bài viết trong chuyên mục "lễ hội đền phủ"

12 con giáp năm bính thân 2016 12 cung hoàng đạo chòm sao tử vi tây phương Áo Dài âm dương tổng luận bát trạch bát tự bếp bí ẩn giấc mơ biểu phí bủa trú phù ấn phong thủy Căn duyên tiền định câu chuyện phong thủy câu hỏi hay quan tâm Cầu Tự Pháp - Phép Đặt Bếp Cầu Con cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ Chọn tuổi xông đất chuyện phật giáo chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học khai trương và cúng giao thừa năm Đinh dậu khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lễ hội đền phủ lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nghi nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phật giáo tổng hợp phong thủy 2021 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy tân sửu phong thủy tân sửu 2021 phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH PHONG-THUY-DUONG-TRACH phongthuyviet Quan Họ sao và vận hạn 2021 thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch tu vi 2017 TU-VI-DAU-SO tử bình tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi 12 con giáp từng năm tử vi năm 2021 tử vi tổng hợp tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem bói tổng hợp xem chân gà Xem Mũi biết bệnh xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo Xem tuổi xông nhà xông đất năm 2021 xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn lễ hội đền phủ. Hiển thị tất cả bài đăng

Đền Mẫu Đông Cuông Yên Bái Và Một Số Huyền Tích  
Đền Mẫu Đông Cuông cách thành phố Yên Bái hơn 50 km về phía Tây Bắc, thuộc xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Lao cai. Đền Mẫu Đông Cuông thờ Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn và thờ thần Vệ Quốc và các vị anh hùng dân tộc trong kháng chiến chống giặc Nguyên, chống Pháp.
Trước đây đền có tên là “Đền Đông”, “Đền Mẫu Đông”, hay còn gọi là “Đông Quang linh từ”, còn bây giờ được gọi là “Đền Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn”.
Từ lâu, Đền Đông Cuông xã Đông Cuông nổi tiếng là ngôi đền linh thiêng, thờ Mẫu Thượng Ngàn, hàng năm thu hút đông đảo nhân dân cả nước đến dâng hương, vãn cảnh đền và cầu nguyện cho mình và người thân một năm gặp nhiều may mắn…

Theo Đại Nam nhất thống chí, Đền Đông Cuông thờ Cao Quan Đại Vương, huý là Thổ Lệnh và Thạch Khanh, đã có công chu du thiên hạ, tìm phương thuốc quí để chữa bệnh cho nhân dân. Đến khi mất lại rất linh ứng, ngầm theo để giúp các vị tướng lĩnh đánh giặc ngoại xâm bảo vệ biên cương, được nhân dân suy tôn, vua gia phong là “Thần vệ quốc” và đã hoá thân thành Mẫu Thượng Ngàn, là người mẹ của vũ trụ. Năm 1258, nghĩa quân của tướng Hà Đặc sau khi thắng trận đã tập kết quân tại đền Đông Cuông và tổ chức mổ trâu khao quân.
Trải qua các thời kỳ lịch sử dân tộc chống giặc ngoại xâm Đền Mẫu Đông Cuông còn tôn thờ thêm các vị anh hùng dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thế kỷ XVIII và các vị Thủ lĩnh người Tày trong cuộc khởi nghĩa Giáp Dần của người Dao – Tày 1913 – 1914 đã hi sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Đền Đông Cuông là một trong các nơi khởi đầu của phong trào tục thờ Mẫu Việt Nam. Đến nay đền đã được xây dựng lại khang trang bề thế.
Đền Mẫu Đông Cuông được coi là đền thờ chính của Mẫu Thượng Ngàn – Mẫu thứ hai trong Tam Tòa Thánh Mẫu..
Một số huyền tích về Đền Mẫu Đông Cuông
1. “Trong Kiến Văn Tiểu Lục quyển X mục “Linh tích” thời hậu Lê, cụ Lê Quý Đôn viết:
“Văn Châu, một người thuyền hộ xã Kính Chủ, huyện Thanh Ba (nay thuộc địa phận Lâm Thao- Phú Thọ) là học trò Hiệu như Nguyễn Đình Kính. Giữa niên hiệu Bảo Thái (1720 – 1729) đi buôn ở Đông Quang (nay thuộc huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái) bến sông này có miếu thờ Đông Quang Công Chúa vẫn nổi tiếng anh linh. Tục truyền Công Chúa là vợ Đại vương miếu Ngọc Tháp huyện Sơn Vi (sau đổi là huyện Lâm Thao).
Một hôm trời đã tối, Văn Châu thấy một người từ trong miếu Đông Quang đi ra đến chỗ thuyền đỗ, gọi tên mình và bảo rằng: “Khi thuyền nhà ngươi trở về qua miếu Ngọc Tháp, phiền nhà ngươi nói giúp là kính tạ Đại vương, Chúa bà đã sinh con trai rồi, gửi lời về báo để đại vương biết”. Nói xong liền biến mất. Đường thuỷ mà thuyền buồm đi từ Đông Quang đến Ngọc Tháp phải ba, bốn ngày, thế mà ngày hôm ấy, Văn Châu bắt đầu đi từ sáng sớm mà đến giờ Thân đã tới Ngọc Tháp (chỗ này núi đá mọc nhô ra bến sông như hình ruột ốc, miếu ở trên núi, bên cạnh miếu có chùa Lăng Nghiêm) Văn Châu theo lời thầy dặn, đứng ở đầu thuyền nói lại rồi đi”.
2. Thần Tích của dòng mo họ Hà coi việc giữ đền và tế tự chép:
” Đông Quang Công Chúa là Lê Thị Kiểm. Bà là vợ ông Hà Văn Thiên, người Tày Đông Cuông được triều đình giao cai quản vùng Đông Cuông và ngoại vi. Ông Thiên, hậu duệ của Hà Đặc, Hà Bổng (Trại chủ Quy Hoá) bị hy sinh trong chiến tranh chống quân Nguyên. Ông bà sinh hạ được một con trai. Khi Ông tạ thế, bà Kiểm và con trai ở lại Đồng Cuông rồi mất tại đấy. Dân lập miếu thờ ông bên Ghềnh Ngai (hữu ngạn sông Hồng) và thờ hai mẹ con bà bên tả ngạn, đối diện với miếu”.
3. Trong nhân dân hai xã Đông Cuông và Ngòi A lưu truyền một huyền thoại:
Ở xóm Đá Ôm, thôn Đồng Dẹt, xã Đông Cuông có một giếng nước sâu trong vắt. Giếng ở chân gò, nơi chúa họ Cầm ở (tù trưởng bộ tộc Tày). Một hôm, con gái tù trưởng là Cầm Thị Lả (Cầm Thị Lê) ra giếng gội đầu. Lỡ tay đánh rơi lược xuống giếng, nàng vội nhào theo vớt lược. Lược chẳng thấy chỉ thấy đáy giếng lộ ra một con đường rộng, sâu hút. Nàng theo đường ấy, đi mãi đến Thuỷ Cung rồi gặp Long Vương lấy làm chồng và sinh hạ được một con trai. Nhớ nhà, nàng bế con trở lại dương thế và hứa với Long Vương hàng năm sẽ xuống thăm chồng một lần và chỉ đi một mình không đem con đi cùng. Giếng Đồng Dẹt trở thành giếng thần. Tháng Giêng ngày mão, xã chọn thanh niên chưa vợ đi tát sạch giếng để lọc lấy nước trong thanh khiết cúng lễ.

