bài viết trong chuyên mục "lịch sử phong thủy"

12 con giáp năm bính thân 2016 12 cung hoàng đạo chòm sao tử vi tây phương Áo Dài âm dương tổng luận bát trạch bát tự bếp bí ẩn giấc mơ biểu phí bủa trú phù ấn phong thủy Căn duyên tiền định câu chuyện phong thủy câu hỏi hay quan tâm Cầu Tự Pháp - Phép Đặt Bếp Cầu Con cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ Chọn tuổi xông đất chuyện phật giáo chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học khai trương và cúng giao thừa năm Đinh dậu khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lễ hội đền phủ lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nghi nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phật giáo tổng hợp phong thủy 2021 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy tân sửu phong thủy tân sửu 2021 phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH PHONG-THUY-DUONG-TRACH phongthuyviet Quan Họ sao và vận hạn 2021 thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch tu vi 2017 TU-VI-DAU-SO tử bình tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi 12 con giáp từng năm tử vi năm 2021 tử vi tổng hợp tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem bói tổng hợp xem chân gà Xem Mũi biết bệnh xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo Xem tuổi xông nhà xông đất năm 2021 xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử phong thủy. Hiển thị tất cả bài đăng


Những câu chuyện phong thủy lừng danh của Lưu Bá Ôn


Tuy là một nhân vật có thực trong lịch sử, tuy nhiên, người ta lại biết tới Lưu Cơ – Lưu Bá Ôn chủ yếu qua các câu chuyện về phong thủy. Người ta nói rằng, bất cứ nơi đâu ở Trung Quốc có lưu truyền những truyền thuyết về Lưu Bá Ôn thì ở đó ắt có truyền thuyết về phong thủy.

Chuyện kể rằng, sau khi lên ngôi hoàng đế, cũng giống như những vị hoàng đế khác, muốn cho giang sơn do mình gây dựng có thể truyền cho con cháu ngàn vạn đời sau, Chu Nguyên Chương bèn phái Lưu Bá Ôn đi khắp nơi trong cả nước xem phong thủy, tìm mọi cách ngăn chặn xuất hiện những người “mệnh lớn”, có thể cướp đoạt thiên hạ của nhà họ Chu.

Lưu Bá Ôn nhận lệnh của Chu Nguyên Chương, lưng mang thần kiếm đi khắp Nam Bắc. Một khi nhìn thấy long mạch lập tức vung kiếm phá bỏ, trừ hậu họa cho hoàng thất họ Chu.

Một ngày, Lưu Bá Ôn đi tới Giang Trang ở chân núi Thạch Khanh, bỗng nhiên thấy từ dưới đất có một con trâu bằng đá đang chạy về phía Giang Trang. Lưu Bá Ôn liền bấm quẻ rồi đến buổi tối hôm đó xem tinh tượng, bỗng nhiên hét lên:

“Không ổn!” Theo tính toán của Lưu Bá Ôn, trong Giang Trang nhất định sẽ sinh ra một người có “mệnh lớn”, tương lai có thể tranh đoạt giang sơn của triều Minh. Để ngăn chặn việc xuất hiện này, Lưu Bá Ôn đã thi triển phép thuật, dùng bảo kiếm chặt con trâu đá làm ba khúc, phá đi phong thủy của Giang Trang.

Một khi phong thủy đã bị phá, người “mệnh lớn” sẽ không thể xuất hiện được nữa. Lưu Bá Ôn còn sợ con trâu đá sau khi bị giết sẽ hồi sinh nên lại dùng lại dùng pháp thuật đem ba khúc của con trâu vừa bị chặt chôn ở 3 nơi khác nhau.

Một lần khác, Lưu Bá Ôn tới vùng Tương Hồ. Lưu Bá Ôn từ lâu đã biết rằng, vùng Tương Hồ là nơi từng được thần tiên làm phép, vì thế, núi sông nơi đây đều có khí tiên. Lần này được chứng kiến tận mắt, quả nhiên không hề tầm thường.




Chân dung Lưu Bá Ôn - người có công rất lớn giúp Chu Nguyên Chương gây dựng nhà Minh.

Chỉ thấy, vùng Tương Hồ ba mặt đều có núi vây bọc, tổng cộng có 99 con suối chảy từ trên núi xuống, mỗi con suối đều ẩn vào trong các khe đá. 99 con suối này đều được tích lũy khí âm nhu nhiều năm bên cạnh khí cương dương của Tương Hồ.

Một khi suối và hồ tương giao, nhất định ngày sau sẽ xuất hiện bậc chân mệnh thiên tử. Tuy nhiên, dường như đây đã là địa thế do tự nhiên tạo ra, làm thế nào để phá được thế phong thủy này? Đây là một vấn đề hóc búa ngay cả với bậc tông sư như Lưu Bá Ôn.

Vì thế, Lưu Bá Ôn đã ở lại Tương Hồ, suy nghĩ các phá giải địa thế phong thủy này.

Một ngày, sau khi đã lao tâm khổ tứ nghĩ đủ mọi cách mà vẫn chưa nghĩ ra, Lưu Bá Ôn lang thang đi tới chân một quả núi, bất ngờ nhìn thấy một hòn đá. Đương lúc mệt mỏi, Lưu Bá Ôn thấy viên đá phẳng phiu bèn ngồi xuống nghỉ chân.

Nào ngờ vừa ngồi xuống thì sự mệt mỏi từ đâu kéo tới, Lưu Bá Ôn dần dần chìm vào giấc ngủ. Cũng chẳng biết Lưu Bá Ôn đã ngủ bao lâu, chỉ biết khi tỉnh lại Lưu Bá Ôn thấy rằng thanh kiếm mình đeo ở hông đã bị tuốt ra khỏi vỏ, mũi kiếm đang chúc xuống dưới đất bên dưới viên đá, ngay chỗ mũi kiếm nước đang phun ra.

Nước từ dưới đất như như những hạt châu báu bám lấy thanh kiếm mà nhảy lên mặt đất. Lưu Bá Ôn giật mình, thần kiếm làm sao tự động tuốt khỏi vỏ? Vì sao mũi kiếm lại chỉ đúng chỗ có mạch nước được? Nhìn kỹ lại, Lưu Bá Ôn chợt mừng thầm.

