ cho Mộc tức khí của Thổ Kim Thủy Hỏa đều bị tuyệt, Thu chỉ cho Kim tức khí của Thủy Hỏa Thổ Mộc đều bị đình chỉ. Thổ chỉ vượng ở tứ quý nên khi gặp khác nguyệt thì khí vận không thuần, vậy mà lại đặt ra ngày nay là Mộc ngày mai là Hỏa hoặc ngày mai là thổ là kim là Thủy ư ! Xét Vương thị tuy nói thì có lý nhưng chẳng đạt được sự quán sát.
- Lạc Cầu Tử nói : Lấy làm có tức là theo không mà lập có cũng là không vậy. Trời do tượng mà có, tượng theo nhật nguyệt ngũ tinh tam viên nhị thập bát tú. Xem Thiên nguyên hội thông mà đặt tên phân cỏi ấy cũng do người làm mà thôi, nghĩa của tượng phù hợp cho đến sự tốt xấu hoặc thuộc loại sự nào, hoặc chỉ mỗi phương ứng cho năm tháng ngày nào, tuy đạo trời sâu xa cũng không ngoài nhân sự và ngũ hành. Nhà âm dương dùng 10 can 12 chi mà phân ngũ hành, do ngày với trời hội lại mà thành năm, tháng với ngày hội lại mà thành tháng, ngày có 30 giờ có 12, dùng can chi năm tháng ngày giờ của nhân sanh lập ra tứ trụ để biết một đời tốt hay xấu , ấy cũng cái lý tự nhiên vậy .Vương thị lấy Xuân thuộc mộc mà Thổ ở đâu, không biết ngũ hành vượng tướng hưu tù tử, các loại có đúng thời hay không đúng thời, dùng được việc hay không dùng được mà lại nói chẳng là Xuân mộc vượng còn thổ thì không, 10 can 12 chi lẩn lộn thành lục thập Giáp tí, xoay vòng trở lại an bài không sai, đó tức sổ sanh của tạo hóa vậy ; nếu không cho hôm nay thuộc mộc ngày mai thuộc hỏa thì cũng phủ định sự tự nhiên của đạo trời, không nghĩ rằng người lập mà trời theo, người cảm mà trời ứng, đó tức cái lý thiên tượng mà đặt tên phân cõi cái đạo hợp nhất của Trời và người vậy. Xem một ngày có sớm trưa muộn chiều, tự đã có khí hậu ôn lương hàn nhiệt tức đã có đủ kim mộc thủy hỏa thổ trong một ngày, ngũ hành không tương ly như vậy, nếu nói hôm nay mộc ngày mai hỏa tại sao chẳng là không đúng với sự tự nhiên của đạo trời đó ư. Còn nhà nước làm lịch cho thiên hạ ,một năm có 365 ngày, trong đó có phương vị thần sát, mỗi tháng thiên hành đắc vượng mà trong mỗi ngày lại có hắc hoàng cát hung, việc nên làm hoặc không nên làm, người theo đó thì được phước, làm sai thì mang họa. Thật là vô lý cưỡng tạo vậy mà thiên hạ đều cùng tuân theo. Lại như thuật xem tướng xét sắc xanh vàng đỏ trắng đen mà đoán họa phước ứng theo mổi năm tháng ngày giờ, Xanh thì Giáp Ất, vàng thì mậu kỷ, đỏ thì bính ngọ, Trắng thì canh tân, đen thì nhâm quý một hào không sai. Xem bệnh cũng vậy có thể thấy rằng can chi tuy đã có trong ngày mà tạo hóa cũng không ngoài ấy. Lại có người dựa vào mộng mị mà nói sự cát hung, hoặc lấy ý mà đoán, hoặc lấy vật tượng hoặc do tự giải đều ở người làm. Như Phục nghi vẽ quái ngưỡng xét gần xa là có được cái lý trời đất nhân vật nên bát quái do đó mà thành. Nay nói về âm dương thì tuy là sự biến hóa cùng cực của trời đất, thám xét sự vi diệu của nhân vật, cùng hợp với cái đức của trời đất, hợp với cái sáng của nhật nguyệt, hợp với tụ của tứ thời, hợp với sự cát hung của quỷ thần ; sao có thể ngoài can chi ngũ hành mà có riêng tạo hóa cho đến trời đất nhân vật ư. Nay Vương thị tuy tôn trọng dịch mà lại không tin vào cái thuyết của nhà âm dương ấy là biết lý mà không biết số vậy, lý và số hợp nhất thì trời người cũng vậy.
Luận Ngũ Hành sanh thành :

       Trời cao mở ra 6 khí quay vòng mà thành tứ thời, đất sâu u thâm Hgũ Hành hóa sanh mà thành vạn vật, thật khó mà đo lường tận cùng được vậy. Thánh nhân lập pháp suy tính cũng nhiều bởi vậy không thể bỏ đi cái số được, và do nơi sự tự nhiên mà lập ra số, không khác gì trong kinh điển theo đó mà đạt được cái huyền cơ và thông cùng được sự biến hóa, tất cả đều không rời trong số mạng, một là thủy, hai là hỏa, ba là mộc, 4 là kim, 5 là thổ đều có sẳn.
Thủy ở phương Bắc thuộc Tí vị, Tí là bắt đầu của dương, số 1 là số dương nên thủy là 1. Hỏa ở Phương Nam thuộc Ngọ vị, Ngọ là bắt đầu của âm, số 2 là số âm nên hỏa là 2. Mộc ở phương đông, đông là dương nên số 3 là kỳ số thuộc dương. Kim ở phương Tây thuộc âm, 4 là ngẩu số cũng thuộc âm nên kim là 4. Thổ ứng ở Tây Nam trưởng hạ, 5 là kỳ số cũng thuộc dương nên thổ là 5. Do đó mà luận thì số lấy âm dương mà phối vậy, nếu có thêm nghĩa thì thủy sanh ở 1, trời đất chưa phân, vạn vật chưa thành, cũng chẳng phải thấy có thủy trước nên trong lịnh xu kinh nói :
Thái Ất là tôn hiệu của thủy, trước là mẹ của trời đất sau là nguồn gốc của vạn vật, nay nghiệm rằng cỏ cây, quả hạt, con người, sâu bọ, đến loài ( nhân trùng ) động vật thai noãn thai phôi đều có thủy, không phải là như thế ư ! ; vả lại thủy tụ nên hóa thành hình chất, vậy chẳng là khí âm dương sao ; những vật nhỏ mà chát đắng tức là hỏa, trái cây chín ngọt mang vị thổ ,hết ngọt trở thành nhạt, nhạt là vị mộc vậy.
 Đương nhiên loài người do sự hòa hợp âm dương nam nữ mà thành, trước sanh hai quả thận, thận trái thuộc thủy, thận phải thuộc hỏa, hỏa là mệnh môn nên nhân có thủy sau đó mới thấy hỏa nên xưa gọi hỏa là thứ 2, Nói chung cỏ cây, quả hạt , các loại côn trùng khác nhau cũng đều do hai thứ tương hợp nhau giống như thận của con người có âm dương vậy. Cho nên vạn vật nếu không có sự hòa hợp âm dương thì không thể hóa thành vậy.
Đã có sự hòa hợp âm dương nên sau này mùa Xuân đơm hoa, Mùa Thu kết trái, nên người xưa xếp tiếp thứ ba Mộc, thứ tư là Kim. Có thể nói thủy có sở thuộc, hỏa có sở tang, mộc có sở phát, kim có sở biệt, tất cả đều do thổ mà thành cho nên thứ 5 là thổ. Mộc cư ở Đông, Kim cư ở Tây, Hỏa cư ở Nam, Thủy cư ở Bắc, Thổ cư ở trung ương mà gửi nơi tứ duy ứng lệnh nơi tứ quý, tại người là tứ chi, cho nên kim mộc thủy hỏa đều chờ nơi thổ mà thành do đó thổ kiêm gồm mà thành số 5 vậy, thủy 6 hỏa 7 mộc 8 kim 9, thổ cũng thường lấy số 5 mà sanh không thể đến 10 tức thổ không đợi đến 10 mà thành, do số sanh thành nên đều lấy 5 mà hợp, từ đó suy rộng ra mà lập số, do lẽ ấy nên vạn vật không thể ngoài số mà có được.
Ngũ vận thái quá thì số thành, bất cập thì số sanh tất cả đều lấy số sanh thành nhiều hay ít mà dùng chánh lịnh khí hóa.
-  Châu Tử nói : Ngũ hành lấy nhất sở sanh mà nói thì thủy nguyên là thấp khí của dương, ban đầu bị âm hảm không được đắc nên thủy âm thắng hỏa. Đó là âm táo khí, dùng ban đầu động dương mà không đạt nên hỏa dương thắng, cho nên sanh thành thai hình cuối cùng thành hình vậy ; tuy có hình mà chưa thành chất thì dùng khí thăng giáng thổ khong chế được vậy.
Mộc là thấp khí của dương, cảm nhận nhiều nơi âm mà phát ra mộc nên chất thì nhu và tánh thì ấm. Kim là âm táo khí, cảm nhận nhiều ở dương mà kết thành nên kim chất của kim thì cứng mà tánh thì lạnh. Thổ là khí thanh của âm dương tương giao ngưng lại mà thành chất. Theo hành khí mà nói thì một âm một dương tới lui tương phạt mà Mộc Hỏa Kim Thủy Thổ đều tựu ở đó rồi phân ra lớn bé vậy, cho nên các thứ đều từ bé mà lớn vậy.
Chất do âm dương giao thác ngung hợp mà thành, khí thì do âm dương hai mặt tuần hoàn mà ra, chất là thủy hỏa mộc kim bởi vì nếu lấy âm dương mà nói thì Đông nam Tây bắc chỉ là sự đối đãi vậy. Khí là Mộc Hỏa Kim Thủy tức nói theo nghĩa nhân duyên tương hợp của âm dương, cho nên nói đông nam tây bắc tức là sự lưu hành. Chất tuy bất định mà không khác, khí thì biến hóa mà vô cùng, đó là Dịch vậy.
- Trình Tử nói : động tịnh là cái gốc của âm dương, cái vận của ngũ hành, chẳng thể giống nhau vậy.
-  Trương Tử nói : mộc khúc trực thường khúc khuỷu mà trở thành thẳng, kim là thay đỏi mà thường không phản, khí thủy hỏa vậy, cho nên nóng thì ở trên, mát thì dưới cùng với âm dương thăng giáng thổ không chế được vậy, mộc và kim là hóa thật của thổ vậy, mà tánh thì hỗn tạp cả thủy và hỏa cho nên mộc là vật được thủy thấm mà sanh riêng ra hỏa nhưng không tạp vậy bởi được cái phù hoa của thổ là chỗ tương giao của thủy hỏa vậy. Kim là vật có được cái tinh của hỏa ở nơi khô táo, có được cái tinh của thủy ở nơi thẫm ướt, vậy cho nên thủy hỏa tảo mà không tương hại vậy, nung nấu lưu chảy mà không hao, được cái tinh của thổ, thật đúng thủy hỏa ký tế vậy. Thổ là vật có thủy có chung, là chất của đất vậy, là sự biến hóa cùng tận vậy. Thủy hỏa sở dĩ là vật thăng giáng kiêm cái thể mà không thay đổi. Lại nói dương hảm nơi âm là thủy, âm phụ nói dương là hỏa .
- Chu Tử nói : Mộc là bắt đầu, Thủy là sau cùng và Thổ ở giữa. Theo số của Hà đồ Lạc thư mà nói thì Thủy 1, Mộc 3 mà Thổ thì 5, tất cả là số dương sanh không thể khác vậy, cho nên được cho là để lập cái kỹ cương của ngũ hành. Lấy đức mà nói thì Mộc phát sanh tánh mà Thủy là cái thể trinh tinh còn Thổ thì như mẹ bao dưỡng, cho nên Thủy bao dưỡng cả ngũ hành để lưu thông quán triệt và không hề dừng, còn Mộc thì bao cả ngũ hành để quy về nguồn gốc mà ẩn chứa vậy, và Thổ là nơi nương tựa của Thủy Hỏa Kim và Mộc như của cải định yên ở giữa bốn phương, chỉ một thể mà chứa cả vạn loài. Lại nói Thủy Hỏa thì thành còn Kim Mộc là trược và Thổ cũng trược.
- Thiệu Tử nói : Kim Hỏa tương thủ thì lưu, Mộc Hỏa tương đắc thì đốt nóng theo loại Thủy gặp lạnh thì kết, gặp Hỏa thì kiệt. Theo đó mà phân vậy.
Luận ngũ hành sanh khắc :