Tứ phủ thánh Cậu


Là các vị Thánh với hình tượng nam niên thơ ấu, tinh nghịch, thường phù hộ cho bách gia bác nhân, nhất là các em nhỏ. Sự tích các Cậu thường theo môtip "Các hoàng tử thiên cung" theo lệnh Ngọc Hoàng giáng hạ hộ dân, dẹp giặc, dạy dân nghề nghiệp.... và về trời vào tuổi niên thiếu. Tứ Phủ Thánh Cậu gồm thập nhị vị (mười hai Thánh Cậu). Mười hai là con số tượng trưng bao quát  : Thông thường người ta thường hầu các Cậu đại diện:

1. Cậu Hoàng Cả (sắc phục màu đỏ)

2. Cậu Hoàng Đôi (sắc phục màu xanh)

 3. Cậu Hoàng Bơ (sắc phục màu trắng)

4. Cậu Hoàng Tư Long thành (sắc phục màu vàng)
 
5. Cậu Bé (sắc phục màu xanh)


Giá cậu bé là một "giá đồng mở". Người ta quan niệm
 mỗi bản đền lđều có một cậu bé coi giữ gọi là cậu bé bản đền, trong đó thường hay ngự đồng như : Cậu Bé Đồi Ngang, Cậu Bé Phủ Giày, Cậu Bé Sòng v.v.v
. Trang phục các giá Cậu thường là áo cánh (màu áo đã nói ở trên) đầu vấn khăn đầu rìu, chân quấn xà cạp đi giày thêu, hài thêu. Diễn xướng trong giá Cậu thường là múa hèo, múa gậy, bắn cung,hoặc múa lân v.v. Giá Cậu Bơ Thoải còn có múa chèo đò, giăng lưới bắt cá...

Cậu Bé Đồi Ngang  

Theo truyền thuyết  : Thánh Mẫu tiên chúa tái tam giáng thế, hiển thánh tại vùng đất Nho Quan, Ninh Bình vào khoảng thế kỷ XVI. Biến hóa thành cô thôn nữ dọn quán bán nước ven đường ( trước cổng đền ngày nay ) quan sát, dùng phép thuật trừ tà ác, dâm tặc vảo vệ nhân dân. Thánh Mẫu biến hóa, cải trang thành người trần để thử lòng trần để thử lòng trần gian.
Lúc bấy giờ, có một người con trai họ Mai ở Thanh Hóa cũng cùng cành đạo đày, bị giáng trần. Cơ duyên đã đưa họ gặp gỡ, tâm đầu ý hợp, trong cuộc trò truyện họ nghĩ về cuộc sống gia đình hạnh phúc với những đứa con. Bỗng nhiên có tiếng khóc của một đứa bé . Và đó chính là đứa con ước nguyện của Mẫu Liễu Hạnh và người con trai họ Mai . Theo thời gian cậu bé lớn lên và trưởng thành, khí phách hiên ngang , giúp dân giúp nước . Tương truyền rằng cậu là sống phóng khoảng , cậu sẵn sàng cho một người nào đó tất cả nếu thuận lòng, nếu người đó có tâm sáng. Nhưng cũng không kém phần dứt khoát của một chàng trai, nếu không bằng lòng với ai, cậu sẽ lấy hết những gì mà người đó có . Vì vậy Đền Đồi Ngang ngoài thờ Mẫu Liễu Hạnh, còn là nơi linh thiêng thờ cậu bé Đồi Ngang. Hàng năm du khách thập phương đến với đền đều thành tâm cúng lễ xin lộc tài , mong điều tốt đẹp và thuận lợi trong cuộc sống và công việc
Đền Đồi Ngang ( Phủ Đồi Ngang ) là một di tích văn hóa tâm linh thuộc hệ thống thờ Mẫu ở miền Bắc và Miền Nam . Đền nằm ở xã Phú Long, Huyện Nho Quan , tỉnh Ninh Bình . Từ quốc lộ 1 A tại thị xã Tam Điệp theo quốc lộ 12B về ngã 3 Rịa và rẽ vào quốc lộ 45 chừng 1km là đến Đền Đồi Ngang . Đền Đồi Ngang nằm bên đồi thông, thờ cậu bé Đồi Ngang và Công chúa Liễu Hạnh . Do phủ nằm ở trên đồi có một con đường chạy ngang qua nên được gọi là Đền Đồi Ngang
Lễ Hội Đền Đồi Ngang diễn ra vào 10 đến ngày 20 tháng 2 âm lịch với các phần tế lễ và hầu đồng

Cô Bơ Thoải cung  
 
 
Cô vốn là con Thủy Tề ở dưới Thoải Cung , được phong là Thoải Cung Công Chúa, giá ngự vào ra trong Cung Quảng Hàn. Có người còn nói rằng, Cô Bơ là con gái vua Long Vương rất xinh đẹp nết na nên được Đức Vương Mẫu (có người cho rằng đó là Mẫu Cửu Trùng Thiên) cho theo hầu cận, chầu chực trong cung cấm. Sau này Cô Bơ Thoải giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng, tương truyền sự tích như sau: Đức Thái Bà nằm mộng thấy có người con gái xinh đẹp, dáng ngọc thướt tha, tóc mượt mắt sáng, má hồng, môi đỏ, cổ cao ba ngấn, mặc áo trắng đến trước sập nằm dâng lên người một viên minh châu rồi nói rằng mình vốn là Thủy Cung Tiên Nữ, nay vâng lệnh cao minh lên phàm trần đầu thai vào nhà đó, sau này để giúp vua giúp nước, thì Thái Bà thụ thai. 
 
Đến ngày 2/8 thì bỗng trên trời mây xanh uốn lượn, nơi Thủy Cung nhã nhạc vang lên, đúng lúc đó, Thái Bà hạ sinh ra được một người con gái, xem ra thì nhan sắc mười phần đúng như trước kia đã thấy chiêm bao. Thấy sự lạ kì vậy nên bà chắc hẳn con mình là bậc thần nữ giáng hạ, sau này sẽ ra tay phù đời nên hết lòng nuôi nấng dạy dỗ bảo ban. Cô lớn lên trở thành người thiếu nữ xinh đẹp, tưởng như ví với các bậc tài nữ từ ngàn xưa, lại giỏi văn thơ đàn hát. Đến khi cô vừa độ trăng tròn thì cũng là lúc nước nhà phải chịu ách đô hộ của giặc Minh, cô cùng thân mẫu lánh vào phía sâu vùng Hà Trung Thanh Hóa, nơi ngã ba bến Đò Lèn, Phong Mục. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, cô đã có công giúp vua Lê trong những năm đầu kháng chiến (và có nơi còn nói rằng cô cũng hiển ứng giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Dẹp Mạc” sau này). 
 
Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi (có sách nói là Lê Lai) bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cũng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đo không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi. Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình phong công và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh.
 
 Người ta cho rằng, Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, đến chí kì mãn hạn thì có xe loan lên đón rước cô về Thủy Cung. Sau đó cô hiển linh giúp dân chúng ở vùng ngã ba sông, độ cho thuyền bè qua lại được thuận buồm xuôi gió vậy nên cô còn có danh hiệu là Cô Bơ Bông (do tích cô giáng ở ngã ba sông) hay Cô Bơ Thác Hàn (theo tên gọi ở nơi quê nhà). Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi nơi Cô Bơ luôn giá ngự về đồng, già trẻ, từ đồng tân đến đồng cựu, hầu như ai cũng hầu về Cô Bơ Bông. Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh. Vì theo quan niệm nguyên xưa Cô Bơ Bông hầu cận Mẫu Thoải, lại theo sự tích nơi quê nhà cô là ở đất Hà Trung, Thanh Hóa, ngã ba Bông bến đò Lèn nên đền cô được lập ở đó, gần đền Mẫu Thác Hàn (chính là Mẫu Thoải), gọi tên là Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây đường đi vào rất khó khăn, nhưng hiện giờ đã được tu sửa nên giao thông đã dễ dàng hơn.
 