Hóa ra chỗ đầu thạch kiếm chọc xuống đất chính là chỗ mạch quan trọng nhất giữa hồ và suối. Chỉ cần phá bỏ được mạch nước quan trọng này, biến nó thành một con suối, cho người qua đường hoặc chim thú trong rừng uống thì linh khí của nó tự khắc sẽ biến mất.

Làm được như vậy thì nơi đây chỉ còn là một nơi danh lam thắng cảnh chứ không thể xuất hiện đế vương được nữa.

Nghĩ vậy, Lưu Bá Ôn bèn dùng kiếm thần của mình chém xuống đất nhiều nhất, mạch nước suối từ dưới đất phun lên. Lúc bấy giờ, vừa may có một người tiều phu từ đâu đi tới. Lưu Bá Ôn thấy vậy vừa uống nước từ dưới đất phun lên, vừa cố ý nói lớn:

“Nước ngon thật! Nước ngon thật!” Người tiều phu đang lúc khát  nước, nghe thấy Lưu Bá Ôn nói nước ngon bèn quỳ xuống bên cạnh, dùng tay vốc nước đang phun từ dưới lòng đất lên uống. Quả thật, nước vừa vào tới miệng đã thấy ngọt như mật, người cũng không còn thấy khát nữa.

Người tiều phu lúc này mới nhìn xung quanh tứ phía, thấy làm lạ, tự nói với mình: “Ta thường xuyên đi lại qua đoạn đường này mà trước nay chưa từng thấy con suối này. Không biết con suối này từ đâu mà ra?”

Lưu Bá Ôn đang đứng bên cạnh nói: “Con suối này tất có nguồn của nó, uống được nó tất có điều tốt!” Nói xong, Lưu Bá Ôn liền dùng thuật ẩn thân, biến mất trong chớp mắt.

Người tiều phu vừa thấy Lưu Bá Ôn đứng trước mặt mình nói chuyện, chỉ nhoáng một cái đã không còn thấy đâu nữa, cảm thấy rất kỳ quái. Chợt nghĩ lại, người tiều phu cảm thấy đã từng gặp người đàn ông kia ở đâu rồi.

Nghĩ một lát, người tiều phu reo lên, hóa ra là Lưu quân sư. Hóa ra, người tiều phu này là một quân sĩ đã giải ngũ về ở ẩn. Khi còn trong quân ngũ, ông ta đã từng gặp Lưu Bá Ôn. Nhớ lại câu nói của Lưu Bá Ôn rằng uống nước này tất có điều tốt, người tiều phu bèn bỏ bó củi trên lừng, tìm vật liệu dựng một căn lều ngay bên con suối rồi sống luôn ở đây.

Do thường xuyên uống nước từ con suối này, người tiều phu lúc nào cơ thể cũng tráng kiện, khuôn mặt hồng hào. Có người hỏi nguyên nhân vì sao ông có thể khỏe mạnh và trẻ lâu tới như vậy, người tiều phu đều nói là do ông uống nước ở con suối do Lưu Bá Ôn dùng kiếm thần tạo thành.

Không chỉ được giao nhiệm vụ phá thế phong thủy, đoạn long mạch để ngăn chặn việc xuất hiện thiên tử, tranh chấp thiên hạ với họ Chu, Lưu Bá Ôn còn được Chu Nguyên Chương tin tưởng giao cho nhiệm vụ cải tạo phong thủy để đem lại điều lợi cho sự cai trị của triều Minh.

Chuyện kể rằng, sau khi sửa sang song Bắc Kinh, nơi sau này được lựa chọn làm kinh đô triều Minh, Chu Lệ, khi đó vẫn còn là Yên Vương đã tiến hành tu sửa các lăng mộ. Kể từ lúc Chu Nguyên Chương lên ngôi đã lập tức cho sửa phần mộ.

Tuy nhiên, việc sửa  phần mộ trước hết phải chọn được nơi đặt mộ. Một hôm, Yên Vương nói với quân sư Lưu Bá Ôn rằng: “Ngươi hãy dẫn đường, chúng ta cùng đi tìm một nơi đặt mộ thật tốt”. Lưu Ba Ôn vừa nghe đã biết Yên Vương muốn tìm địa điểm để đặt hoàng lăng.

Nơi đặt hoàng lăng có can hệ tới vận mệnh của cả triều đại, do vậy phải là nơi có phong thủy thượng đẳng mới được. Nghĩ thế, Lưu Bá Ôn đã cùng với Yên Vương ra đi. Tuy nhiên, hai người từ Đông đi sang Tây, rồi lại từ Nam đi lên Bắc nhưng vẫn không chọn được địa điểm ưng ý.

Cuối cùng, hai người chọn đi từ Bắc xuống phía Tây. Đi một lúc thì tới Đông Trang, hai người nhìn thấy một cây óc chó và một ngọn núi đất vàng, phong cảnh khá đẹp. Yên Vương nói: “Nơi đây được đấy!” Lưu Bá Ôn nói: “Nơi đây chưa được!” Vì sao lại không được?

Lưu Bá Ôn chỉ tay về ngọn núi đất vàng phía trước mặt nói: “Điện hạ xem, đây là phần đất cao, chắc chắn là không thể có long mạch. Xây lăng tại nơi đây, đất nước có nguy cơ bị hủy hoại”. Yên Vương vừa nghe đến câu đất nước bị hủy hoại đã lắc đầu nói: “Không được. Vậy tìm một nơi khác”.

Hai người lại tiếp tục đi tới Tây Trang. Tới đây, Lưu Ba Ôn chỉ tay nói: “Điện hạ, ngài thử nhìn về hướng Bắc xem”. Hai người cùng nhìn về hướng Bắc, bỗng thấy ánh sáng phát ra. Yên Vương nói: “Nơi đây là mảnh đất tốt, thử tới gần xem thử ra sao”.

Hai người cùng tới nơi thì thấy nơi đây ba mặt đều có núi che chở, dựa vào phía Bắc quay mặt về phía Nam, là một nơi có địa thế cực đẹp. Yên Vương lúc này vui mừng ra mặt quay sang hỏi Lưu Bá Ôn: “Giờ thì được rồi chứ?”

Lưu Bá Ôn nói: “Không tệ, có thể nói là nơi đất tốt. Điện hạ từ đây nhìn về phía Nam thử, nơi đây phía bên trái có núi thanh long, bên phải có núi bạch hổ, tả thanh long, hữu bạch hổ, chỗ điện hạ đang đứng chính là ổ mà thanh long nằm đấy”.