-  Ngũ Hành tương sinh tương khắc hiễn nhiên là vậy. Mười can 12 chi, ngũ vận, lục khí, năm tháng ngày giờ đều do đây mà lập, theo đây mà dùng. Ở thiên tức là khí, nóng lạnh khô ước gió.
Ở địa thì thành hình, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ hình và khí tương cảm với nhau mà hóa sanh vạn vật, đây là sự sanh thành của tạo hóa vậy. Sự diệu dụng quả là vô cùng.
-  Mộc chủ ở phương Đông ứng với mùa Xuân, mộc khí vậy  Khí dương xúc động bao trùm lên đất mà sanh. Thủy lưu ở phương Đông mà sanh Mộc. Mộc phát lên trên rồi trở xướng dưới ấy là bẩm chất tự nhiên vậy.
-  Hỏa chủ ở phương Nam ứng với mùa Hạ, Hỏa tức là hóa , là hủy vậy, dương ở trên âm ở dưới. Hủy nhưng thạnh mà biến hóa ra vạn vật. Khoan mộc để lấy Hỏa nên Mộc sanh Hỏa, Hỏa không có chánh thể và thể ở nơi mộc vậy, ứng với vật thế nào thì Hỏa có hình thế ấy và bùng lớn lên ấy là cái lý của tự nhiên vậy.
-  Kim chủ ở phương Tây, ứng với mùa Thu, Kim còn gọi là cấm, do nơi vạn vật thu liễm âm khí mà tạo thành, do Thổ mà sanh và cũng biệt nơi Thổ, đó là lý lẽ tự nhiên.
- Thổ chủ ở trung ương kiêm ở vị Tây nam ứng vào trưởng hạ. Thổ còn gọi là thổ ( nhả ) vậy, ngậm nhả vạn vật, hể sanh thì xuất, hể tử thì quy về, là nhà của vạn vật cho nên trưởng ở Hạ và là sanh thành ra Hỏa mộc vậy
- Thủy ở phương Bắc ứng với mùa Đông, Thủy nhuận vượng, khí âm nhu nhuận làm nhiệm vụ nuôi dưỡng vạn vật. Thủy từ Tây sang Đông, là do Kim sanh, Thủy chảy ngoằn ngoèo khúc triết, xuôi xuống luồn lách mọi nơi là bản tính tự nhiên vậy
- Ngũ hành tương khắc, tất cả các con đều thù đắp cho mẹ vậy. Mộc khắc thổ mà con của Thổ là Kim trở lại khắc mộc. Kim khắc Mộc thì Hỏa là con của Mộc sẽ trở lại khắc Kim. Hỏa khắc Kim thì Thủy là con của Kim sẽ trở lại khắc Hỏa. Thủy khắc Hỏa mà Thổ là con của Hỏa sẽ trở lại khắc Thủy. Thổ khắc Thủy thì con của Thủy là Mộc trở lại khắc Thổ. Trước là giúp và tương sanh, sau thì giúp mà tương khắc, tất cả đều cùng xuất nơi tánh của trời vậy. Do đó Thủy sanh Mộc, Mộc trở lại sanh Hỏa vậy là Mộc bị mất khí nên Thủy giận mà khắc lại Hỏa. Đó là ý nghĩa mẹ con tương trợ cứu nhau khi bị mất khí.
- Mạnh có thể đánh yếu, Thổ nhờ có Mộc mà đạt. Thật có thể thắng hư, Thủy gặp Thổ mà tuyệt. Âm có thể tiêu dương, Hỏa đắc Thủy mà diệt. Nóng có thể địch cứng, Kim gặp Hỏa mà khuyết tan. Cứng có thể chế mềm, Mộc gặp Kim mà bị phạt. Ngũ hành lưu chuyển luân phiLuận can chi nguyên lưu :