 Đền cô là nơi thắng cảnh “trên bến dưới thuyền”, nơi giao của Ngũ huyện kê: “Một tiếng gà gáy năm huyện đều nghe” cũng với danh tiếng anh linh của tiên cô nên khách thập phương đến chiêm bái, cầu xin nhân duyên, khoa cử, làm ăn rất đông đúc. Thuyền bè dưới bến sông qua lại đều phải đốt vàng mã kêu cô, rồi những người đến kêu cầu đều dâng cô nón trắng hài cườm, võng lụa thuyền rồng. Khi thỉnh cô, văn thường hát : 
 
 
   

Cô đôi thượng ngàn  

 
.

Cô Đôi Thượng Ngàn . Cô vốn là con Vua Đế Thích trên Thiên Cung, được phong là Sơn Tinh Công Chúa, ra vào hầu cận bơ tòa Vua Mẫu trong điện ngọc, nơi tiên cảnh. Sau cô giáng sinh xuống đất Ninh Bình làm con gái nhà một chúa đất ở chốn sơn lâm, khi hạ sinh, Cô Đôi rất xinh đẹp: da trắng, tóc xanh mượt mà, mặt tròn, lưng ong thon thả. Sau này cô quyết chí đi theo hầu Đức Diệu Tín Thuyền Sư Lê Mại Đại Vương (chính là Mẫu Thượng Ngàn, Bà Chúa Sơn Trang) học đạo phép để giúp dân. Rồi khi về thiên, cô được theo hầu cận ngay bên cạnh Mẫu Thượng Ngàn Đông Cuông Tuần Quán được Mẫu Bà truyền cho vạn phép, giao cho cô dạy người rừng biết thống nhất về ngôn ngữ (nên có khi còn gọi là Cô Đôi Đông Cuông), cũng có người cho rằng cô về theo hầu cận Chầu Đệ Nhị. Lúc thanh nhàn cô về ngự cảnh sơn lâm núi rừng ở đất Ninh Bình quê nhà, trong ba gian đền mát, cô cùng các bạn tiên nàng ca hát vui thú tháng ngày trên sườn dốc Bò, có khi cô biến hiện ra người thiếu nữ xinh đẹp, luận đàm văn thơ cùng các bậc danh sĩ, tương truyền cô cũng rất giỏi văn thơ, làm biết bao kẻ phải mến phục. Cô Đôi cũng là tiên cô cai quản kho lộc Sơn Lâm Sơn Trang, người trần gian ai nhất tâm thì thường được Cô Đôi ban thưởng, nhược bằng có nợ mà không mau trả lễ cô lại bắt đền nặng hơn. 

Cô Đôi Thượng rất hay ngự về đồng, vì danh tiếng cô lừng lẫy ai ai cũng biết đến, đệ tử cô đông vô số và cô cũng hay bắt đồng. Trong đại lễ khai đàn mở phủ người ta thường dâng lễ vàng cây lên 5 tiên cô là Cô Đôi, Cô Bơ, Cô Sáu, Cô Chín và Cô Bé, trong đó Cô Đôi thường là giá cô ngự về đầu tiên (mở khăn cho hàng cô) để chứng lễ. Khi cô về ngự thường mặc áo lá xanh hoặc quầy đen và áo xanh (ngắn đến hông), trên đầu có dùng khăn (khăn von hoặc khăn vấn) kết thành hình đóa hoa, cũng có một số nơi dâng cô áo xanh, đội khăn đóng (khăn vành dây) và thắt lét xanh, hai bên có cài hai đóa hoa. Cô về đồng thường khai cuông rồi múa mồi, múa tay tiên hái tài hái lộc cho đồng tử.

Vì Cô Đôi Thượng hầu cận bên Mẫu Đông Cuông nên đền cô cũng được lập gần Đền Đông Cuông, trong đền thờ Cô Đôi và Cô Bé Đông Cuông, cách đền chính khoảng 500m, trước cửa đền có giếng nước quanh năm trong mát. Nhưng chính đền của cô lại là Đền Cô Đôi Thượng Ngàn tại xã Nho Quan, Ninh Bình (qua rừng quốc gia Cúc Phương) thuộc làng Bồng Lai vậy nên khi cô về ngự, văn thường thỉnh:


Rong chơi quán Sở tần Lâù
Xe giá lên chầu thưọng đế vua cha
Đệ tử Cô vô số hằng hà
Chiêu tài tiếp lộc gần xa cho đồng

(Hầu vua hầu mẫu bơ toà )
Vua cha cũng quý, chúa bà yêu thương
Về đồng đánh phấn soi gương
Khăn xanh lấy chít vành dây đội đầu

Rong chơi quán Sở Tần lâù
Loan giá lên chầu thưọng đế vua cha
Đền thờ Cô vô số hằng hà
Ban tài tiếp lộc gần xa cho đồng)

Đứng trên ngàn rừng xanh ngan ngát
Thấy cô về ngỡ Phật quan âm (1)
Tay đàn miệng hát ca ngâm
Điểm đa điểm đót tiếng trầm nhặt khoan

Vượn trên non ru con rầu rĩ
Dưới suối ngàn chin năn nỉ véo von
Vui về thú cảnh Đông cuông
Trên ngàn cô thượng ca ngâm chơi bời

Cảnh núi rừng sương rơi lác đác
Thú hữu tình càng ngự càng vui
Ba gian lầu mát thảnh thơi
Sớm rong đỉnh núi tối ngồi sườn non

Ca rằng tang tính tình tang
Ai ơi có biết cô ngàn tôi chăng
Bốn bề hiu quạnh vắng tanh
măng tre măng lứa mọc xanh đầy ngàn

Chắp tay bái lạy cô ngàn
Sơn lâm công chúa giáng đàn chứng đây
Trần gian hồ dễ ai hay
mời cô lai giáng đền này chứng minh

Hiệu cô là công chúa Sơn tinh
mặt tròn vành nguyệt má in phấn hồng
Da cô trắng tựa tuyết đông
tóc dà dà biếc lưng ong dịu dàng
Chân cô đưa nhởn đưa ngang
Bước nào bước ấy tiên nàng nguyệt nga
Chạnh lòng vàng đá người ta
Chau mày quân tử xót xa yêng hùng

Mỗi năm đẹp một não nùng
Dạy chim oanh hót bạn cùng văn nhân
vẻ nào vẻ chẳng thêm xuân
éo le nhiều nỗi thanh tân chơi bời
Tốt tươi miệng nở hoa cười
Đáng xinh đáng lịch đáng người thuyền quyên
nàng ân nàng ái kề bên
Cô Lan cô Huệ chúa tiên thượng ngàn

Non xanh nước biếc suối vàng
Đông cuông cảnh ấy lại càng lâng lâng
có phen cô dạy ngưòi rừng
nói ra trăm tiếng giống chung ngôn từ
Cô theo hầu Diệu tín thiền sư
Anh linh nổi tiếng Đông Cuông Từ Sơn Lâm
Ngự sơn lâm đông cuông tuần quán
Cô Đôi ngàn vạn phép anh linh
Tiên Cô biến hoá hiện hình
Cung thỉnh các bộ sơn tinh ngự về