Yên Vương nghe xong vui mừng nói: “Được vậy sẽ xây lăng mộ tại đây”. Lưu Bá Ôn cầm một vốc tiền cổ đem chôn xuống dưới đất ngay chỗ Yên Vương đứng để đánh dấu.

Một chuyện khác lại kể rằng, Lưu Bá Ôn sau khi giúp Chu Nguyên Chương lập nên nhà Minh thì xin cáo quan về quê ở ẩn, nhằm tránh những đòn thù của Chu Nguyên Chương lẫn quan thừa tướng Hồ Duy Dung.

Để Hồ Duy Dung lẫn Chu Nguyên Chương không biết được hành tung của mình, Lưu Bá Ôn bèn cải trang làm đạo sĩ, bí mật rời khỏi nhà, ngao du thiên hạ, trở thành một đại sư phong thủy thần bí trong giang hồ.

Một lần, Lưu Bá Ôn đi tới Cửu Đàm núi La Phù. Người đi cùng ông là tướng quân Bành Oánh Ngọc trong trang phục một hòa thượng. Vì sao Lưu Bá Ôn lại tìm tới Cửu Đàm ở núi La Phù?

Hóa ra, chuyện là khi Lưu Bá Ôn dẫn quân nam chinh đã từng đi qua Cửu Đàm, nhận thấy nơi đây địa thế không tệ, tuy nhiên, nhân dân lại nghèo khó. Xem xét một hồi, Lưu Bá Ôn phát hiện ra rằng, mặc dù địa thế nơi đây tốt nhưng người dân vẫn nghèo là do nơi đây xuất hiện bố cục trấn phong thủy.

Lúc bấy giờ, do quân tình khẩn cấp, không tiện dừng lại lâu, Lưu Bá Ôn đã hứa với người dân ở Cửu Đàm rằng, đợi tới khi đất nước thống nhất sẽ quay trở lại đây giúp họ thay đổi bố cục trấn phong thủy kia để họ có thể thay đổi cuộc sống của mình.

Chính vì thế, sau khi cáo lão về quê, nhớ tới lời hẹn năm xưa, Lưu Bá Ôn đã quyết định quay trở lại Cửu Đàm.

Năm xưa khi hành quân qua Cửu Đàm, Lưu Bá Ôn đã từng xem xét nhiều lần địa hình, địa thế của Cửu Đàm. Phần lưng của Cửu Đàm dựa vào núi La Phù, mỗi năm lũ từ trên núi La Phù đều đổ xuống Cửu Đàm. Đây chính là bố cục đã trấn áp phong thủy của Cửu Đàm.

Vì vậy, Lưu Bá Ôn cho rằng, chỉ cần trị được lũ từ trên núi đổ xuống khu vực Cửu Đàm thì người dân có thể tránh được tai nạn hàng năm, từ đó có thể an cư lạc nghiệp.

Lưu Bá Ôn đã cùng người dân Cửu Đàm nắn dòng chảy của con suối thành theo hình chữ chi để giảm sức chảy của dòng nước khi có lũ về nhờ vậy, thay đổi luôn cả bố cục phong thủy bị trấn áp của Cửu Đàm. Từ đó về sau, người dân Cửu Đàm không còn phải chịu lũ quét hàng năm nữa.

Câu chuyện “Trăm mèo giữ cá” cũng ghi lại một truyền thuyết phong thủy rất thú vị về Lưu Bá Ôn. Chuyện kể rằng, ba anh em họ Du gồm Du Thông Hải, Du Thông Nguyên và Du Thông Uyên đều là những bộ tướng rất giỏi của Sào Hồ thủy quân Lý Bát Đầu.

Khi Chu Nguyên Chương dẫn binh chiếm Hòa Châu, Lý Bát Đầu bị Nguyên Đạt Tử ở Lô Châu đán úp nên muốn mượn quân của Chu Nguyên Chương để báo thù. Trong khi đó, Chu Nguyên Chương muốn mượn thuyền của Bát Đầu vượt sông tới Thái Bình Phủ, giải quyết vấn đề lương thảo.

Hai người liên hợp với nhau tuy nhiên mỗi bên đều có tính toán riêng cho mình. Anh em họ Du theo lệnh của Bát Đầu đã giúp Chu Nguyên Chương lên kế hoạch lấy được Thái Bình đồng thời mang thủy quân Sào Hồ tới đại doanh trại của Chu Nguyên Chương, khiến quân của họ Chu như hổ mọc thêm cánh.

Ba anh em họ Du dũng cảm thiện chiến, lập được nhiều chiến công. Trong đó công lao lớn nhất chính là người anh cả Du Thông Hải. Du Thông Hải tự là Bích Tuyền, đã theo Chu Nguyên Chương phá Hải Nha, đánh gục Ninh Quốc, đuổi Trần Hữu Lượng, bắt sống  Trương Sĩ Thành,… công trạng rất lớn, từng được phong làm Bình Chương Chính sự và nhiều chức vụ trọng yếu khác trong quân đội.

Tuy nhiên, trong trận Bình Giang, Du Thông Hải không may bị trúng tên mà chết. Khi Du Thông Hải chết, Chu Nguyên Chương ôm xác họ Du mà khóc, đồng thời nói với Lưu Bá Ôn và tướng quân Từ Đạt rằng: “Vừa mới bắt đầu cuộc chiến, Bích Tuyền đã chết khác gì ta mất một cánh tay! Mau mau thu quân, tổ chức tang lễ cho ông ta”.

Lúc bấy giờ, Lưu Bá Ôn và Từ Đạt cũng chảy nước mắt nói, khuyên rằng: “Bích Tuyền chết, thần cũng đau lòng, thiết nghĩ cũng nên tổ chức tang lễ. Chỉ là hiện tại không có thời gian, mong chúa công nên lấy xã tắc làm trọng, quân không thể thu, bính lính không thể rút lui được!”

Du Thông Nguyên và Du Thông Uyên cũng khóc lóc nói: “Ơn sâu của chúa công khiến anh em họ Du chúng tôi dù có tan xương nát thịt cũng không thể báo đáp cho hết được.

Khi cơ nghiệp sắp thành mà rút binh cũng không phải là mong muốn của anh trai chúng thần”. Mọi người đều khẩn khoản can gián, Chu Nguyên Chương nghe có lý, đành phải gạt nước mặt nói: “Được! quân sư, hãy nhớ cho kỹ, sau này nếu có phong thưởng thì Bích Tuyền sẽ là người đầu tiên”.