 -  Can là gốc mạnh của cây và là dương. Chi là nhánh yếu của cây mà là âm. Xưa Bàn Cổ hiểu rõ cái đạo của trời đất, đạt được sự biến hóa âm dương, làm tam tài chủ tể, dùng thiên địa phân định về sau. Trước có trời mà sau có đất, do nơi khí hóa mà sanh người vậy, cho nên Thiên hoàng có 13 người cùng họ kế tục sự trị vì của Bàn cổ, vì trời kia đạm bạc vô vi tự theo đó mà làm, trước thì tạo tên can chi để định năm sở tại. Thập can là : Yên phùng, Chiên mông, Nhu triệu, Cường vũ, Trước ung, Đỗ duy, Thượng Chương, Trùng quang, Huyền mặc, Chiêu dương.
Thập nhị chi là : Khổn dôn, Xích soán nhược, Nhiếp đề Cách, Đơn Yên, Chấp từ, Đại hoan lạc, Đôn hiệp, Hiệp Than, Tác ngạt  Yêm mậu, Đại uyên hiến, Thái ấp độc. Can chính là gốc, tên thì có 10 cũng gọi là thập mẫu, nay gọi là Giáp, Ất,  Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
Chi là thân, tên thì có 12 còn gọi là thập nhị tử, đó là Tí, Sửu, Dần, Mão, Thin, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Thiên hoàng lấy nơi thiên mà khai nơi Tí. Địa hoàng thì lấy nơi địa mà mở ra Sửu nghĩa là vậy. Còn Nhân hoàng thì lấy nơi nhân mà sanh ở Dần. Cho nên cái tên can chi trước ở Thiên hoàng chế thời mà địa hoàng thì định tam thần phân ra ngày đêm, lấy 30 ngày làm một tháng mà can chi đều có thể phối hợp. Nhân hoàng là chủ thực chứ không phải hư, như Vua tôi là thật chứ không phải hư, cái lẻ Vua tôi từ đó mà có, việc ăn uống  nam nữ từ đó mà có, khi đã có khí âm dương của trời đất mà phân ra mẹ con, đó tức là can chi sở thuộc vậy. Đến như Phục nghi ngưỡng xem thiên văn cúi xem địa lý, ở giữa thấy vạn vật với con người mà vẽ ra bát quái để chỉ cái đức của thần minh, để bày cái tình của vạn vật, từ đó dùng làm ra văn tự của Lịch vậy. Đợi đến khi Hoàng đế nhận Hà Đồ, thấy được cái tượng của nhật nguyệt tinh thời thế là bắt đầu có sách tinh cung, đặt Giáp Tí phối thuộc ngũ hành nạp âm.
-  Lộ Sử nói : Phục nghi mệnh tiềm long nên đến hoàng đế mệnh mới khai triễn cái tính của Ngũ Hành, xét hai cách trong thiên thư dùng 10 can 12 chi mà diễn thành 60 lấy nạp âm mà định tên, nạp âm tức là Giáp Tí, Ất Sửu Hải trung Kim …v…v….vậy. Phong lại giải thích ra mà dùng tam mệnh vậy.
Bỉ thuật gia lấy Hoàng đế mà định thiên can thập tự thu Đồ của Hà , địa chi 12 thuộc loại của Thư, dùng Quỷ cốc Tử mà thành nạp âm, còn Đông phương Sóc giã tượng của nạp âm, tất cả đều không hiểu cái nguồn gốc mà vọng ngữ cả .
-  Tuấn Châu Vương Thị nói : Xưa làm sách Giáp Tí không có cùng mà chỉ do thời ngẩu để định ra, nếu xét rõ nguồn gốc thì ngày tháng đầu tiên chuyển ngày sau đó mới là Giáp Tí vậy.
Trời khai mở khi chưa có đất, đất an bày khi chưa có người, theo đó làm căn bản mà truyền dẫn 12 thần. Cái vận của trời đất xoay chuyển hoàn nguyên, cứ mỗi một nguyên thì trở lại đầu, ngày thì mỗi 12 thời lại trở về TÍ, không phải chỉ có một nguyên rồi thôi huống chi cái độ của nguyên lịch biến hóa ngưu đẩu mỗi năm càng sai xa vậy.
Lịch đời sau cứ theo đó mà làm chỉ cần cho hợp thời mà thôi cho nên lịch xưa từ đó mà mất vậy. Nay nói Giáp Tí tức thật có Mộc khí làm chủ, mà nói nay mộc mai hỏa kia thổ cũng không láo ư ! Hoặc nói đại rằng chiêm đẩu nhuế mà tạo Giáp Tí túc là rời cái gốc trời đất, cho nên lịch nguyên dùng tháng Giáp Tí ngày giáp tí giờ giáp tí là không nghĩ đến chiếm đẩu nhuế mà chỉ có thể định 12 tháng .
Trời đất sơ khai mở ra ngày tháng như hợp bích, ngũ tinh như liên châu đều khởi đầu nơi khiên ngưu mà sau đó là nữa đêm đông chí, dây là tư pháp cho nên Mạnh tử dùng lịch lấy can tuế có thể chắc chắn mà làm .
-  Nay xét lịch bây giờ thì sự khai mở của trời đất cũng là số vậy, có trời đất ban đầu ư !, có nhật nguyệt sơ chuyển ban đầu ư, văn tự không thông, thiên vận không có căn cứ mà lại đặt được thư sách như vậy ư !
 Nhưng xưa nay các bậc cao nhân đạo sĩ xem xét thiên số, quyền sát âm dương, lấy số Thái Ất mà đặt thiên vận cát hung, lấy Lục Nhâm mà đặt nhân sự cát hung, lấy Kỳ môn mà đặt địa phương cát hung, lấy năm tháng ngày giờ mà định một đời người cát hung, nếu nói như Vương thị ở trước thì không đủ tiên, thuận thì tương sanh, nghịch thì tương khắc, tất cả đều luân chuyển mà thành đạo.
Luận nghĩa thập can danh tự :

   Thiên khí khởi đầu nơi can Giáp, địa khí khởi đầu nơi chi tí. Thánh nhân theo đó mà xét cứu để dùng khí âm dương khinh trọng, soạn ra chương đức đặt nên biễu sự, do nơi can Giáp tương hợp sau đó mới thành theo từng năm mà thống cả 60 năm, có thể chỉ chọn một ngày mà biết rõ 12 thời tuế vận doanh hư, khí lịnh sớm muộn vạn vật sanh tử. Lấy nay nghiệm xưa, nếu có hiểu được thì chẳng khác vậy, nơi cái chi tiết mà biết chưa có điềm họa phước, dùng hay thì xét được cái hướng đến của sanh tử tức là đã tinh vi được ý nghĩa có thể cho là to lớn.
Đông phương Giáp Ất, Nam phương Bính Đinh, Tây phương Canh Tân, Bắc phương Nhâm Quý, trung ương Mậu Kỷ là vị của ngũ hành.
Bởi vị của Giáp Ất là Mộc đắc lệnh ở Xuân, Giáp là dương mà trong âm gồm loài thảo mộc nên Giáp đầu tiên vậy, Ất là qua nửa dương nhưng chưa được chánh phương nên Ất chịu sau vậy, vạn vật đều từ Giáp mà ra.
Bính Đinh là hỏa vị đắc lịnh ở Hạ, Bính có dương trên mà âm dưới, âm trong mà dương ngoài, Đinh thì dương mạnh nên tương thích cùng âm khí, vạn vật được tỏ rõ to mạnh.
Mậu Kỷ là Thổ vị, can hành ở tứ quý, Mậu là dương thổ, vạn vật sanh mà mất ở đó, tách ra mà nhập vào ; Kỷ là âm thổ, không nơi sở cứ nên do chỗ Mậu mà khởi Kỷ vậy. Thổ hành nơi cuối tứ quý, vạn vật xanh đẹp, khuất ức mà khởi ra.
Canh Tân là Kim vị, hành lệnh ở Thu, Canh là âm can mà đổi thành dương tiếp tục. Tân là dương ở dưới mà âm ở trên, âm đến dương hết ở đó nên Canh củ mà đổi qua Tân. Canh Tân đều là Kim, Kim có vị Cay, vật có thành rồi sau mới có vị .
Nhâm Quý là Thủy vị hành lệnh ở Đông. Nhâm là vị dương sanh, Nhâm gọi là Thai, vạn vật hoài thai nơi Nhâm cùng với Tí tương ý, Quý là … vậy, là thiên lệnh đến đây, vạn vật đọng lại rồi hoài thai mà sanh ấy là cái đạo trời. Nên trong Kinh nói : Thiên có 10 ngày, ngày 6 thời mà tuần hoàn vậy, một Giáp thiên địa có Bính Mậu Canh Nhâm là dương, Ất Tân Đinh Quý là âm, ngũ hành đều có một âm một dương cho nên có 10 ngày.
CHỈ MỤC BÀI VIẾT
Tam Mệnh Thông Hội

Luận Ngũ Hành sanh thành :

Luận ngũ hành sanh khắc :

Luận can chi nguyên lưu :

Luận nghĩa thập can danh tự :

Luận thập nhị chi :

Tổng luận nạp âm :

Luận nạp âm thủ tượng :

Lục thập Giáp Tí tánh chất cát hung :

Tất cả các trang

Trang 9 trong tổng số 9

Lục thập Giáp Tí tánh chất cát hung :