Chữ biển đề Đại vương Lê Mại
Phép Khuông phù quốc thái dân an
Thỉnh cô chứng giám đàn tràng
Độ cho đồng tử an khang đời đời
---------------------------------

Cô Nhất Thượng Thiên  
 

Cô Nhất Thượng Thiên. Cô cũng vốn là con Vua Cha dưới Thủy Tề dưới Thoải Cung, được phong là Thiên Cung Công Chúa trên Thiên Đình. Có người nói rằng cô cũng với Cô Chín hầu cận bên cạnh Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên (tức Mẫu Liễu Hạnh) lại có nơi quan niệm cô là Tiên Cô kề cận, tay biên tay chép kề bên Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên (tuy nhiên do có quan niệm là Mẫu Đệ Nhất cũng chính là chầu cho nên hai ý kiến này hầu như là thống nhất với nhau). Cô giá ngự trong cung tòa, cận bên Mẫu cho nên khi đến các đền phủ người ta thường có lời tấu để cô kêu thay lạy đỡ trước cửa Vua Mẫu Đình Thần Tứ Phủ. Khi thanh nhàn cô cưỡi gió cưỡi mây rong chơi khắp chốn, từ Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa cho đến tận Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Định... Cô là tiên cô thần thông lục trí, cô chấm đồng người nết na thảo hiền rồi đem về tiến Mẫu trong Đền Sòng Sơn. 

Cô Nhất khá ít khi ngự đồng, chỉ những người sát căn cô mới hay hầu cô hoặc trong các dịp khai đàn mở phủ Cô Nhất về chứng đồng tân lính mới. Khi ngự về Cô Nhất mặc áo màu đỏ (áo gấm hoặc áo lụa thêu phượng), đầu đội khăn đóng (khăn vành dây), thắt khăn và vỉ lét đỏ. Cô làm lễ khai cuông rồi múa quạt. Cô Nhất thường được thờ vào ban Tứ Phủ Thánh Cô ở trong các bản đền. Cũng có một số người nói rằng có đền cô là Đền Cô Nhất ở trong đất Nghệ An giáp Thanh Hóa với món đặc sản bánh ngào.

Khi thỉnh cô, văn thường hát:

“Hương đưa nhang xạ ngát lừng
Thỉnh mời Cô Nhất về chơi trong Nam thành
Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh
Nội thành ngoại thị một mình rong chơi
Chơi thôi cô lại tái hồi
Nghệ An, Thanh Hóa là nơi đi về

[...] Thượng đồng má phấn lưng ong
Cô Nhất chấm đồng tiến Mẫu Sòng Sơn
Phép cô lục trí ai hơn
Quyền cô cai quản giang sơn thủy tề”

Hay khi cô về múa quạt văn cũng hát rằng:

“Quạt thần ba sáu nan dương
Cô cầm đến quạt lại thương thanh đồng
[...] Quạt cho gió lộng giang hà

Quạt cho nam nữ trẻ già bình an

Cô Năm Suối Lân  
 Cô Năm Suối Lân vốn là tiên nữ trên trời, theo lệnh cô giáng trần là người thiếu nữ dân tộc Nùng ở xứ Lạng. Có tích lại kể rằng Cô Năm là người thị nữ thân cận bên Chầu Năm Suối Lân ( lúc sinh thời khi chầu còn là công chúa) nên cô cũng được tôn hiệu là Cô Năm Suối Lân hay Cô Năm Sông Hoá. Sau này được sắc phong hiển thánh, Cô Năm vẫn được coi là tiên cô kề cận bên cửa Chầu Năm, cô được coi là tiên cô trông giữ bản đền Suối Lân. Ngoài ra cô còn được coi là vị thánh trấn tại cửa rừng Suối Lân (cung rừng này một cửa vào là cửa Suối Lân do Cô Năm Suối Lân trấn giữ, cửa ra là cửa Thất Khê do Cô Bé Đèo Kẻng trấn giữ), vậy nên, ai đi chiêm bái trên đất Lạng đều phải qua bái yết cửa Chầu Năm và Cô Năm Suối Lân. Dòng Suối Lân do Cô Năm cai quản bốn mùa trong xanh, nước thông về sông Hoá, tương truyền rằng đây là dòng suối thiêng của cô, nước suối xanh mát bốn mùa không bao giờ cạn, nếu ai có bệnh tật đến xin nước suối cửa cô, uống vào sẽ thuyên giảm, nhược bằng, người nào không biết mà xuống suối tắm hay rửa chân tay, làm ô uế dòng suối của cô sẽ bị cô hành cho sốt nóng mê sảng. Phép anh linh của Cô Năm Suối Lân còn được biết qua việc nếu có kẻ nào báng nhạo cô sẽ “xát lá han” làm cho kẻ đó luôn ngứa ngáy không yên, rồi cô cho đi lạc đường rừng.

Trong hàng thánh cô, thường thấy Cô Năm Suối Lân ít khi ngự đồng hơn Cô Sáu Lục Cung, thường chỉ người nào có sát căn quả về cửa Cô Năm hoặc khi về đền Suối Lân thì có thấy thỉnh bóng Cô Năm ngự đồng. Khi hầu về giá Cô Năm Suối Lân, thường người ta mặc xiêm y như màu áo của Chầu Năm (nhưng là áo ngắn vạt), đó có thể là màu xanh thiên thanh hoặc xanh lá cây, cô chít khăn củ ấu, bên mình có túi vóc, dao quai. Ngự đồng cô khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay Cô Năm Suối Lân được phụng thờ là thánh cô trấn giữ cửa Suối Lân Sông Hoá, cung thờ cô được đặt cạnh ngay đền chính của cửa Chầu Năm Suối Lân (huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn). 
Cô Năm trên động Suối Lân
Xe loan thánh giá đằng vân ngự về
Chơi sơn khê ngàn xanh núi cấm
Ngự tính tình đàn đọc ca ngâm
Vui về thú cảnh Suối Lân
Hoa chen cành biếc mây vần đỉnh cao
Động Sơn trang ra vào sớm tối
Suối Lân Ngàn giá ngự thảnh thơi
Trong rừng dưới suối trên đồi
Thông reo trúc hóa thú vui hữu tình
Thổ mường các chúng sơn tinh
Thỉnh Cô chắc giáng anh linh đàn tràng
Cơm lam thịt thính trà ngàn
Khế chua sung chát trầu vàng cau non
Suối Lân khuya sớm ra vào
Chim kêu vượn hót xôn xao đùa cười
Suối Lân cảnh thú trên ngàn
Có dòng sông Hóa vắt ngang cửa đền
Ai lên đến tỉnh Lạng Sơn
Qua dòng sông Hóa vào đền cô Năm
Quyền cô cai quản Suối Lân
Một tòa chính điện xa gần nức danh
Đền thờ nào khác bức tranh
Dưới suối nước chảy, trên cành cây cao
Đền thờ như thể động đào
Bốn mùa đồng tử ra vào dâng hương
Cô Năm cốt cách phi phương
Trâm cài lược dắt , soi gương chải đầu
Long lanh mắt phượng tựa sao
Thần thông diệu trí biết bao quyền hành
Lê triều tích cũ sử xanh
Cô Năm công chúa rành rành oai linh
Nửa đêm cô mới hiện hình
Suối Lân soi bóng tươi xinh dáng hình
Về đồng cô mặc áo xanh
Nón buồm túi vóc thanh thanh hoa cài
Rườm rà cô vấn tóc mai
Chít khăn củ ấu chân hài cánh tiên
Cô Năm ứng hiện tự nhiên
Ban cho nước suối bệnh liền khỏi ngay
Suối Lân cô ngự thiêng thay
Sơn lâm vui thú tháng ngày rong chơi
Thanh nhàn dạo khắp mọi nơi
Đồng Đăng Hữu Lũng thảnh thơi đi về
Có khi cô ngự Thất Khê
Công Đồng Bắc Lệ lại về Suối Lân
Tiên cô mới thử lòng trần
Ai mà biết đến muôn phần tốt tươi
Còn ai bỡn cợt trêu cười
Lá han cô xát cho người hay ra
Sám hối cô sẽ truyền tha
Bây giờ mới biết cô đà anh linh
Phép cô thưởng phạt nghiêm minh
Có công cô thưởng tội hình không tha
Cô truyền sơn động các tòa
Thổ Mường các bản đàn ca vang lừng
Đầu sông cho đến cửa rừng
Ngàn măng, nương sắn đến từng đồi sim
Ai mà bảy nổi ba chìm
Cô thương lại để trong tâm trong lòng
Còn ai vất vả long đong
Có cô Năm Suối chấm đồng làm tôi
Hoa tươi cô hái trên đồi
Ban cho các ghế muôn người nhất tâm
Người thời có phúc có phần
Có lòng cô sẽ bắc cân cho đều
Hội vui dâng bản văn chầu
Thanh bông hoa quả đảo cầu cô Năm
Cô về ngự cảnh Suối Lân
Khuông phù đệ tử thiên xuân thọ trường