Sau này khi khởi nghĩa thành công, Chu Nguyên Chương lập nên nhà Minh, xưng làm hoàng đế đã tổ chức quốc tang cho Du Thông Hải, truy phong làm Quắc Quốc Công, thụy hiệu là Trung Liệt.

Du Thông Nguyên được phong làm Nam An Hầu còn Du Thông Uyên được phong làm Việt Tuyển Hầu. Ngoài ra, Chu Nguyên Chương còn đặc cách hạ lệnh cho Lưu Bá Ôn giúp mình xây dựng một căn nhà thật đẹp tặng cho anh em họ và con cháu họ Du.

Lưu Bá Ôn cùng với ba anh em họ Du đều sống chêt vì Chu Nguyên Chương đánh lấy thiên hạ, lập nhiều chiến công. Trong quá trình khởi nghĩa, hai bên cũng có thể nói là vào sống ra chết cùng nhau, tình cảm sâu nặng.

Nay được Chu Nguyên Chương giao việc xây nhà cho họ Du, Lưu Bá Ôn đương nhiên không có lý do gì để không làm hết sức mình. Vì thế, ngôi nhà mà Lưu Bá Ôn xây dựng cho anh em họ Du hết sức nguy nga tráng lệ. Ngoại trừ hoàng cung, tại Nam Kinh không có ngôi nhà nào có thể sánh kịp với căn nhà này.

Tuy nhiên, người đời xưa thường nói, cây càng cao thì gió càng lớn. Căn nhà quá to, thường bị người ta lấy ra so sánh với hoàng cung của anh em họ Du đương nhiên khó tránh khỏi việc mang theo mầm họa.

Thừa tướng Hồ Duy Dung trước mặt Chu Nguyên Chương đã bẩm tấu rằng: “Bệ hạ phong công, phong hầu cho nhà họ Du, lại còn tổ chức quốc tang cho Du Thông Hải, có thể nói là đối đãi với họ không hề bạc. Nay bệ hạ lại xây cho nhà họ Du một căn nhà to đẹp như vậy, sợ rằng…”

Chu Nguyên Chương ngắt lời họ Hồ, nói: “Bích Tuyền công ở trên tất cả mọi người, đó là ý trẫm quyết định”. Hồ Duy Dung vẫn chưa chịu thôi, nói: “Đây là chỗ nhân hậu của bệ hạ. Tuy nhiên, đây có lẽ sẽ là điều bất lợi cho xã tắc”.

Chu Nguyên Chương bắt đầu để ý, hỏi: “Vì sao?” Hồ Duy dung chỉ vào căn nhà cao ngất của nhà họ Du nói: “Bệ hạ xem, mây khói thành vòng, nhà họ Du xuất hiện vương khí!” Chu Nguyên Chương nghe thấy hai chữ “vương khí” thì trầm ngâm không nói.

Hồ Duy Dung biết cơ hội đã tới, nói tiếp: “Du Thông Hải khi còn sống đức cao vọng trọng, bộ hạ cũ đều quen nghe chỉ huy của ông ta. Nay Thông Nguyên và Thông Uyên đều giữ chức vụ quan trọng, hậu duệ của Thông Hải lại đều là những người xuất sắc.

Nếu một ngày nào đó họ có chí khác thì thiên hạ của Đại Minh e rằng không được bền lâu”. Vốn tính đa nghi, lại chỉ lo có kẻ tranh giành thiên hạ với mình nên khi nghe những lời này của Hồ Duy Dung, Chu Nguyên Chương không khỏi gật đầu, nói: “Ngươi nói nên làm thế nào?”Hồ Duy Dung nói ngay: “Dỡ nhà, phá vương khí”.

Vừa may, câu chuyện mới tới đó thì Lưu Bá Ôn tới. Vừa nghe thấy lời của Hồ Duy Dung, trong lòng Lưu Bá Ôn đã thất kinh. Nếu như dỡ nhà thì chẳng phải nhà họ Du cũng bị hủy hoại hay sao?

Lưu Bá Ôn định lên tiếng ngăn cản Chu Nguyên Chương, tuy nhiên, chợt nghĩ, nay Chu Nguyên Chương đã là hoàng đế chứ không còn là người ra sống vào chết với nghĩa quân khi xưa nữa, nếu không cẩn thận có thể mất mạng như chơi.

Chợt trong đầu Lưu Bá Ôn lóe lên một cách. Ông vội bước vào trong phòng nói với Chu Nguyên Chương: “Hoàng thượng, khi xây dựng thần đã sơ ý xây nhà của họ Du quá cao. Thần đang định đến gặp hoàng thượng để xin ý kiến về việc giải trừ vương khí của nhà họ Du”.

Chu Nguyên Chương thấy vậy hỏi: “Tiên sinh có kế gì không?” Lưu Bá Ôn nói: “Cá (trong tiếng Hán, chữ cá với họ Du có cách đọc như nhau, vì thế cá ý chỉ nhà họ Du) mà ra biển thì có thể hóa rồng. Nay thần chỉ cho căn nhà họ Du một cái giếng.

Lại thêm, cá vốn rất sợ mèo ăn thịt vì thế, thần đã phái một con mèo canh giữ trước cửa, cá chỉ cần lò đầu ra thì mèo có thể nuốt gọn. Như vậy, chẳng cần phải tốn công sức dỡ nhà khiến mất lòng dân, phá hoại cảnh thái bình thịnh trị mà vẫn có thể trừ được vương khí nhà họ Du. Hoàng thượng thấy sao?”

Chu Nguyên Chương nghe kế của Lưu Bá Ôn thấy hợp lý bèn nói: “Cứ theo cách của tiên sinh mà làm”.

Sau khi được sự đồng ý của Chu Nguyên Chương, Lưu Bá Ôn đã bày “bát quái trận” xung quanh nhà họ Du. Ông lệnh cho quân sĩ dựng một tấm bia đá ở trước cửa nhà họ Du, bên trên bia khắc hình hơn 100 con mèo.

Phía trước của tấm bia là một cái giếng. Phía sau nhà là một bức tường chặn kín. Phía Đông của căn nhà là một đài câu cá. Sau đó, Lưu Bá Ôn nói với Chu Nguyên Chương: “Nếu như một ngày nào đó, con cá này phá cửa mà ra thì sẽ bị hơn 100 con mèo nuốt chửng.