• Giáp tí Kim là thực vật thích Kim Thủy vượng địa, tấn thần hỷ phúc tinh, bình đầu huyền ngoại phá tự.
• Ất sửu Kim là khoáng vật thích Hỏa và Nam phương nhựt thời, phúc tinh Hoa cái chánh ấn.
• Bính dần Hỏa là Lư khôi thích Đông và Mộc, phúc tinh lộc hình, bính đầu lung á.
• Đinh mảo Hỏa là Lư yên thích Tốn và Thu đông, bính đầu triệt lộ huyền châm.
• Mậu thin Mộc là sơn lâm sơn dã, mộc bất tài, thích thủy lộc khố hoa cái, thủy lộc mã khố, bổng trương phục thần bình đầu.
• Kỷ Tỵ Mộc là hoa quả trên núi, thích Xuân và Thu, Lộc khố nhập chuyên.
• Canh Ngọ Thổ là đất mỏng bên đường, thích Thủy và Xuân, phúc tịnh quan quý, triệt lộ bổng trượng huyền châm.
• Tân Mùi Thổ, thích Thu với Hỏa, hoa cái huyền châm phá tự.
• Nhâm Thân Kim là kích chiến, thích Tí Ngọ Mảo Dậu, bình đầu đại bại, phường hại lung á phá tự huyền châm.
• Quý Dậu Kim là Kim thôi tạc, thích Mộc và Dần Mảo, phục thần phá tự lung á.
• Giáp Tuất Hỏa thích Xuân và Hạ, chánh ấn hoa cái, bình đầu huyền châm phá tự bổng trượng.
• Ất Hợi Hỏa, Hỏa khí nóng thích Thổ và Hạ, Thiên đức khúc cước.
• Bính Tí Thủy sông hồ, thích Mộc và Thổ, phúc tinh quan quý, bình đầu lung á, giao thần phi nhận.
• Đinh sửu Thủy, thủy bất lưu thanh, triệt cứ, thích kim và hạ, hoa cái thối thần, bình đầu phi nhận.
• Mậu Dần Thổ, đề tinh thành quách, thích Mộc và Hỏa, phục thần bổng trượng lung á.
• Kỷ Mão Thổ, phá đê bại thành, thích Thân Dậu và Hỏa, tấn thần đoản thiên cửu xá, khúc cước huyền châm.
• Canh Thìn Kim Tích lạp, thích Thu và triệt Mộc, hoa cái đại bại, bổng trượng bình đầu.
• Tân Tỵ Kim ; Kim sanh thì sa thạch tạp, thích Hỏa và Thu, Thiên đức phúc tinh quan quý, triệt lộ đại bại huyền châm khúc cước.
• Nhâm Ngọ Mộc : dương liểu cán tiết, thích Xuân Hạ, thích quan quý, cửu xú phi nhận bình đầu lung á huyền châm.
• Qúy Mùi Mộc : Dương liểu căn, thích Đông với thủy và chánh ấn ở Xuân, hoa cái đoản thiên phục thần phi nhận phá tự.
• Giáp Thân Thủy : Cam tỉnh thích Xuân và Hạ, phá lộc mã triệt lộ bình đầu.
• Ất Dậu Thủy : âm Thủy thích Đông và Nam phương , phá lộc đoản thiên cửu xú khúc cước phá tự lung á
• Bính Tuất Thổ : gò đồi, thích Xuân Hạ và Thủy, thiên đức hoa cái, bình đầu lung á.
• Đinh Hợi Thổ : Bình nguyên, thích Hỏa và Mộc, thiên đức phúc tinh quan quý đức hợp bình đầu.
• Mậu Tí Hỏa : Sét vậy, thích Thủy và Xuân Hạ, đắc thượng thần thiên, phục thần đoản thiên cửu xú trượng hình phi nhận.
• Kỷ Sửu Thổ : điện vậy, thích thủy và Xuân Hạ, đắc địa mà tối, hoa cái đại bại phi nhận khúc cước.
• Canh Dần Mộc : Thân cây tùng bách, thích Thu Đông, phá lộc mã tướng hình trượng hình lung á.
• Tân Mão mộc : Rễ cây Tùng, thích Thủy Thổ và Xuân, phá lôc giao thần cửu xú huyền châm.
• Nhâm Thìn Thủy : Long Thủy, thích Lôi điện và Xuân Hạ, chánh giáp thiên đức thủy lộc mã tất thối thần bình đầu lung á.
• Quý Tỵ Thủy : Không nghĩ khi chảy về biển, thích Hợi Tí mà biến hóa thiên ất quan quý đức hợp, phục mã phá tự khúc cước.
• Giáp Ngọ Kim : Bách luyện tinh Kim, thích Mộc Thủy Thổ, thối thần đức hợp, bình đầu phá tự huyền châm.
• Ất Mùi Kim : Lư khôi dư Kim, thích dại hỏa và thổ, hoa cái triệt lộ khúc cước phá tự.
• Bính Thân Hỏa : Bạch nha dã thiêu, thích Thu Đông và Mộc, bình đầu lung á đại bại phá tự huyền châm.
• Đinh Dậu Hỏa : Quỷ thần thừa hưởng Hỏa vô hình, thích Thìn Tuất Sửu Mùi, thiên ất hỷ thần bình đầu phá tự lung á đại bại.
• Mậu Tuất Mộc : Thứ cỏ ngải khô, thích Hỏa và Xuân Hạ, hoa cái đại bại nhập chuyên trượng hình triệt lộ .
• Kỷ Hợi Mộc : mầm cỏ ngải, thích Hỏa và Xuân Hạ, khúc cước .
• Canh Tí Thổ : Thổ giữa không, là ốc vũ, thích Mộc và Kim Mộc, đức hợp trượng hình .
• Tân Sửu Thổ : Mộ, thích Mộc và Hỏa với Xuân, hoa cái huyền châm.
• Nhâm Dần Kim : Kim hoa sức, thích Mộc Hỏa, triệt lộ bình đầu lung á.
• Quý Mão Kim : Dây ngọc, thích Hỏa mạnh và Thu, quý nhân phá tự huyền châm.
Giáp Thìn Hỏa : Đèn vậy, thích đêm và Thủy, Hoa cái đại bại bình đầu phá tự huyền châm.
• Ất Tỵ Hỏa : Ánh đèn vậy, thích Thân Dậu và Thu, chánh Lộc mã, đại bại khúc cước.
• Bính Ngọ Thủy : Nguyệt luân, thích đêm và Thu thủy, hỷ thần dương nhận, giao thần bính đầu lung á huyền châm .
• Đinh Mùi Thủy : Hỏa quang đồng thươn, hoa cái dương nhận thối thần nhập chuyên bình đầu phá tự.
• Mậu Thân Thổ : Điền địa, thích Thân Dậu và Hỏa, phúc tinh phục mã phục hình phá tự huyền châm .
• Kỷ Dậu Thổ : thích Thân Dậu và Đông, tấn thần triệt lộ cửu xú, khúc cước phá tự lung á.
• Canh Tuất Kim : thích dùng Hỏa và Mộc, hoa cái trượng hình.
• Tân Hơi Kim : chung đỉnh bảo vật, thích Mộc Hỏa và Thổ, chánh lộc mã huyền châm.
• Nhâm Tí Mộc : thương Thủy Mộc, thích Hỏa Thổ và Hạ,dương nhận cửu xú bình đầu lung á.
• Quý Sửu Mộc : thương Thủy Mộc, thích Kim Thủy và Thu, hoa cái phúc tinh nhập chuyên, phá tự dương nhận .
• Giáp Dần Thủy : Mưa vậy, thích Hạ và Hỏa chánh lộc mã phúc thần nhập chuyên bình đầu phá tự huyền châm lung á.
• Ất Mão Thủy : Lộ vậy, thích Thủy và Hỏa, kiến lộc, nhập chuyên cửu xú khúc cước huyền châm.
• Bính Thìn Thổ : Đê ngạn, thích Kim và Mộc , lộc khố chánh ấn, hoa cái triệt lộ bình đầu lung á .
• Đinh Tỵ Thổ : Thích Hỏa và Tây Bắc, lộc khố bình đầu khúc cước.
• Mậu Ngọ Hỏa : Nhựt về Hạ thì nhân úy, qua Đông thì nhân ái, kỵ Mậu tí Kỷ sửu Giáp dần Ất mão, phục thần dương nhận cửu xú bỗng trượng huyền châm.
• Kỷ Mùi Hỏa : Ngày kỵ đêm, phúc tinh hoa cái dương nhận khúc cước phá tự.
• Canh Thân Mộc : Lựu hoa, Hạ bất nghi, Thu Đông kiến lộc mã, nhập chuyên trương hình phá tự huyền châm.
• Tân Dậu Mộc Lựu nhỏ, thích Thu và Hạ kiến lộc giao thần cửu xú nhập chuyên huyền châm lung á.
• Nhâm Tuất Thủy : Biển vậy thích Xuân Hạ và Mộc, hoa cái thối thần bình đầu lung á trượng hình.
• Quý Hợi Thủy : Bách xuyên thích Kim trên Hỏa, phục mã đại bại phá tự triệt lộ .
 Lục thập Giáp Tí thịnh lớn thì kỵ biến nhỏ yếu, nếu bị nhỏ yếu thì muốn thành lớn mạnh, giống như trước bần tiện mà về sau phú quý vinh hoa, trước phú quý mà sau bần tiện nhỏ mọn ; không nên dùng phú quý trước mà không luận bần tiện, cũng không thể thấy bần tiện trước mà không luận phú quý.
Niên sanh thuộc Mộc, ví dụ như Canh Dần Tân Mão tức Mộc lớn mạnh, nếu nhựt nguyệt thời không gặp các Mộc thì lấy Tòng bá Mộc mà luận ; vạn nhứt mà gặp Dương liểu hoặc Thạch lựu tức bỏ đại mà về tiểu, không lấy Tòng bá mà luận vậy.
Còn như sanh nhân là Nhâm Ngọ Quý Mùi thì Mộc nhỏ yếu nếu nhựt nguyệt thời không gặp các Mộc khác thì lấy Dương liểu mà luận, vạn nhứt nếu gặp Tùng bách hoặc Đại lâm Mộc tức bỏ nhỏ mà luận lớn, không nên luận như Dương liểu vậy.
Cho nên Thiên thượng Hỏa, Kiếm phong Kim , Đại hải Thủy Đại trạch Thổ sanh nhân mà nhựt nguyệt thời không gặp các vị nạp âm đều nhỏ yếu ; hay như Phúc đăng Hỏa, Kim bạc Kim, Tỉnh tuyền Thủy, Sa trung Thổ sanh nhân mà nhựt nguyệt thời không gặp vị khác thì nạp âm đều lớn mạnh, hoặc đem phàm nhập thánh, hoặc trước trọng mà sau khinh, đều theo sự biến mà luận chứ không thể chấp ở một mặt.
- Giáp tí là Kim tùng cách nên khí tán, nếu được Mậu Thân Thổ, Quý Tỵ Thủy tương hợp thì tốt, Mậu Thân là đất Lâm quan Kim, Thổ thì vượng ở Tí nên được sanh thành vậy, Quý tỵ thuộc hệ Kim sanh ở Tỵ, Thủy sanh ở Tí, nạp âm tat cả đều quy lại là triều nguyên lộc, kỵ Đinh Mão Đinh Dậu Mậu Ngọ Hỏa . Diêm đông Sưu nói : Giáp Tí Kim là tấn thần bẩm cái đức trầm tiệm hư vô nên tứ thời đều tốt, nhập quý cách thừa vượng khí nên tay nghề tinh vi chủ về vinh hoa hiễn đạt.
- Ất sửu là Kim phủ khô, Hỏa không thể khắc bởi Kim đã ân núp nên không bị hình hại xung phá lại là hiễn vinh , chỉ kỵ Kỷ Sửu Kỷ Mùi Hỏa. Diêm đông Sửu nói : Ất sửu là chánh ấn, là đại phúc đức, Thu Đông được phú quý thọ khảo, Xuân Hạ thì tốt , trong đó tự nhập cách thì kiến công hưởng phước. Ngọc Tiêu bửu Giám nói : Giáp Tí Ất Sửu chưa thành khí, Kim gặp Hỏa thì thành, gặp nhiều thì tốt.
- Bính Dần là Hỏa hách hy, Thủy không chế được nên cái Hỏa thiêu đốt dữ dội, Thủy không qua được, chỉ thích một mình Giáp Dần Thủy, đồng vị với nhau lại gọi là triều nguyên Lộc. Yếu luận nói : trong Dần Hỏa chứa khí linh minh, tứ thời sanh đức, nhập quý cách thì văn chương phát khoa giáp.
- Đinh Mão là Hỏa phục minh, khí yếu nên cần Mộc sanh, gặp Thủy thì hung, nếu gặp Ất mão Ất dậu thủy thì rất độc. Ngũ hành Yếu Luận nói : Đinh mão là Hỏa mộc dục, khí hàm lôi đông phong, thủy tề khí đạt, thổ tải thì mộ hậu, lấy mộc mà cho thì văn chương, lấy kim mà hợp lại gặp hạ thì hung bạo. Quỷ Cốc nói : Bính dần Đinh mão thu đông cần phải bảo trì. Chú rằng : hỏa không vượng tây đến thu đong thì thế sợ không bền.
- Mậu thin là lưỡng thổ hạ mộc, các kim không thể khắc bởi là thổ sanh kim tức cái đạo mẫu tử, được thủy sanh là tốt. Ngũ hành yếu Luận nói : Mậu thìn Canh dần Quý sửu 3 thần này tánh mộc tráng kiện, sanh ở Xuân Hạ có chất độc lập, tùy biến hóa mà thành công, thừa được vượng khí thì chí tận mây xanh, chỉ kỵ sanh ở Thu, tuy bị hoại tiết chí bị khuất phục nhưng chẳng theo vậy.
- Kỷ tị là mộc cận hỏa, kim sanh ở đây, ở ta mà không sát, kỵ gặp hỏa sanh vượng. Diêm Đông nói : Kỷ tỵ tại Tốn là Mộc bị phong đông, rễ dể bị bạt, hòa với Kim, Thổ vận ở Đông nam mà thành vật dụng, tuy ngoài dương trong âm mà chẳng phụ trợ nên khí hư tán, lại thêm Kim quỹ khắc nên thành Mộc bất tài dung vậy. Lạc lộc Tử nói : Kỷ tỵ Mậu thìn qua Càn cung mà thoát ách. Chú rằng : Kỷ tỵ Mậu thìn là loại cử mộc, kim quỹ vượng ở phương Tây, nạp âm mà Mộc thì đến đây phải tuyệt vậy. Như bị hạn ách nếu đến Càn Hợi cung thì Mộc đắc Thủy thành trường sanh mới khỏi ách.
- Canh ngọ Tân mùi Thổ, Mộc không dến khắc, chỉ kỵ nhiều Thủy thì bị thương khí, còn Mộc nhiều thì nhủ quy về, bởi Mộc quy Mùi vậy. Diêm Đong nói : Canh ngọ Tân mùi Mậu thân Kỷ dậu đều có đức hậu, Thổ bao hàm trấn tịnh, dung hợp hòa khí, nhân cách phước lộc.
- Nhâm thân là Kim lâm quan, thích gặp Thủy Thổ, nếu gặp Hỏa Bính thân Bính dần Mậu ngọ thì tác hại . Diêm D(ông nói : Nhâm thân Kim là cái uy của thiên tướng cho khí lâm quan, Thu Đong chủ quyền bị sát, Xuân Hạ thì tốt ít xấu nhiều, nhân cách lấy công danh mà phấn chấn, đế sát dùng để khắc bạc.