Cô Mười Mỏ Ba  
Cô theo hầu Chầu Mười Mỏ Ba , giúp vua đánh giặc Ngô ,khi ngự về cô mặc áo vàng cầm cung kiếm cưỡi trên mình ngựa theo chầu bà xông pha trận mạc , sau này cô cũng được thờ tại đền Chầu Mười  
Cô theo hầu Chầu Mười Mỏ Ba , giúp vua đánh giặc Ngô ,khi ngự về cô mặc áo vàng cầm cung kiếm cưỡi trên mình ngựa theo chầu bà xông pha trận mạc , sau này cô cũng được thờ tại đền Chầu Mười.

https://hrajxa.dm1.livefilestore.com/y2pUIhvxBS9KlRsTYltKO5Y3p7sR-SjGEekmy5k4ZyqKgoTMHgGorzjMmGxh-txUd_R9FduyF_mkwBVXrNkS1CXuhsQxGQO_XfTTvnGd1mazMU/81997400.jpg?psid=1

https://hrajxa.dm1.livefilestore.com/y2pktrq33v9ZZT9aOq55H1ozxKKnVXJ-Pvlq440QjyOld7zHg_JqORQZx59hIXfmX-Id6bOxcoaL5LHPpQmQIwjWomK_BHuzXZNRfJujxoRlvE/81997501.jpg?psid=1

https://hrajxa.dm1.livefilestore.com/y2pRb4Z8duQSAO-MUVGppujWQzSOdrpeeCw508sPqTt-reju8_paPTOfem7NyE5NEEa_KeKp50rUwDz2mTTSiMsaVHH-Hw2GyT2jJAWTfpNs6c/81997490.jpg?psid=1
https://hrajxa.dm1.livefilestore.com/y2pXgBPGQYb2RkVHTq1Y-TK6YVeRQViKI5zEsuV3Hz1TIUt9gJLZPEvr-O4B35mtMaI768OKkSfgn_BHIiPBbWGf6-vzJ8MasP5Lf8U7ksO2KQ/81997445.jpg?psid=1

Cô Tư Tứ Tổng Tây Hồ  
 Ai về Tứ Tổng Tây Hồ 
Hỏi thăm cho tới đền thờ Cô Tư
Nguyên xưa hầu cận Vua Bà tỉnh Tuyên
Long Vân Khánh Hội 6/7 Đản Tiệc Cô Tư
Cô Tư Ỷ La cũng vốn là con vua Đế Thích chính cung. Theo lệnh vua cha, cô theo hầu Mẫu Thượng Ngàn tại đất Tuyên Quang. Về sau, nơi Mẫu giá ngự đó, người ta lập đền Mẫu Ỷ La nên cô cũng được gọi là Cô Tư Ỷ La. Tương truyền rằng, Mẫu bà rất yêu quý, thường cho Cô Tư kề cận bên mình. Vậy nên đúng như các tư liệu ghi lại thì chính xác là Cô Tư hầu cận Mẫu Thượng Ngàn chứ không phải cô hầu cận Chầu Bà Đệ Tứ Khâm Sai như chúng ta vẫn thường nghĩ. Ngoài ra Cô Tư còn có một danh hiệu khác là Cô Tư Tứ Tổng Tây Hồ. Qua ước đoán, có thể suy ra rằng danh hiệu này là do Cô Tư đã từng giáng hiện tại đất Tây Hồ, Hà Nội rong chơi, và điển hình nhất là hiện nay vẫn có ban thờ Cô Tư tại đình Tứ Liên; một ngôi đình cổ nằm ở gần Phủ Tây Hồ, Hà Nội.

Trong hàng Tứ Phủ Tiên Cô, Cô Tư Ỷ La thường hiếm khi thấy ngự về đồng nên nếu nói về y phục cũng như cung cách khi hầu giá Cô Tư hiện giờ là rất khó. Tuy nhiên theo phỏng đoán của người viết thì có thể khi hầu giá Cô Tư Ỷ La thường mặc xiêm áo màu vàng nhạt, cô có thể khai cuông và múa mồi hầu Mẫu (đây chỉ là ý kiến cá nhân đưa ra để mọi người tham khảo). Hiện nay Cô Tư vẫn được coi là thờ chính cung hầu Mẫu Thượng Ngàn trong đền Mẫu Ỷ La thuộc thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ra, như đã nói ở trên, Cô Tư còn được thờ vọng trong Đình Tứ Liên ( xưa gọi là Đình làng Ngoại Châu), phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội. Khi các thanh đồng hầu tráng mạn đến giá Cô Tư, người ta thường thỉnh rằng:

“ Thỉnh mời Cô Tư Ỷ La
Nguyên xưa hầu cận Vua Bà tỉnh Tuyên…”
Hay có một câu thỉnh gắn liền với sự tích Cô Tư dạo chơi Tây Hồ, người ta cũng thường hát:
“Ai về Tứ Tổng Tây Hồ
Hỏi thăm cho tới đền thờ Cô Tư…”
Bài viết : Dương Minh Đức
Nguồn : mantico ( hatvan.tk )
Bản văn này nói về cô Tư do soạn giả Phúc Yên sáng tác.
Hương thơm thấu chín tầng trời
Cô Tư thượng ngự chính nơi bản đền
Hội đàn thập nhị cung tiên
Cô Tư ngự áo hoa hiên dịu dàng
Khăn thêu long phượng sắc vàng
Hoa trâm cài tóc khuyên vàng đeo tai
Nhiễu thêu, cườm đính, phượng hài
Quạt trầm e thẹn đan đài bước ra
Tả trỗi nhạc hữu dâng hoa
Quần tiên hội nghị đàn ca vang lừng
Xe rồng từ chốn thiềm cung
Cô tư hạ giá ngự đồng thoắt ngay
Phút đâu khói toả mây bay
Cô tư loan giá ngự rầy thung dung
Cô thương đệ tử thanh đồng
Đắng cay mấy nỗi nặng lòng thế gian
Đường trường cách trở gian nan
Khuyến người tu đức vẻ vang muôn đời
An khang trường thọ rạng ngời
Phúc trời lộc bể độ người hữu tâm
Xoè hoa đôi cánh quạt trầm
Quạt cho tan biến tham sân khổ nàn
Xoè hoa đôi cánh quạt vàng
Quạt cho bốn chữ an khang thọ trường
Xoè hoa đôi cánh quạt hương
Quạt cho bát hướng tứ phương thái hoà
Phúc lành đưa đến gần xa
Quân thần đồng thuận âu ca thái bình
Thoắt thôi giở gót thu hình
Địa tiên hoa phủ hoàng đình ngự chơi
Tấu lên Địa Mẫu chính ngôi
Giở về trần giới rong chơi Tây Hồ
Sớm sương lác đác lờ mờ
Chiều chơi lên tới Tam Cờ Ỷ La
Phủ Giày trảy hội tháng ba
Sòng Sơn tháng chín kiệu hoa sẵn sàng
Thỉnh Cô trắc giáng bản đàn
Khuông phù đệ tử an khang thọ trường