Nếu như có chạy thoát khỏi 100 con mèo thì phía sau là tường chắn, hai phía Đông Tây là đài câu cá, tầng tầng lớp lớp bao vây, nó cũng không thể ra được tới biển để biến thành rồng được. Muốn có nước chỉ còn cách là xuống chiếc giếng ở trước nhà. Cá mà sống ở giếng thì không thể nào làm nên trò trống gì được”.

Chu Nguyên Chương thấy rằng sắp đặt như vậy, nhà họ Du sẽ không bao giờ có thể ra tới biển để trở thành rồng thì vui mừng lắm, thưởng cho Lưu Bá Ôn rất hậu hĩnh.

PTTB sưu tầm


 Giai thoại về ngôi mộ nhà họ “Ngô Đình” tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình                                                                                                                             
Khong cuối thế kỷ 19 đời vua Tự Đức tại làng Đại Phong (tục danh Đợi), huyện Phong Lộc (sau đổi thành huyện Lệ Thủy), tỉnh Quảng Bình, có một nông dân đến ngụ cư trong làng,...vợ chết sớm, chỉ có một cậu con trai nhỏ độ 6 tuổi, hằng ngày làm mướn sinh sống. Ban hội tề ở đình làng này cắt cử ông đến phục dịch ở đình làng mỗi khi có hội họp hoặc tế lể.

Sau đó, trong một cơn bệnh nặng, ông qua đời, được ban hội tề làng cử 4 dân đinh đưa thi hài ống đến an táng lại “Bến Đẻ” một vùng rừng núi ngược dòng sông Kiến Giang cách làng Đại Phong độ 3 cây số ngàn.

Vì mới đến ngụ cư, không có địa vị trong làng, không thân thuộc, lại quá nghèo, nên công việc tổ chức mai táng cũng chỉ đơn sơ và vội vàng.

Ngôi mộ

Khi 4 dân đinh chèo thuyền đưa thi hài ông đến “Bến Đẻ” thì trời đã về chiều, mà nơi này có tiếng nhiều cọp, nên khi dân đinh đang khiêng thi hài ông từ bến đậu thuyền tiến vào núi, bỗng có nhiều tiếng cọp gầm gừ quanh vùng. Dân đinh sợ quá vội hạ xuống cùng nhau hối hả đào một huyệt cạnh đường mòn, nhưng đào chưa xong thì tiếng gầm thét của chúa sơn lâm càng rền vang đâu đó, 4 dân đinh khiếp đảm liền đặt thi hài ông xuống huyệt còn quá cạn rồi lấp đất qua loa, đọan vội vã cùng nhau co giò chạy về bến xuống thuyền chèo về nhà, định bụng sáng hôm sau sẽ trở lại sửa sang lại chu đáo hơn kẻo tội nghiệp người quá cố.

Qua hôm sau, số dân đinh này chèo thuyền trở lại, thì lạ thay, ngôi mộ chiều hôm trước mới lấp qua loa chưa thành nấm, nay đã hóa thành một gò đất tròn trịa do mối tạo lên lớn bằng một căn nhà. Các bậc lão thành trong làng và lân cận nghe tin, lũ lượt đến xem và đều cho là ngôi mộ thiên táng.

Nhưng rồi câu chuyện cũng theo thời gian đi và quên lãng, không ai lưu tâm bàn tán gì đến nữa. Mỗi lần ai đi ngang qua ngôi mộ này cũng không còn để ý đến một gò đất cây cỏ um tùm vì không người viếng thăm săn sóc từ năm này qua năm khác.

Cụ Ngô Đình Khả

Ông cụ qua đời, để lại cậu con trai côi cút mới lên 8, mặt mũi rất khôi ngô dĩnh ngộ, nên được vị cố đạo Thiên Chúa ở xứ đạo Mỹ Phước cạnh làng Đại Phong nhận đem về nuôi cho ăn học. Cậu bé đó là cụ Ngô Đình Khả sau này đó.

Sau này, cậu bé được cho ra Hanoi học, thi đậu tốt nghiệp trường thông ngôn Đông Pháp, được bổ làm thông phán tại tòa Thống sứ Bắc Kỳ tại Hanoi (trường này giống học viện hành chánh bây giờ).

Theo thông lệ xưa, hễ ai được nhà nước bảo hộ hay Nam triều bộ nhậm chức tước gì thì đều được nhà nước, thông tư về nguyên quán và ban hội tề làng phải tổ chức lên tỉnh rước sắc bằng về làng, nhằm làm tăng vinh dự cho người được bổ nhậm, thường gọi là “tư án quán”. Tại làng, người nào có phẩm hàm cao thì được làng cấp phần ruộng tốt giao cho thanh nhân canh tác.

Nhưng khi được nhà nước bảo hộ ở Ha nội tư án quán, tòa công sứ và dinh tuần vũ tỉnh Quảng Bình báo cho làng Đại Phong lên tỉnh rước sắc bằng cụ Khả, thì ban hội tề làng này từ khước viện lý do làng Đại Phong không có ai tên là Ngô Đình Khả cả, bởi vì nếu nhận có, tất cụ Ngô Đình Khả sẽ là vị tiên chỉ của làng này, trong khi làng này chỉ có những quan nhỏ cửu, bát phẩm mà thôi.

Do sự khước từ trên, cu Ngô Đình Khả giận làng Đại Phong, sau đó cụ kết hôn với một thiếu nữ trâm anh ở làng Phú Cam gần kinh đô Huế và nhận làm công dân của làng này.

Sau này cụ Ngô Đình Khả chuyển cái ngạch Nam triều rồi lần lượt thăng tiến trên đường họan lộ, đến triều vua Thành Thái ngài thăng chức Thượng thơ bộ Học, Hiệp ta Đại học sĩ.

Dân làng Đại Phong lúc bấy giờ hối tiếc việc không thừa tiếp một công dân anh tài vẻ vang cho làng xóm, nên đã cùng nhau vào Huế xin tạ lỗi và thỉnh cầu được tiếp nhận cụ về làng, được cụ chấp thuận. từ đó, cụ là công dân làng Đại Phong. Cụ đã góp công xây dựng ngôi đình làng Đợi to lớn và ngôi nhà thờ nguy nga hiện nay vẫn còn.