- Quý dậu là Kim cứng mạnh, Hỏa tử ở Dậu nên gặp Hỏa chẳng hề gì, chỉ kỵ Hỏa Đinh dậu cùng vị nên khắc vậy. Diêm Đông nói : Quý dậu là tự vượng Kim, cái khí chất thuần túy, Xuân Hạ thì tánh anh minh, Thu Đong rất quý nhân cách nên công danh sự nghiệp tiết tháo hơn người, đới sát thì niên thiếu ngang ngạnh đến sau 40 thì dần thuận tánh. Vương tiêu Bửu Giám nói : Nhâm thân Quý dậu là vị vượng Kim, không nên vượng lại vì vượng thì sát vật, không nên gặp Hỏa vì gặp Hỏa thì bị thương.
 Giáp tuất là tự khô Hỏa, không sợ các thủy chỉ sợ Nhâm tuất, đó là cái họa mộ trung thọ khắc, khó tránh được. Ngũ hành yếu luận nói : Giáp tuất Hỏa là Ấn là khố, gồm cho đến khí dương tạng mật, gặp được qúy cách thì phú quý quang đại, chỉ kỵ sanh Hạ thì trong cát có hung.

- Ất hợi là Hỏa phục minh nên khí uất ức mà không phát tịch được, Kỷ hợi, Tân mão Kỷ tỵ Nhâm ngọ Quý mùi là Mộc sanh cho nên tinh thần vượng tướng, có Quý hợi Bính ngọ Thủy thì không tốt. Diêm Đông nói : ẤT hợi là Hỏa tự tuyệt, khí hàm minh mẫn mà tự tịnh, thuộc hệ ám quang tịch nhiên vô hình, nếu được đắc số thì cao nhân diệu đạo, quân tử tốt đức.

- Bính tí là Thủy lưu hành, không sợ các Thổ, chỉ hiềm Canh tí bởi trong vượng gặp quỷ chẳng được tốt lành. Ngũ hành yếu Luận nói : Bính tí tự vượng Thủy, dương thượng âm hạ, tinh thần hoàn hảo, bẩm chất thiên tư khoáng đạt, tri thức uyên thâm, Xuân Hạ thì khí tề vật, công năng kiện lợi.

- Đinh sửu là phước tụ Thủy, rất thích Kim sanh, sợ bị Tân mùi Bính thìn Bính tuất tương hình phá vậy.Ngũ hành yếu luận nói “ Đinh sửu Ất dậu tại số là thủy tam yếu, có bẩm chất âm thạnh dương yếu, tuy trong sáng nhiều huệ mà thiếu phước, dùng Thủy Mộc vượng khí thì quân bình được âm dương mà phát quý đạt hiển sĩ “.

- Mâu Dần là Thổ thọ thương, chẳng có chút lực, cần được Hỏa sanh vượng để giúp khí, kỵ Kỷ hợi Canh dần Tân mão Mộc khắc, chủ bị đoãn triết đại hung. Ngũ hành yếu luận nói : Mậu dần, Bính tuất hai vị này thừa khí Thổ, một mặt sanh Hỏa, một mặt giữ Hỏa, tức là linh dương theo trong được phước khánh, đắc quý cách, đạo đức hơn đời, đến tận thân vương công tử, nhiều nơi chỗ nhựt sanh thường được dắc cách, cũng đếu phước thọ dài lâu, trước sau đều an dật.

- Kỷ mão là Thổ tư tử, bị ức chế nhiều, quý nhờ ở cái HỎa Đinh mão Giáp tuất Đinh hợi Kỷ mùi mà có phước. Ngũ hành yếu luận nói : Kỷ mão tự tử Thổ, mạnh ở nơi chánh vị, gió nỗi sét động, tán mà hòa khí, bẫm loại đạo hàn, tùy biến mà thích ứng, phức thọ tự tại, chỉ không lợi nơi tử tuyệt tức là cửu giả vật quý chi đồ. Tam mệnh soán cục nói : Mậu dần Kỷ mão Thổ thọ thương không sợ lấy Mộc lâm tổn vì Thổ không còn lực. Vương tiêu bửu giám nói : Mậu dần Kỷ Mão Thổ không nên gặp Thủy, gặp Thủy thì tổn tài, không sợ Mộc, gặp Mộc thì thành chắc. Mậu dấn thừa Thổ đức vượng khí mà hàm sanh Hỏa, đắc thì chỉ phước thọ dài lâu, Kỷ mão không nên gặp lại tử tuyệt, gặp thì hung.

- Canh thìn là Kim tụ khí, không dùng Hỏa chế thì khí vật tự thành, Hỏa mạnh thì thành tổn thương khí vật, gặp Hỏa bệnh tuyệt thì vô hại, nếu gặp Giáp thìn Ất tỵ thì xấu ác rất nhiều, cũng không thể khắc các Mộc được. Diêm Đông nói : Canh thìn Kim có được sự cương kiện trầm hậu, lại có tánh thông minh lanh lợi, Xuân Hạ họa phước cũng có, nhập cách thì tài kiêm văn võ, đới sát thì hảo lộng binh quyền.

- Tân tỵ là bạch kim, tinh thần đầy đủ, khí thế hoàn bị, có bị thiêu đốt cũng không tiêu vong, kỵ Bính thìn Ất tỵ Mậu ngọ các Hỏa, bởi Kim bạch ở tỵ mà không thường sanh, bại ở ngọ tuyệt ở dần, khí tán mà lại gặp Hỏa sanh vượng thì khó mà đương nổi. Ngũ hành yếu luận nói : Tân tỵ Kim là tự sanh học đường, đủ anh minh khối kỳ, Thu Đong sức lực đầy đủ, Xuân Hạ bảy phần xấu ba phần tốt, nhập quý cách thì chủ học hành thông minh, thân được thanh quý, có lòng thương vật. Vương tiêu bửu giám nói : Canh thìn Tân tỵ chưa thành Kim khí nên cần gặp Hoa. Tân tỵ là tự sanh, tỵ thì đắc Hỏa nên quang huy nhựt tân.

- Nhâm ngọ là Mộc nhu hòa , thân rễ đều nhỏ yếu, mộc năng sanh hỏa nên kỵ gặp nhiều hỏa, gặp thì thiêu hết vậy, tuy là kim sanh vương nhưng cũng không làm cho thương tổn được bởi kim đến đây thì bại, được kim trở thành quý, thủy thổ thạnh thì cũng quý, chỉ sợ kim Giáp ngọ làm thương tổn thôi. Ngũ hành yếu luận nói : Nhâm ngọ mộc tự tử, mộc tử tuyệt thì hồn đi mà thần khí linh tú, bẩm được cái đức tịnh minh, có dõng lực mà phá tịnh lập công, diên niên ích thọ.