Thập Nhị Cô Sơn Trang  

Thập nhị cô Sơn Trang là 12 thánh cô trên sơn trang đi theo hầu cần Mẫu thượng ngàn . Các cô không thuộc Tứ phủ thánh cô nhưng đôi khi các cô vẫn giá ngự trong các nghi thức hầu đồng .
Dưới đây sẽ là phần giới thiệu 12 cô trên Ngàn
- Cô Cả Núi Dùm 
- Cô Đôi Bắc Lệ 
- Cô Bơ Thượng Ngàn 
- Cô Tư Ỷ La 
- Cô Năm Đồng Tiền 
- Cô Sáu Đồi Ngang 
- Cô Tám Thượng Ngàn 
- Cô Chín thượng ngàn 
- Cô Mười Suối Ngang 
- Cô Mười Một Đồng Nhân 
- Cô Mười Hai Thượng Ngàn

Thần tích Ông Hoàng Đôi  

 Ông Hoàng Đôi hầu Mẫu ở Đền Sòng và Phố Cát , làm việc thượng ngàn giám sát . Ngài là một trong bốn vị Khâm Sai thay quyền bốn phủ đi chấm lính nhận đồng . Theo truyền thuyết thì ông là người Mán có công đánh giặc bảo vệ dân lành. Trong văn ông Bảy mô tả Ông Hoàng Đôi là người có công đánh trận cùng Ông Hoàng Bảy . Chính vì vậy mà người ta gọi ông Hoàng Đôi là Ông Hoàng Đôi Bảo Hà . Trong văn ông bảy có câu :
"Doanh trung thường có hai hoàng vào ra 
Quan Hoàng Bảy Bảo Hà chính vị
Cùng tướng công Đệ Nhị Hoàng Hai 
Can qua dâu bể biển dời ..."
Hầu giá Quan Hoàng Đôi
Ngài ngự áo xanh lá cây theo sắc phong bốn phủ, chít khăn mỏ rìu , mặc áo trấn thủ, múa hèo , Sau khi làm lễ khai quang . Ngài đi hèo ngự tọa , hiến tửu , nghe thơ, ban phát tài lộc , Trước đây chỉ những đồng cựu , thủ nhang đồng đền đạo trưởng mới hầu Ngài
Có quan điểm cho rằng trước khi không mấy ai hầu Hoàng Bảy mà chỉ hầu Hoàng Đội , Sau này thì người ta hầu Ông Hoảng Bảy là chủ yếu và ít hầu Ông Hoàng Đôi hơn
Đền thờ ông Hoàng Đôi ( Cẩm Phả )
Đền thờ ông Hoàng Đôi ở Cẩm phả là đền tư , còn gọi là Đền Hoàng Đôi Bảo Hà , vì đền này rước ông Hoàng Đôi từ bảo Hà về thờ, Thủ nhang lập ra ngôi đền tư này là cụ đồng Nhâm

Thần tích CÔ ĐÔI THƯỢNG NGÀN - Đền BỒNG LẠI ( HÒA BÌNH )  