Gái và trai

Cụ Ngô Đình Khả sinh được 2 gái và 6 trai: hai gái là bà cụ Cả Lễ và bà cụ Ấm, 6 trai là cụ nguyên tổng đốc tỉnh Quảng Nam Ngô Đình Khôi, Đức tổng Giám mục Ngô đình Thục, nguyên tổng thống đệ nhứt VNCH Ngô Đình Diệm, nguyên cố vấn Ngô Đình Nhu, nguyên đại sứ VNCH tại Anh quốc Ngô Đình Luyện và nguyên cố vấn cao nguyên trung nguyên Trung phần Ngô Đình Cẩn.

Năm 1936, cụ bà Ngô Đình Khả cùng các con gồm các ông Ngô Đình Khôi, Đức cha Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn (vắng mặt ông Ngô Đình Luyện có lẽ du học ngọai quốc) về làng Đại Phong thăm làng. Trước khi về làng, cụ bà và các con đến Bến Đẻ viếng mộ cọ cố Tam Đại Tổ.

Chạm long mạch

Năm 1938, ông Paul Ngọc, một nhà kinh doanh khai khẩn đất hoang nguyên quán Đồng Hới được phép khai khẩn đồn điền Ba Canh (tả ngạn sông Kiến Giang song song với vùng núi Bến Đẻ, Bến Trấm), ông này vô tình cho đào một con mương dẫn nước vào đồn điền để canh tác đã chạm phải long mạch của ngôi mộ thiên táng của nhà họ Ngô Đình kể trên và tai nạn đã đưa đến nho nhà họ Ngô là:

- Thượng thơ bộ Lại của triều đình Huế Ngô Đình Diệm bị hòang đế Bảo Đại cất chức thượng thơ thu hồi tất cả phẩm trật và huy chương vì đã chống đối lệnh hòang đế.

- Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi phải bị rắc rối một thời gian vì đã chống đối gây sự bất hòa với viên phó tòan quyền Đông Pháp Nouailletas.

Năm 1944, ông Paul Ngọc được chuyên viên canh nông Nhật bổn yểm trợ khuếch trương đào các con kinh dẩn thủy trong đồn điền Ba Canh của ông, vô tình đã chạm vào long mạch của ngôi mộ kể trên, nên lại một lần nữa gây đại nạn cho nhà họ Ngô là:

- Ông Ngô Đình Khôi và con trai đầu lòng là Ngô Đình Huân bị chính quyền VM bắt và thủ tiêu sau cuộc cách mạng mùa thu 1945.

- Ông Ngô Đình Diệm cũng bị chính quyền VM bắt giam nhưng đã trốn thóat bôn đào ra ngọai quốc.

Hàn lại long mạch

Nhưng nhờ thời gian Đồng minh đánh Nhật và VN chống Pháp, mọi công tác tại đồn điền này đều phải đình chỉ, các kinh đào dẫn thủy nhờ thời gian qua đã lấp lại hết. Long mạch đã được hàn gắn lại nên vận số nhà họ Ngô lại phục hưng bột phát hơn trước:

- Tháng 7-1954, ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh rồi trở thành vị tổng thống sáng lập nền đệ nhất cộng hòa VN.

- Cùng lúc, bào đệ là ông Ngô Đình Nhu nắm giữ chức cố vấn nòng cốt của chế độ, ông Ngô Đình Luyện giữ chức đại sứ VNCH tại Anh Quốc, ông Ngô Đình Cẩn trở nên vị lãnh chúa của miền Trung. Còn Đức Cha Ngô Đình Thục lên chức Tổng Giám Mục và có thể sẽ là vị Hồng Y đầu tiên của Công Giáo tại VNCH.

Lại chạm Long Mạch

Nhưng vào khỏang năm 1960-1962, chế độ miền Bắc bắt đầu đặt nặng công cuộc yểm trợ tận lực cho Mặt trận Giải Phóng miền Nam được Trung Cộng viện trợ xây đắp xa lộ từ Bắc vào Đồng Hới qua Hậu Hùng, Mỹ Đức đến vùng đồn diền Ba Canh tiến sát vĩ tuyến 17 và vùng Ba Canh trở thành căn cứ sản xuất và bổ túc vủ khí để chuyển vào Nam. Họ đào những đường hầm sâu để đặt cơ xưởng dưới lòng đất hầu tránh oanh kích đã làm đứt hẳn long mạch của ngôi mộ thiên táng nhà họ Ngô tại Bến Đẻ. Sự kiện này đưa đến đại nạn cho tòan thể gia đình họ Ngô Đình vào mùa đông năm 1963 như chúng ta đã rõ.Âu cũng là do thiên định cho sự kết phát của ngôi mộ kể trên phải chịu trong giai đọan đại biến này thôi. Rồi nếu hồng phúc của nhà họ Ngô Đình trời còn dành cho phần trường cửu hơn, thì biết đâu sau này lại có những sự kiện đưa đến hàn gắn lại long mạch để lớp hậu duệ nhà họ Ngô Đình tái phục hưng vĩ đại hơn nữa.

Về phương diện phong thủy, phải chăng ngôi mộ kể trên đã chung tú bới non sông hùng vĩ của huyện Lệ Thủy từ phía Nam có 3 hòn núi An Mã dẫn về Bến Trấm, Bến Đẻ và phía Tây có núi Đầu Mâu chung khí về biển Hạc Hải ờ phía Đông Bắc trải long mạch dựa theo sông Kiến Giang ngược lên Tróc Vực quy tụ vào ngôi mộ này kết phát đến tột đỉnh, Đế, Bá, Công, Hầu chăng ?

Kẻ viết giai thọai này chỉ là kẻ hậu sinh, nhờ được sinh sống ở quê hương từ thuở thiếu thời, được các bậc tiền bối truyền thọai lại mà thôi. Nay xin viết lại để mong chư hải nội tiền bối nhất là liệt quý vị cao niên đồng hương hiện ờ Miền Nam phủ chính lại cho, hầu xây dựng đích thực một sử liệu không những chỉ ở lãnh vực địa lý mà cả cho danh nhân chí của Việt Nam nữa ./.