- Quý Mùi mộc tự khố, sanh vượng thì tốt, tuy ẤT sửu kim không thể xung phá cũng đều phải quy về gốc mới không tương phạm, kỵ Canh tuất Ất mùi kim. Ngũ hành yếu luận nói : Quý mùi là chánh ấn , có tánh văn minh tài đức, muốn đươc phước thanh hoa. Ngọc tiêu bửu giám nói : Nhâm ngọ Quý mùi là Dương liễu mộc, mộc đến ngọ thì tử, đến mùi thì mộ, cho nên thịnh mùa Hạ lá nhiều, được thời thì phú thọ, chẳng đựơc thời thì bần yểu.
Giáp thân thủy tự sanh, khí lưu hành nên có nơi quy cũng mượn kim sanh, không sợ các Thổ khác chỉ sợ Mậu thân Canh tí thổ. Ngũ hành yếu luận nói : Giáp thân thủy bạch sanh có thiên chân học đường mà đắc nhập cuộc thì trí thức thông tuệ diệu dụng vô cùng.

- Ất dậu tự bại thủy, cần các kim tương trợ, bởi khí tự đã yếu, muốn được mẹ dưỡng, kỵ Kỷ dậu Kỷ mão Mâu thân Canh tí Tân sửu các Thổ, nếu gặp thì yểu triết cùng tiện.

- Bính tuất phước tráng lộc hậu thổ, mộc không thể khắc được, sợ gặp Kim sanh vượng, nếu gặp được Hỏa thạnh thì quý không nói hết.

- Đinh hợi Lâm quan thổ, Mộc không thể khắc, chỉ hiềm nhiều Kim thì tiết, cần có Hỏa sanh để cứu thì tốt , kỵ Kỷ hợi Tân mão Mộc. Ngũ hành yếu luận nói : Đinh hợi Canh tí hai thổ có chứa kim , trong cương ngoài hòa, có được đinh lực, dùng Thủy Hỏa vượng khí thì kiến công lập nghiệp vậy.

- Mậu tí Kỷ sửu hỏa ở trong thủy, lại gọi là thần long hỏa, gặp thủy thì quý là ma lục khí vậy. Ngũ hành yếu luận nói : Mậu tí chứa tinh thần quang huy toàn thật, khí cả 4 thời, bảo sanh cái phước, nhập quý cách tức là quý nhân quân tử khí chất gồm lớn phú quý hết đời.

- Kỷ sửu là hỏa Thiên tướng, lại là nhà Thiên Ất, hàm chứa khí oai phúc quang hậu, phát rất dũng mãnh , là tướng đức là khôi danh. Kinh nói : Hỏa được thai dưỡng thì khí dần mạnh, nếu được Bính Dần Mậu ngọ Hỏa trợ thêm thì trở thành có công tế vật .

- Canh dần Tân mão tuế hàn Mộc, sương tuyết không thể làm mất tiết tháo hướng chi là kim, như gặp thổ Canh dần Tân mão chẳng muốn chế trị, tự nhiên thành rừng. Diêm dông nói : Tân mão Mộc, tự vượng Xuân Hạ thì khí tiết xuất chúng, kiến công lập nghiệp, sanh ở Thu thì bị ngông cuồng hẹp hòi tỏa triết, khí vượng khí nhuần.

- Nhâm thìn là tự khố thủy, nếu là đất ao hồ tích thủy thì kỵ kim đến quyết phá, nếu gặp lại Nhâm thìn tức là tự hình, gặp nhiều Thủy Thổ thì thích, chỉ sợ gặp Nhâm tuất Quý hợi Bính tí Thủy, được sanh vượng thái quá trở thành tràn lan hỗn tạp. Ngũ hành yếu luận nói : Nhâm thìn là chánh ấn thủy, chứa cái đức thanh minh huần ốc, có tánh bao dung quãng đại, tâm thức như gương, được mùa Xuân Hạ thì đại phước tuệ, Thu Đông thì thuộc loại gian trá bạc đức.

- Quý tỵ là tự tuyệt thủy, tên gọi là hạc lưu ( chảy cạn ), nếu gặp Bính tuất Đinh hợi Canh tí thổ hùng hậu thì còn giữ cạn, nếu gặp kim tam hợp sanh vượng thì thành nguyên lưu dồi dào khoa danh tấn đạt vậy. Ngũ hành yếu luận nói : Quý tỵ Ất mão là Thủy tự tuyệt tự tử , bèn đến âm lui ẩn, chân tình sắc dưỡng ngưng thành khí quý trở nên quý cuộc, loại nầy thuộc diệu đạo quân tử hiễn công cập vật.

- Giáp ngọ là tự bại kim cũng gọi là cường hãn ( dữ mạnh ) kim gặp hỏa sanh vượng thì khí vật thạnh, gặp Đinh mão Đinh dậu Mậu tí hỏa đại hung. Ngũ hành yếu luận nói : Giáp ngọ kim là tấn thần khí tốt có, có đủ đức cang minh, Thu Đông thì tốt Xuân Hạ thì xấu, nhập quý cách thì khoa trương xuất chúng, nếu chẳng gặp thời mà đới sát thì bạo liệt vô ơn thiếu nghĩa. Chúc thần kinh nói : Giáp ngọ kim dương dữ mạnh, nếu ức chế thì trầm. Chú viết : Sa thạch kim cứng thích sát, muốn ức thì lấy hỏa mà dùng vậy. Quỷ Cốc di văn rằng : giáp ngọ thích quan quỷ. Lý hư trung nói : Giáp ngọ kim tổn dữ mạnh, Nhâm tí mộc hết nhu, hoặc Nhâm tí gặp Giáp ngọ hoặc Giáp ngọ gặp Nhâm tí, âm dương giành vị không còn sáng tỏ.

- Ất mùi kim thiên khố ( không chánh khố ), cũng là hỏa khắc mà thổ sanh thì phước mạnh khí tụ, kỵ Kỷ mùi Bính thân Đinh dậu các hỏa. Ngũ hành yếu luận nói : Ất mùi kim ở số là mộc khố lại là thiên tướng có đủ các đức thuần nhân hậu nghĩa, được quý cách thì anh kiệt xuất chúng khôi trấn tứ luân, nếu được cách thường mà đới sát xung phạm cũng được quân tử bình thường.

- Bính thân hỏa tự bịnh, Đinh dậu hỏa tự tử, khí nhỏ yếu, cần mộc tương trợ thì khí mới sanh, kỵ Giáp thân Ất dậu Giáp dần Ất mão các thủy, Diêm Đông nói : Bính thân hỏa bịnh hư, gặp Mộc đức văn minh , thủy khoáng đạt thì được phước tuệ, chỉ có kim là bạo hại, nếu dù có tốt thì cũng đổi thành cái khí bất hòa. Ngũ hành yếu luận nói : Bính thân Đinh dậu hỏa tư tử, hàm khí dấu kín yên tịnh, ngoài hòa trong cương, quý cách ở đó, thuộc loại có đạo quân tử, đức hạnh tự nhiên.

- Mậu tuất mộc trong thổ kỵ gặp lại thổ, nếu nạp âm gặp nhiều thổ thì một đời truân chuyên, kim không thể khắc bởi kim đến tuất thì bại, gặp kim có khi lại được phước, thích gặp nhiều thủy, thịnh mộc sẽ thành quý cách. Diêm Đông nói : Mậu tuất mộc cô thân độc vị, hòa với thủy hỏa vượng khí thì được cái đức chân thật anh minh, nhập cách thì văn chương tấn đạt, phước lộc thủy chung, nhưng vì thừa khí thiên tướng nên trãi nhiều gian hiểm song tiết tháo không đổi thì mới được phước về sau.

- Kỷ Hợi mộc tự sanh, căn bản phồn thịnh không sợ các kim khác chỉ sợ Tân hợi Tân tỵ Quý dậu kim, nếu gặp Ất mão Quý mùi Đinh mùi mộc chưa hẳn là không đại quý. Ngũ hành Yếu luận nói : Kỷ hợi mộc tự sanh, anh minh tài trí, như đắc được nơi thì thanh quý. Diêm Đông nói : Kỷ hợi mộc được thời thì thanh quý, chẳng gặp thời thì tân khổ.

- Canh tí thổ hậu đức, hay khắc các thủy và không kỵ các mộc, bởi mộc đến tí thì vô khí, nếu gặp được Nhâm thân kim thì là được Lộc vị tức quý vậy.

- Tân sửu thổ phước tụ, bởi lộc không thể khắc và Sửu là Kim khố, trong Sửu có Kim nên không sợ gặp Mộc. Ngọc tiêu Bửu giám nói : Canh tí Tân sửu thổ thích Mộc mà ghét Thủy, gặp Mộc là quan, gặp Thủy thì không tương nghi. Diêm Đông nói : Tân sửu Kỷ dậu Thổ trong có chứa ít Kim, đức hậu tánh cứng hòa mà bất đồng, trên dưới tề nhau dùng Thủy Hỏa vượng khí thì công lớn danh oai vậy.