 Thần tích Đền thờ cô Đôi Thượng


( Núi Đầu Rồng, tiểu khu 3, thị trần Cao Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình )
Cô Đôi thượng Ngàn: Danh xưng này có là vì do Cô đứng hàng thứ hai trong hệ thống thập nhị tiên nàng của Đạo Mẫu có công phù trì, hộ quốc cứu giúp muôn dân, dậy người dân tộc tiếng nói để giao lưu qua lại với nhau. Tiếng cô anh linh dạy khắp bốn phương, trải từ Đông Cuông, Tuần Quán tới phủ Nho Quan tỉnh Ninh Bình về tới huyện Cao Phong, châu Mai Đà, tỉnh Hưng Hóa (nay là tỉnh Hòa Bình) đều có đền thờ Cô. Nổi lên trên cả là hai ngôi đền thờ cô thuộc địa phận tỉnh Hưng Hóa (nay thuộc về địa giới xã Nho Quan, tỉnh Ninh Bình và huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình) gắn với truyền thuyết sinh hóa của cô.
Dân gian tương truyền rằng cô Đôi Thượng vốn là con vua Đế Thích trên thiên cung, được phong là Sơn Tinh công chúa, cô thường hầu cận ba tòa vương Mẫu trên thiên đình, ngọc điện. Khi ấy Tại phủ Nho Quan, tỉnh Ninh Bình có một vị quan lang họ Hà người Mường, ông nổi tiếng khắp vùng về nhân đức, phát tâm thiện nguyện, cứu giúp dân nghèo. Hai ông bà đã vào chạc ngũ tuần, nhưng vẫn chưa có một mụn con cho vui cửa vui nhà. Hai ông bà bèn lập đàn tế trời, cầu khẩn. Ngọc Hoàng trên thiên giới cảm cách mà nghe được những lời này mới sai cô xuống hạ giới, đầu thai làm con ông bà để thưởng cho cái đức độ, tiết tháo của ông. Mười hai tháng sau bà bẩm thụ thiên khí mà có thai, sinh ra cô. Khi cô sinh hạ có một đôi chim khách đến đậu trước cửa nhà cô mà hót mãi không thôi, như mừng đấng tiên nữ giáng sinh phàm trần. Năm cô lên bốn tuổi, gia định vị quan lang chuyển tới làm quan ở Huyện Cao Phong, châu Mai Đà, tỉnh Hưng Hóa. Ở trên vùng cao, nước sinh hoạt thiếu thốn, dưới chân núi Đầu Rồng lại có con suối nước thần, nước trong mát quanh năm, người dân ở đó thường ra suối gánh nước về dùng, cô cũng thường ra đó gánh nước về giúp đỡ ông bà.
Thời gian thấm thoát đã trôi qua, năm đó cô mười hai tuổi mà đã xinh đẹp tuyệt trần da trắng, tóc mượt, mặt tròn, lưng ong thon thả. Đức Mẫu Thượng Ngàn muốn thử lòng người trần gian, độ cho người có tâm, bèn hóa thành một bà lão đói khát, bệnh tật nằm lả ở gốc cây đa dưới chân núi Rồng. Bà nằm đó kêu rên từng tiếng khó nhọc, cầu mong sự giúp đỡ của mọi người qua lại, thế nhưng chẳng ai chịu ra tay cứu giúp bà. Đúng vừa lúc cô ra suối gánh nước thấy bà lão đáng thương, cô động lòng thương cảm bèn quỳ xuống vực bà ngồi dậy, cho bà uống nước. Bất chợt tự nhiên trời đất tối xầm, mây đen kéo tới, gió bụi cuốn lên mù mịt bà lão hiện thành Tiên Chúa Thượng Ngàn và nói với cô: "Ta là đức Diệu Tín Thiền Sư Lê Mại Đại Vương (tức Mẫu Thượng), thấy con là người ngoan ngoãn, hiền lành, đức độ. Kiếp trước con là tiên nữ trên tiên giới, nghe lệnh Ngọc Hoàng mà hạ phàm báo ân cha mẹ. Nay ta độ cho con thành tiên trở về bên hầu cận bên cạnh ta, để cứu giúp nhân gian". Đoạn Thánh Mẫu rút cây gậy khắc đầu rồng bên mình ra trao cho cô. Cô nhận cây gậy rồi trở về nhà, bốn ngày sau thì hóa.
Sau khi cô hóa về với đức Thánh Mẫu Thượng Ngàn cô quyết tâm học phép cứu dân. Cô thường dong chơi khắp các miền sơn cước, đôi khi hiển hiện dạy cho đồng bào dân tộc thiểu số tiếng nói để có thể giao lưu, trao đổi với nhau. Khi thanh nhàn cô thường ngự về cảnh sơn lâm đất Ninh Bình là nơi quê nhà, trong ba gian đền mát cô cùng các bạn tiên ca hát, ngâm thơ vui thú tháng ngày trên sườn dốc Bò. Cũng có khi cô biến ra người thiếu nữ vùng sơn cước xinh đẹp luận bàn văn chương với các bậc danh sĩ. Người đời truyền rằng cô rất giỏi thơ văn, cho nên biết bao kẻ sĩ mến phục, si mê cô. Cô Đôi cũng là người cai quản kho lộc của sơn trang, người đời ai nhất tâm thành kính thờ phụng cô, cô sẽ hiện ra ban tài phát lộc. Nhược bằng vô phép với cô, có nợ không trả cô sẽ bắt đền nặng hơn. Cô Đôi hay ngự đồng vì danh tiếng cô lẫy lừng trải khắp mười tám cửa rừng, nên ai ai cũng biết đến, người thờ phụng cô đông vô số và cô cũng hay chấm lính bắt đồng.
Trong đại lễ khai đàn mở phủ người ta thường mang vàng thoi dâng cô. Cô thường ngự đồng về đầu tiên, cũng là vị thánh nữ mở khăn hàng cô để chứng lễ. Khi về đồng cô mặc áo cánh xanh, quầy đen, đầu vấn khăn vành dây kết hoa. Khi hành lễ cô thường khai quang, rồi múa mồi, múa song đăng, tay tiên hái lộc cho thanh đồng. 
Để tưởng nhớ công ơn của cô người đời lập đền Bồng Lai ở xã Nho Quan, tỉnh Ninh Bình thờ nơi cô giáng sinh trần gia. Còn ở huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình nhân dân lập đền thờ cô ở trong động Thiên Thai, khu vực núi Đầu Rồng bây giờ là nơi cô hội ngộ Thánh Mẫu Thượng Ngàn và cũng là nơi cô hóa. Lại còn một ngôi đền nữa vì người dân quan niệm rằng cô là tỳ nữ bên cạnh Mẫu Thượng Ngàn nên mới xây dựng đền thờ cô ở gần đền Đông Cuông (cách đền 500 mét).
Đền Bồng Lai, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình thờ cô trước được xây dựng năm thứ hai niên hiệu 
Thành Thái (tức là năm Canh Dần 1890). Tới nay trải qua bao thăng trầm, chiến tranh ngôi đền đã trở thành hoang phế không người cầu cúng.
Tới cuối những năm 80 của thế kỷ trước một số người dân quanh vùng có rước chân nhang trong đền về thờ, nhưng nền móng của ngôi đền xưa vẫn còn đó. Tháng 12 năm 2013 thành đồng Hải cùng các con nhang đệ tử cùng tín chủ gần xa đã gia tâm công đức xây lại ngôi đền thờ Cô và khánh thành vào này mùng 6 tháng 11 năm 2014 (âm lịch).

Thần tích Ông Hoàng Mười  


Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh, sau làm đến nguyên thần tam triều Lê gia, phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân. Lại có một dị bản khác cho rằng ông giáng xuống trần là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An. 
 
Nhưng sự tích được lưu truyền nhiều nhất có lẽ là câu chuyện: Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà). Tại đây ông luôn một lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, truyện kể rằng có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế. Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mội người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời. 



Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An. Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười (hay còn gọi là Ông Mười Củi) không chỉ vì ông là con trai thứ mười của Vua Cha (như một số sách đã nói) mà còn vì ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn), không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương, không chỉ nơi trần thế mà các bạn tiên trên Thiên Giới ai cũng mến phục, các nàng tiên nữ thì thầm thương trộm nhớ. Sau các triều đại đã sắc tặng Ông Mười tất cả là 21 sắc phong (tất cả đều còn lưu giữ trong đền thờ ông).

Cùng với Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười cũng là một trong hai vị Ông Hoàng luôn về ngự đồng, cũng bởi vì ông còn được coi là người được Vua Mẫu giao cho đi chấm lính nhận đồng (khác với Ông Bảy, những người nào mà sát căn Ông Mười thì thường hay hào hoa phong nhã, giỏi thi phú văn chương). Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, lấy bút gài đầu để đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam (quan niệm cho rằng đó cũng là ông kéo tài kéo lộc về cho bản đền) và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng như Ông Bảy, người ta cũng thường dâng tờ tiền 10.000đ màu đỏ vàng để làm lá cờ, cài lên đầu ông. Khi ông ngự vui, thường có dâng đọi chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu, thuốc lá (là những đặc sản của quê hương ông) rồi cung văn tấu những điệu Hò Xứ Nghệ rất mượt mà êm tai.

Đền thờ Ông Hoàng Mười là Đền Chợ Củi, chính là nơi năm xưa di quan ông trôi về và hóa, qua cây cầu Bến Thủy, bên sông Lam, núi Hồng Lĩnh, thuộc xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (cũng chính là nơi quê nhà của Ông Mười). Ngày ông giáng sinh 10/10 âm lịch được coi là ngày tiệc chính của ông, vào ngày này, du khách thập phương nô nức đến chiêm bái cửa đền ông thật là tấp nập, trải dải đến tận đôi bờ sông Lam, người ta dâng ông: cờ quạt bút sách ... để cầu tài cầu lộc cũng là cầu mong cho con em được đỗ đạt khoa cử, thành tài để làm rạng danh tổ tông. 
Khi thỉnh Ông Mười, văn hay hát rằng:


 
Giá : Hoàng mười
Thanh đồng : Diệu Hoa
Bản Đền : Hàn Sơn Linh Từ
-------------------------------------------------------------------
“Ông Mười trấn thủ Nghệ An
Về huyện Thiên Bản làm quan Phủ Dày”

 
 
Văn : Ông Hoàng Mười
Trình bày : Xuân Hinh / Album : Văn Ca thánh mẫu CD2

 

Hay nói về tài đức của ông cũng có đoạn (cả trong hát văn và những câu hò xứ Nghệ):

“Gươm thiêng chống đất chỉ trời
Đánh Đông dẹp Bắc việc ngoài binh nhung
Hai vai nặng gánh cương thường
Sông Lam sóng cả buồm giương một chèo”
“Đất Nghệ An anh hùng hào kiệt
Tiếng Ông Mười lẫm liệt ngàn xưa
Cung gươm lên ngựa đề cờ
Ra tay gìn giữ cõi bờ Việt Nam”
“Chí anh hùng ra tay cứu nước
Đi tới đâu giặc bước lui ngay
Việt Nam ghi chép sử dày
Cung cao điện ngọc đêm ngày khói nhang”
“Năm cửa ô tới Đô Thành
Nam Đàn, Nghi Lộc nức danh Ông Mười”