Nguồn: Tạp chí Khoa Học Huyền Bí

Tổng quan sơ lược các trường phái Phong Thủy

LỜI BẠT
Thi thoảng lại có bạn muốn tham khảo ý kiến của tôi về những cuốn sách phong thủy nên đọc khi muốn tìm hiểu về phong thủy, có bạn thì cũng đã tìm đọc rồi nhưng thấy dường như có quá nhiều trường phái, phương pháp phong thủy khác nhau, rồi chưa kể đến những điểm không giống nhau thậm chí là bất đồng giữa các phương pháp, trường phái, từ đó tạo ra một mê hồn trận ngay từ đầu với những người muốn nhập môn. Và một thực tế là trên thị trường sách hiện nay kể cả sách in lẫn sách trên mạng cũng có quá nhiều sách viết về phong thủy. Quả thực với một nguời mới khởi lòng tìm hiểu môn này thật khó có thể tìm cho mình những cuốn sách nên đọc trước chứ chưa nói đến nên có cái nhìn như thế nào cho toàn diện, đầy đủ về bộ môn này.
Đó là hệ thống sách vở về phong thủy, còn về đội ngũ thầy phong thủy hiện nay có thể nói là rất đông đảo, dường như đâu đâu cũng quan tâm đến phong thủy hoặc có liên quan đến phong thủy. Bên cạnh đó mỗi một phong thủy gia lại có một sở trường, một phương pháp riêng nên cách tiếp cận cùng một đối tượng, cùng một vấn đề lại có phần khác nhau. Dẫn tới khi người muốn nhờ tư vấn phong thủy lại nhận được rất nhiều luồng thông tin khác nhau, thậm chí trái chiều trên cùng một vấn đề đặt ra…điều đó vô hình tạo ra một sự phức tạp, nếu chưa muốn kể đến là mâu thuẫn giữa chính các nhà phong thủy.
Một thị trường sách phong thủy đa dạng, một môi trường đông đảo các thầy phong thủy, tạo ra cho cả những người muốn tìm hiểu cũng như những người cần sự tư vấn, một không gian phong thủy trước kia vốn đã bí hiểm, nay dường như lại thêm phần rối rắm.
Bản thân tôi không phải là một người giỏi phong thủy, nhưng tôi yêu phong thủy, tôi yêu lý học bởi tính khái quát, tính hệ thống, tính quy luật, tính khách quan và đặc biệt là khả năng tiên tri của nó. Tôi viết bài này không có tham vọng gì nhiều chủ yếu chỉ là giới thiệu với các bạn cách nhìn tổng quát sơ lược về các bộ môn, trường phái phong thủy phổ biến hiện nay. Trên cơ sở đó mọi người có thể có được cái nhìn toàn diện, tổng thể về phong thủy. Đặc biệt hy vọng sẽ có chút ít có ích cho những bạn bước đầu muốn tìm hiểu bộ môn lý học này. Có thể bạn không thích phong thủy lắm, không có nhu cầu tìm hiểu lắm, nhưng biết đâu sau bài viết này bạn lại nhận ra là có một phần hiện thực khách quan đang tác động đến bạn mà giờ bạn đã nhận ra. Trình độ lý học của tôi còn rất nông cạn, các thuật ngữ có thể có nhiều chỗ nhầm lẫn, mong các bạn bỏ qua cho.
1. Phong thủy là gì?
Hiện tại đã có rất nhiều các định nghĩa, khái niệm khác nhau về phong thủy nhưng tựu chung đều cho rằng Phong thủy là một bộ môn khoa học huyền bí nghiên cứu về “gió” và “nước”, nghiên cứu về sự vận chuyển của các dòng khí, mạch khí trên mặt đất, sự tác động nặng lượng của các vì tinh tú trên bầu trời hay sự ảnh hưởng vật thể khác nhau tới ngôi nhà (hoặc ngôi mộ) mà trong đó con người là đối tượng trung tâm. Từ những sự ảnh hưởng đó mà tạo nên những điều tốt đẹp hoặc bất lợi với người sống trong ngôi nhà đó, hoặc dòng họ, cá nhân có liên quan.
Cá nhân tôi hiểu Phong Thủy là một bộ môn nghiên cứu, thực hành ứng dụng sự tương tác của các dòng năng lượng (tự nhiên) đến cuộc sống con người. Sự diến đạt dưới đây đều xoay xung quanh cách hiểu này.
2. Lịch sử phong thủy.
Có thể nói rằng loài người từ cổ xưa, trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài, kèm theo đó là tiến trình thay đổi lối sống sinh hoạt từ du canh, du cư đến định canh định cư. Và lúc này loài người bắt đầu chú ý đến nơi ăn, chốn ở sao cho an toàn, thuận lợi, lâu bền trước mắt là có thể tránh được thú dữ, chống lại điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên, sau là để chống sự xâm lược từ các bộ tộc khác và các ngoại bang xung quanh. Xuất phát từ những thực tiễn cần thiết đó mà con người đã biết chọn cho mình những vị trí sinh sống phù hợp đó là những vùng đất rộng rãi, bằng phằng, sau có núi bao phủ, trước lại gần sông suối ao hồ. Có lẽ rằng phong thủy cũng đã manh nha hình thành từ ngay thời kỳ này.
Phương pháp ứng dụng của phong thủy đã tồn tại từ rất lâu trong văn minh Đông phương cổ. Những tư liệu và di vật khảo cổ lâu nhất tìm thấy được, mà người ta cho rằng mang dấu ấn của Phong thủy có từ 1500 năm trước Công Nguyên, qua những di vật khảo cổ tìm thấy ở Ân Khư - Thủ đô của nhà Hạ Ân trong lịch sử cổ đại Trung Hoa. Nhưng lý thuyết và phương pháp ứng dụng thực sự lưu truyền quan bản văn chữ Hán thì lại gần 2000 năm sau mới xuất hiện, cuốn sách cổ nhất được ghi nhận của Quách Phác đời Tấn, tựa là “Táng thư”. Từ đó về sau, những phương pháp ứng dụng phong thủy trong xây dựng nhà ở, dinh thự và cả phương pháp chôn cất…tiếp tục xuất hiện và nhiều nhất vào khoảng thời Đương Tống. Những phương pháp này - chủ yếu là dùng trong Dương Trạch - gần như khác nhau và xuất hiện ở những thời điểm khác nhau, nên người ta cho rằng nó thuộc về những trường phái khác nhau. Ngoài những sách vở chính thống thì phong thủy còn được lưu truyền một số phương pháp có tính bí truyền và chỉ truyền miệng trong dân gian, qua các giang hồ thuật sĩ. (Nguyễn Vũ Tuấn Anh- Lịch sử phong Thủy Lạc Việt).
3. Các trường phái phong Thủy.
Thực ra phong thủy không hẳn phức tạp như mọi người nghĩ, chủ yếu là tùy theo cách tiếp cận các tác nhân tác động khác nhau mà tạo ra các phương pháp, cách thức nhìn nhận về sự tương tác của các dòng năng lượng tới ngôi nhà, ngôi mộ hay con người có sự dị biệt. Nói một cách đơn giản, cùng một đối tượng là ngôi nhà nhưng cách nhìn nhận của một bác thợ nề, thợ mộc, thợ sơn, thợ sắt, thợ điện nước…đều có những sự khác nhau. Bác thợ nề tiếp cận ngôi nhà bằng việc xây tường, trát vách; bác thợ mộc thì lại chú tâm vào việc cửa đảng, đồ gỗ nội thất, bác thợ sơn thì lại chú trọng vào màu sắc, chất liệu…nhưng nói chung mọi người đều muốn làm sao để có được ngôi nhà đẹp nhất. Các trường phái phong thủy cũng vậy, nếu cách tiếp cận bắt đầu từ vị trí của ngôi nhà với hình thể, vị trí của các đối tượng xung quanh, đương nhiên sẽ khác với cách tiếp cận với việc coi các dòng tương tác của năng lượng trái đất làm chính, đương nhiên cũng khác với việc tiếp cận các dòng tương tác bắt đầu từ các vì tinh tú…Tuy các phương pháp tiếp cận là khác nhau nhưng tựu chung là đều muốn tạo cho, duy trì một trường năng lượng tốt trong ngôi nhà, để từ đó có những tác động tốt tới những thành viên trong ngôi nhà đó.
Như đã nói do những cách tiếp cận những dòng năng lượng tương tác khác nhau mà sinh ra những trường phái phong thủy khác nhau, đó là chưa kể đến những đặc điểm mang tính đặc thù cá nhân (các phong thủy gia) gia giảm cho những phương pháp đó. Phong thủy phổ biến hiện nay có thể được chia ra làm 5 trường phái chính, ngoài ra còn có rất nhiều trường phái khác có lý thuyết hoặc tính ứng dụng tương tự 5 trường phái này và ranh giới phân chia là không rõ ràng. Dưới đây tôi sẽ giới thiệu sơ lược về 5 trường phái phong thủy chính (phổ biến), các trường phái này thâu tóm hầu hết các cơ sở lý luận về phong thủy hay được sử dụng vào thời điểm hiện tại. Điều này hy vọng sẽ có ích với những bạn muốn tìm hiểu phong thủy khi mà có được cái nhìn tổng thể về các bộ môn và định hướng cho mình sẽ bắt đầu từ mảng nào của Phong thủy…