- Nhâm dần tự tuyệt kim, Quý mão là kim tám khí, nếu gặp các Hỏa thì phải tiêu khí, chỉ tốt khi được Thủy Thổ triều. Ngũ hành yếu Luận nói : Nhâm dần Quý mão là Kim hư hoại bạc nhược nhưng cũng có đức nghĩa nhu cương, Thu Đông khang kiện không xấu, xấu lại là điềm tốt, Xuan Hạ thì nội hung ngoại cát, tốt thì bị xấu trước, nhập quý cách thì tiết chí anh minh, đới sát thì hung bạo không cùng vậy.Tam mệnh soán cuộc nói : Quý mão là Kim tự thai, nếu gặp Bính dần Đinh mão Lư trung Hỏa thì không sợ, vì thai Kim nên ở trong lư thì thì khí vật được thành vậy.

- Giáp thìn là Hỏa thiên khố ( không chánh khố ), có nhiều Hỏa trợ thì tốt, đó là đồng khí tương trợ, nếu gặp được Mậu thìn Mậu tuất Mộc sanh cho thì đắc quý cách, kỵ Nhâm thìn Nhâm tuất Bính ngọ Đinh mùi Thủy rất độc. Ngũ hành yếu Luận nói : Giáp thìn là Thiên tướng Hỏa, tánh khí nóng mạnh nhanh nhẹn, nhập quý cách thi văn khôi đặc biệt, lợi ở Thu Đông mà không lợi ở Hạ.

- Ất tỵ lâm quan Hỏa, Thủy không thể khắc bởi Thủy tuyệt ở Tỵ, được Thủy tương tề thì là thuần túy, nếu có hai ba Hỏa tương trợ thì cũng tốt. Ngũ hành yếu Luận nói : Ất tỵ chứa thuần dương, phát khí ở Tốn nên quang huy sung mãn, Xuân Đông theo tốt, Thu Hạ theo xấu.

- Bính ngọ Đinh mùi Thiên hà Thủy thổ không thể khắc Thủy ở trên trời nên đất Kim không sanh được, như sanh vượng thai quá thì phát dục nơi vạn vật, nếu tử tuyệt thái quá thì lại không thể sanh vạn vật . Ngũ hành yếu Luận nói : Bính ngọ là thủy chí cao, khí thể ôn hậu ở phương Nam tánh loại có đạo khí hư thì biến thành xuất sắc.

- Đinh Mùi thì đủ cả tam tài, toàn số được xung chánh khí bẩm được tinh thần toàn khí, căn tánh cao diệu, biến hóa vô cùng.

- Mậu thân trọng phụ thổ, mộc không thể khắc vì mộc tuyệt ở thân, nếu được kim thủy trợ nhiều thì chủ phú quý tôn vinh vậy.

- Kỷ dậu là tự bại thổ, khí không đầy đủ, cần lấy hỏa tương trợ, gặp được Đinh mão Đinh dậu hỏa thì tốt, kỵ nhất là tử tuyệt, nếu gặp Tân Mão Tân dậu mộc thì tai ương yểu triết

- Canh tuất Tân hợi là kiên thành kim không nên gặp hỏa dễ bị thương tổn, nếu được thủy thổ tương giúp thì quý. Diêm Đông nói : Canh tuất kim mộ ở hỏa, kim cương liệt trở thành hung bạo, Thu Đong ít nhiều trầm hậu, Xuan HẠ động sanh hối tiếc, quân tử nắm binh quyền, tiểu nhân thì tánh hung ác. Tân hợi kim mạnh ở Càn, có khí thuần minh trung chánh, Xuan Thu Đông đều tốt, Hạ thì 7 tốt 3 xấu, lấy nhân mà hành nghĩa, nếu có hình sát thì hung bạo bần tiện..

- Nhâm tí mộc chuyên vị, Quý sửu là mộc thiên khô, gặp tử tuyệt thì phú quý, gặp sanh vượng thì bần tiện, nhiều mộc thì yểu triết, kim thổ nhiều và thịnh thì tốt. Ngũ hành yếu Luận nói : Nhâm tí là mộc âm u, dương yếu mà âm mạnh, nhu mà không lập, gặp Bính ngọ thủy thì đức tánh thuần túy thuộc loại thần tiên dị sĩ tánh cách phi thường. Chúc thần Kinh nói : Nhâm tí mộc mắc ở chỗ nhu mềm, hoặc phát dương nhân thì cao minh. Chú rằng : Nhâm tí mộc ở nơi vượng thủy, tí được ít dương khí mà sanh, nhu thoát dễ triết tức là mộc tự bại, nếu phát lên được thì khí hỏa thượng tăng ích mà khiến cho phồn vinh nên cao minh nhân nghĩa.
- Bản gốc thiếu Quý sửu .
- Giáp Dần : Tự bịnh Thủy ; Ất Mão Tự tử Thủy : Tuy là tử bịnh Thủy nhưng Thổ không thể khắc được bởi vì can chi 2 Mộc có thể chế được Thổ, nếu gặp Nhâm dần Quý mão Kim thì rất tốt. Ngũ hành Yếu Luận nói : Giáp dần Nhâm tuất hai thủy này là phục nghịch, âm thắng dương chủ gian tà hai vật, chỉ nên dùng hỏa thổ tổn ích thì mới thành đại khí vậy.

- Bính thìn : tự khố thổ, vừa dày lại mạnh, thích Giáp thìn Hỏa mà ghét Mậu thìn mộc, Mộc này ở trên không tổn được vì bởi Bính là Hỏa, Thìn là Thiên khố hỏa, Thổ đã thành khí rồi, chỉ sợ Mậu tuất Kỷ hợi Tân mão Mậu thìn Mộc. Ngũ hành yếu luận nói : Bính thìn là chánh ấn thổ, có đức ngũ phước cát hội thì đều đại hưởng, không quý cũng phú, nếu phạm xung thì phần nhiều làm tăng sĩ.

- Đinh tỵ tự tuyệt Thổ mà lại không bị tuyệt bởi vì một Thổ mà ở với hai Hỏa, tức ở đất của cha mẹ nên không thể tuyệt, Mộc cũng không thể khắc, nhiều Hỏa thì càng tốt. Ngọc tiêu Bửu giám nói : Đinh tỵ là Đông Nam Hỏa đức vượng, đắc thì có nhiều phước thọ.

- Mậu ngọ là Tự vượng Hỏa ; Kỷ mùi là Thiên khô Hỏa, cư ở Ly thì sáng, là đất vượng tướng nên khí rất thịnh, các Thủy đều không hại được chỉ kỵ Bính ngọ Đinh mùi Thiên thượng Thủy. Diêm Đông nói : Mậu ngọ Tự vượng Hỏa có được khí viêm thượng ở Ly, tụ vật vô tình, động khắp các chúng, đắc ở Thu Đông, dùng Thủy Thổ vượng khí khoát đạt cao minh, phước lực mạnh mẽ, Xuân Hạ tốt theo, dùng Kim Mộc thì tuy phát nhanh mà mệnh chẳng thường lâu. Ngũ hành yếu luận nói : Kỷ mùi hỏa suy chứa được dư khí nên tháng Xuân Hạ thì vận được dấu kín nên minh mẫn tuấn đạt, phướng khánh đầy đủ, gặp Hạ thì chẳng hòa khí, gặp Thu thì trước tốt mà sau thì xấu.

- Canh thân, Tân dậu 2 Mộc này có Kim ở trên, do Kim mà thành vật nên kỵ tái gặp Kim sẽ hủy mất khí vật vậy, nếu gặp Giấp thân Ất dậu Thủy thì nhập cách. Ngọc tiêu bửu Giám nói : Canh thân tự tuyệt mộc là hồn du thần biến gặp được ngày mà sanh là loại phi phàm chủ tính cách xuất chúng, gia tộc không kềm chế được, nhập quý cách thì nhân kiệt anh tài. Tân dậu là Mộc thất vị, đối với Quý mão Kim thì cương nhu tương tề suy quần bạt tụy. Chúc thần Kinh nói : Hồn quý ở Thiên du, nên Canh thân mộc không sợ bị tử tuyệt mà quý ở thiên du. QUỷ cốc dị văn nói : Tân dậu kỳ sanh vượng. Chú rằng : Tân dậu mộc khí tuyệt, cần được sanh vượng thì mới vinh đạt.

- Nhâm tuất Thiên khố Thủy ; Quý Hợi Lâm quan Thủy đều gọi là Đại hải Thủy bởi can chi nạp âm đếu là thủy, kỵ gặp các thủy, tuy Nhâm thìn thủy khố cũng không thể gánh nổi, không bị các Thổ khắc, tử tuyệt thì tốt còn sanh vượng thì lại lan tràn không có chỗ quy vậy . Ngọc tiêu bửu giám nói : Hợi Tí là Thủy chánh vị, ở Nhâm tuất khí phục mà khôn thuận, chỉ dùng hỏa thổ để tổn ích thì thành đại khí ; QUý hợi đủ số thuần nhân, thể chất thiên từ thông minh, chí khí rộng lớn, phát triển công nghiệp, chọn nhựt thời tốt, đới sát thì vào loại hung giảo.

* Lại nói : Bính tuất thổ là phúc hậu, hỏa cũng tụ ở đây vậy, Kỷ mùi Canh thìn Mậu thìn Đinh sửu cũng đồng nghĩa nầy, Kỷ mùi hỏa, trong Mùi có mộc mộ, Canh thìn Kim vậy, trong kim có thổ mộ, Mậu thìn mộc trong thìn có thủy mộ, Đinh sửu thủy trong sửu có kim mộ, đều là khí phụ mẫu nên được dương, năm thứ này phước sâu dày nên dù có quỷ thương cũng không làm hại khí thành vậy. Lý hư Trung nói : Bính tuất rất lạ, lấy Tuất lại là bổn vị của thổ mà rất vượng thạnh.