 
Rồi có cả đoạn thơ hát khi Ông Hoàng Mười “tái đáo Thiên Thai”:

“Hoa đào rơi rắc lối Thiên Thai
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi
Ngõ hạnh suối đào xa cách mãi
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi
Đá mòn rêu nhạt nước chảy hoa trôi
Ước cũ duyên xưa có thế thôi”

Hay khi dâng ông miếng trầu têm, văn thường hát:

“Đất lề quê thói Nghệ An
Miếng trầu cau đậu dâng Quan Hoàng Mười”
 
Và có cả khi văn tấu điệu hò Nghệ Tĩnh để ông vỗ gối ban thưởng:
 
“Muối đã mặn ba năm còn mặn
Gừng đã cay chín tháng vẫn cay
Ghế ông tình nặng nghĩa dày
Xa xôi đến mấy, ra đây ngự đồng”
“Xứ Nghệ vui nhất Chợ Vinh
Đẹp nhất Bến Thủy, anh linh Ông Mười”

Ông Hoàng Bảy  

 Truyền thuyết kể lại:
Vào cuối thời Lê ( Niên hiệu Cảnh Hưng 1740 - 1786 ) , ở khắp vùng Phủ Quy Hoá , nhất là Châu Thủy Vỹ và Châu Văn Bàn luôn bị giặc cướp ở Vân Nam - Trung quốc tràn sang cướp phá . Trong tác phẩm " Hưng Hoá xứ phong thổ lục " của Tiến sĩ Hoàng Bình Chính viết năm 1778 ghi rõ : " Khắp vùng loạn lạc , dân cư điêu tàn , ruộng đất bỏ hoang ..." . Trước tình hình đó Triều đình cử danh tướng thứ bảy họ NGUYỄN lên trấn thủ vùng biên ải , tiến dọc theo sông Hồng đánh đuổi quân giặc , giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành một căn cứ quân sự lớn bảo vệ biên cương Tổ quốc . Tại đây Ông tổ chức thành các Thổ Ty , Tù trưởng , luyện tập cho quân sĩ . Ông làm Thống lĩnh cho cả quân Thủy , Quân Bộ tiến đánh lào cai , đuổi quân giặc chạy sang vùng Vân Nam .
Sau khi giải phóng Phủ Quy Hoá , Ông chiêu dụ các Thổ hào địa phương , đón người Dao , người Thổ và đặc biệt là người Nùng áo xanh tới khẩn điền , khai mỏ xây dựng quê hương . Với công đức và chi khí dũng cảm chống giặc ngoại xâm , giữ yên bờ cõi , nhiều truyền thuyết dân gian đã ca ngợi Ông , Nhân dân tạc dạ ghi công Ông cho ngàn đời sau . Trong một trận chiến đấu không cân sức với quân xâm lược phương Bắc , viên Tướng thứ Bảy của Triều đình đã anh dũng hy sinh . Xác của Ông trôi theo dòng nườc sông Hồng tới Bảo Hà ( Nơi ngôi Đền hiện nay ) thì dạt vào bờ . Nhân dân trong vùng ngậm ngùi thương nhớ , đưa xác Ông chôn cất tại đây và lập Đền thờ để tưởng nhớ công tích của một người anh hùng . Các Triều Vua Minh Mệnh , Thiệu Trị đã phong tặng Ông danh hiệu " Trấn an Hiển Liệt " , các Triều nhà Nguyễn sắc phong cho Ông là : Thần Vệ Quốc " .
Ngày 17/7 âm lịch hàng năm là ngày giỗ Ông , nhân dân trong vùng náo nức mở Lễ hội . Khắp nơi trong nước đến viếng Ông và cầu xin Ông phù hộ cho ăn nên làm ra , phát tài , phát lộc
Ngày 5/11/1997 Đền Bảo Hà được Nhà nước xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia . ( Viết theo Phiếu ghi công đức Đền Bảo Hà ) .
GIỚI THIỆU :

Đền BẢO HÀ ( Đền thờ Thần vệ Quốc HOÀNG BẢY ) , cách Thủ đô Hà nội khoảng 350 Km . Đường tương đối khó đi vì có rất nhiều cua tay áo với những vách tà luy cao và những vực sâu hun hút hàng trăm mét ngay cạnh đường . Từ Hà nội , bạn đi Lào cai bằng Tàu hỏa rồi từ Lào cai đi ô tô hơn trăm Km nữa mới tới . Bạn nào có xe ô tô riêng , nên đi theo đường Sơn Tây , qua cầu Trung Hà , Thanh Sơn khoảng 50Km rồi đi theo đường ven sông Hồng lên tới Phố Ràng rẽ trái là bến Bảo Hà .
Đền Bảo Hà được xây dựng ngay chân đồi Cấm , bên bờ sông Hồng , thuộc xã Bảo hà - HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH


VĂN ÔNG HOÀNG BẢY
Gió nam thoảng đưa hương bay ngào ngạt 
Bóng ác tà đã gác non tây 
Trăng in mặt nước vơi đầy 
Bảo Hà có tích xưa nay còn truyền 
Quan Hoàng Bảy trần miền Băc địa 
Hợp binh hùng lục thuỷ Thao Giang 
Quân cơ mưu lược luận bàn 
Doang trung thường có hai hoàng vào ra 
Quan Hoàng Bẩy Bảo Hà chính vị 
Cùng tướng công đệ nhị Hoàng Hai 
Can qua dâu bể biến dời 
Anh hùng xưa đã ra người cung tiên 
Nhớ công đức lập đền phụng sự 
Thổ,Mán ,Nùng tiên nữ dâng hoa 
Thú vui điếu khách bàn trà 
Phong lưu thuốc cống Bảo Hà dâng ông 
Hoàng hoa tửu khăn hồng gối xếp 
Ngự tính tình phong nguyệt hoạ ca 
Nhắn ai lên đất Bảo Hà 
Nếm mùi phong nguyệt ấy là thần tiên 
Cõi Bắc địa còn truyền cổ tích 
Quan Bảo Hà thực đích trung quân 
Sinh thời làm tướng trung thần 
Tấc lòng yêu nước thương dân hãy còn 
Dẫu bể cạn non mòn cũng quyết 
Thử ra tài cho biết oai danh 
Bao phen lẫm liệt tung hoành 
Định an xã tắc đề binh cõi ngoài 
Đất Lào Cai là nơi dụng võ 
Quyết ra tay đội ngũ tiến công 
Biên cương súng nổ đùng đùng 
Sa trường sương núi máu sông chẳng nề
Đem quân về Thất Khê phòng thủ 
Đền Bảo Hà lạc thú huê viên 
Mãn tuần chiếu hạc hồi thiên 
Tấm thân thoát lánh nghiệp duyên cõi trần 
Bỗng một trận sầu vân ám kết 
Hiện chân hình dạo Bắc hết Nam 
Vui cùng nước biếc trăng ngàn 
Tót tươi quả lạ trăng vàng đìu hiu 
Độ dân xã ngày Nghiêu tháng Thuấn 
Cõi Việt Nam Bắc trấn oai danh 
Từ bi cải dữ làm lành 
Chọn ngươi nữ tú nam thanh chấm đồng 
Kẻ xuôi ngược dưới sông trên bộ 
Ai khẩn cầu tế độ thì qua 
Hoàng về trắc giáng điện toà 
Hộ trì đệ tử vinh hoa thọ trường.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.