* Ất tỵ, Mậu ngọ là hỏa nóng mạnh, Thu Đông có đức tốt, Xuân Hạ thì hình hung, nếu trọng Hạ thì phát nóng dữ, hết thảy khô táo, Ất tỵ Lâm quan hỏa có một mộc sanh nên khí thạnh, Mậu ngọ tự vượng hỏa nếu sanh Thu Đông thì khí ấm có đức nuôi vật, như sanh Xuân Hạ thì thì vượng hỏa trở về dương vị nên sanh hung, Hạ thì bạo lệ, thuộc loại hung yểu.

* Ất mão Quý tỵ Đinh dậu Ất hợi thủy hỏa tuy tử tuyệt nhưng lại giai diệu, hỏa tử tuyệt mà trong sáng ngoài tối phản quang hồi chiếu, thủy tử tuyệt mà thanh trọng. Lý trung Hư nói : 4 vị này tuy tử tuyệt không thanh minh mà diệu giai, cứ xem Thiên ất quý nhân thì biết vậy.

* Nhâm dần kim, việc vua không thể nghịch ; Canh thân kim, làm tôi không chống ngũ hành thuộc ngũ âm, cung thổ là vua, thương quan là thần, giác thủy là dân, thương thái quá thì thần mạnh, giác thái quá thì vua yếu, nên trong ngũ hành thường dùng 4 thanh cung để sát thương giác

* CAnh thân là giác mộc tự tuyệt, Nhâm dần là thương kim tự tuyệt, đều khiến được cái đạo trung thuận , nên việc vua không nghịch, là thần không chống, cho nên từ tử vi loan đài phụng các trở lên rất kỵ kim mộc mệnh sanh vượng, như vậy không thể làm, làm thì chẳng được lâu, độc nhất thì có thể được, nếu kim mộc sanh vượng mà khắc phá thì chẳng thể.

Canh thân mộc, Ất tỵ hỏa, thổ kim sanh mà hoàn, không sanh Bính ngọ thủy Quý mão kim, mộc thủy tử mà lại không tử, thổ sanh thân mà lại không sanh nơi Canh thân, thủy sanh thân mà lại không sanh nơi Mậu thân, hỏa sanh dần mà lại không sanh nơi Giáp dần, kim sanh tỵ mà lại không sanh nơi Ất tỵ, mộc sanh hợi mà lại không sanh nơi Tân hợi, bởi nơi sanh mà trở lại phản chế vậy, đắc thì yểu thọ. Mộc tử mão mà lại không tử nơi Quý mão, thổ tử mão mà lại không tử nơi Đinh mão, mộc tử ngọ mà lại không tử nới Bính ngọ, kim tử tí mà lại không tử nơi Canh tí, hỏa tử dậu mà lại không tử nới Tân dậu, bởi nơi tử mà được sanh vậy, đắc thì trường thọ.
 Mậu tí can chi vượng ở Bắc phương là thủy vị, nạp âm thuộc hỏa tức hỏa ở trong thủy,không phải thần long thì không có. Bính ngọ can chi vượng ở Nam phương là hỏa vị, nạp âm thuộc thủy tức thủy ở trong hỏa, không phải Thiên hà thì không có. Người Bính tí gặp Bính ngọ hoặc người Bính ngọ gặp Mậu tí thì quý, bởi trong hỏa xuất thủy, trong thủy chứa hỏa tức thủy hỏa ký tế, tinh thần vận động thì thuộc người phi thường vậy. Lý trung Hư nói : Bính ngọ thiên thượng thủy trong 12 thời thiên hậu vậy, đắc được thì cao minh khoáng đạt linh dị bất phàm . Mậu tí hỏa ở trong thủy thì lục khí quân hỏa vậy, đắc được gọi là thần minh. Ngoài ra các khí khác lấy đây mà làm chuẩn. Tân sửu thổ không sợ mộc, Mậu tuất mộc không sợ kim, vì sao nói vậy : kim khố ở trong sửu nên mộc không thể khắc, trong mậu có hỏa kim tới thì bị thương. Như Mậu tuất mộc có hai thổ ở trên một mộc ở dưới, vì chôn dưới 2 thổ nên mộc manh nha mà chưa thấy hình tức là thổ thạnh mà mộc yếu, các loại khác đều xét.

* Canh dần mộc Đinh tỵ thổ không sợ quỷ kim mộc, kim đến cung dần tức là quỷ nhưng kim tuyệt ở dần nên không là quỷ, Mộc đến cung tỵ mà tỵ có kim sanh khắc mộc nên không là quỷ, nếu Canh dần mộc mà gặp Nhâm thân kim tức bị tương xung tương khắc vậy, các vị khác cũng.

* Canh ngọ thổ thừa nơi Nam phương vượng hỏa dưỡng mà thành hình, Mậu thân thổ tự sanh, Canh tí thổ tự doanh nên không sợ mộc quỷ bởi mộc đến ngọ thì tử ,đến thân thì tuyệt, đến tí thì bại, lại là thổ tự dưỡng nên không thể làm thương tổ được. CÁc vị khác cũng tính.

* Nhâm thân Quý dậu Canh tuất Tân hợi kim khí mạnh nên không sợ quỷ, Mậu tí hỏa không sợ quý thủy bởi Tích lịch hỏa là Thần long, có thủy thì Lôi mới phát, nếu gặp Bính ngọ Đinh mùi Thiên thượng thủy thì có thể kỵ vì bị tương chiến, thường thì khí bổn mạng can chi thọ thương tức lục căn không đủ, có trước không sau ; như Đinh tỵ gặp Quý hợi, Nhâm tí gặp Mâu ngọ. Các vị khác cũng tính vậy.

* Mâu ngọ Canh thân tương hợp, Canh thân Thạch lựu Mộc Hạ vượng nên thích Mậu ngọ, bởi hỏa cung vượng mà Thạch lựu mộc tánh được đắc thời, Mâu ngọ lại là cực vượng hỏa, thích nơi Thân, gặp thiên mã tương cho vậy, là thần đầu lộc tức chuyên vị thập can, Lộc là Am dương chuyên vị, thiên địa thần hội vậy. Bày cái chân nguyên của Bát quái , xếp cái thành bại của Ngũ hành, sự cương nhu tương quyền, có hay không hợp hóa, nên Nhâm tí quý ứng ở Bắc phương Khảm ; Bính ngọ hỏa thuộc Nam cung Ly, cho nên Bính ngọ đắc Nhâm tí không là phá, Đinh tỵ đắc Quý hợi không là xung, đây là Thủy Hỏa tương tế có cái nghĩa Phu Thê phối hợp vậy ; Khảm Ly là Nam Nữ, cái dụng tinh thần, Nhâm tí được Bính ngọ, Quý hợi được Đinh tỵ thì trước sau Thủy Hỏa có tương vị tế, không như Đinh tỵ gặp Nhâm tí, Bính ngọ gặp Quý hợi.

* Canh thân Tân dậu Kim ứng ở Tây phương Đoài, Giáp dần Ất mão Mộc thuộc Đong phương Chấn, sở dĩ Giáp dần gặp Canh thân không là hình, Ất mão gặp Tân dậu không là quỷ, bởi Mộc nữ Kim phu chánh thể vậy, rõ sự thần hóa tả hữu, Mộc chủ hồn mà Kim chủ phách, hai thứ này tả hữu tuong gian không hợp, nếu được toàn hợp tức là thần hóa chẳng còn khoảng cách vậy, nếu Canh thân gặp Ất mão, Tân dậu gặp Giáp dần thì không phải cái dụng biến thông nguyên thần.

* Mậu thìn Mậu tuất Thổ là khôi cương tương hội, hậu đức làm khôn không phải là phản ngâm, không phải là xung bởi Thổ đắc chánh vị, can ở nguyên hội.

* Kỷ sửu Kỷ mùi là quý thần giữ trung trinh, đây là tứ chân Thổ có cái đạo thủy chung của vạn vật, nếu chẳng phải bực đai nhân quân tử thì không có được cái đức nầy, huống chi là thần đầu lộc, chủ của các thần, sự vận động tả hữu ở trong lục hợp, biến hóa thừa thiếu của việc cát hung vậy.

* Kỷ sửu Thổ là Thiên ất quý nhân, là thái thường phúc thần, giải được sự hung ác của các sát, nếu đắc được thì chủ hoạnh tài, Mâu thìn là Câu trần, Mậu tuất là Thiên không, chủ tướng trấn biên phòng nên bất thường vậy, Đinh tỵ là thần Đằng xà, hung láy hung mà dùng, cát lấy cát mà theo, dễ bị mê hoặc, có tánh hoạt kê, Bính ngọ là thần Châu tước thể chất dương minh, văn từ thông tuệ, Giáp dần là thần Thanh long, giúp cho mọi loài, đắc lợi cả 4 phương, Ất mão là thần Lục hợp, phát sanh sự vinh hoa, Nhâm tí là thần Thiên hậu chủ thiên đức âm dương tốt đẹp nhiều quyền, Quý hợi là thần Huyền vũ là cuối cùng âm dương, khí đã tiềm phục, theo dưới mà lưu, tuy có đại trí mà chẳng có sự hiên ngang siêu đạt, thuận thì được an bình, nghịch thì loại cừu gian, Canh thân là thần Bạch hổ, lợi ở võ mà không lợi cho văn , sắc lệ nhu mì, có nhân nghĩa, thích u tịch, Tân dậu là thần thái âm, tính cách thanh bạch, văn chương trôi chảy, tài năng xuất chúng, nhưng phải xét sự hưu vượng thân sơ mà định tánh tình họa phước.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.