A. Trường phái Loan Đầu
Trường phái Loan Đầu hay còn có tên gọi khác là trường phái Hình Thể. Đây là phương pháp phong thủy xem xét sự ảnh hưởng giữa vị trí, hình thể, bố trí cấu trúc của cảnh quan xung quanh với ngôi nhà (mộ, khu đất, vùng đất...) mà bản chất là xem xét sự tương tác của các dòng năng lượng được phát ra hay dẫn tới từ cấu trúc hình thể, cảnh quan xung quanh tới năng lượng ngôi nhà.
Trường phái Loan đầu chú trọng vào việc phân tích hình khí của các dãy núi, con sông, con đường, kiến trúc, cảnh quan...ảnh hưởng tới ngôi nhà (hay cuộc đất). Việc chú trọng đó đặc biệt nhấn mạnh ở yếu tố bố cục, hình thù, vị trí tương quan... của các đối tượng. Mà phần nào coi nhẹ vấn đề phương vị, tọa độ của chúng. Bên cạnh đó, việc phân tích hình khí chủ yếu xem xét tới việc dẫn khí, tụ khí, tạo năng lượng tốt của các đối tượng, cũng như những ảnh hưởng xấu, tính xung sát của các hình thể. Việc phân tích hình khí này thường mang tính mô hình biểu kiến cao.
Trường phái này cũng cho rằng khí của địa cầu phát sinh ở dãy Hymalaya (và các tổ sơn khác) rồi chạy theo các mạch núi phân bổ ra khắp địa cầu. Bởi thế việc tìm mạch khí, tìm nơi tụ khí- kết huyệt để xây nhà, cất mộ là một vấn đề đặc biệt đối với các nhà phong thủy Loan. Các kỹ thuật như Tầm long tróc mạch, Điểm huyệt, Sơn thủy pháp, Huyền vũ pháp, Chu tước pháp…được sử dụng cốt để tìm ra được một vùng đất, cuộc đất tốt nhất.
Mọi người đều biết, mọi vật đều mang trong mình những năng lượng đặc trưng, và năng lượng này có khả năng tương tác xấu hoặc tốt tới những vật khác, trong đó có ngôi nhà và con người. Đồng thời những đặc trưng năng lượng ấy có mối liên hệ khá mật thiết tới hình dáng cũng như sự sắp đặt của chúng, theo nguyên tắc “Hình nào khí ấy”. Bởi vậy trường phái Loan Đầu nhấn mạnh ở yếu tố bố cục, hình thù, vị trí tương quan của cảnh vật...chính là nhấn mạnh tới đặc trưng năng lượng của chúng. Để từ đó tìm cách ứng dụng được các dòng năng lượng tốt và loại bỏ các dòng năng lượng xấu cho ngôi nhà.
Có thể nói rằng, theo trường phái Loan Đầu sự tốt xấu của ngôi nhà (mộ), phụ thuộc phần lớn vào năng lượng nơi xây nhà, cất mộ có tốt hay không. Và năng lượng ấy được quy định (hoặc được thể hiện) qua cấu trúc hình thể, bố cục, cấu tạo của cảnh quanh xung quanh ngôi nhà. Nghĩa là sự tác động năng lượng của cảnh quanh xung quanh với năng lượng của ngôi nhà đã tạo nên họa phúc cho ngôi nhà đó.


Hình 1: Địa thế khu vực cố đô Huế.
B. Trường phái Bát Trạch
Trường phái Bát trạch là một phương pháp phong thủy xem xét sự ảnh hưởng của phương hướng ngôi nhà với năng lượng của chính nó, trong mối tương quan với năng lượng của chủ nhà (quái mệnh). Bản chất quá trình tương tác năng lượng ở đây có lẽ chính là tương tác của năng lượng phương hướng hay năng lượng địa từ trường trái đất với năng lượng của ngôi nhà thông qua người chủ ngôi nhà.
Trong trường phái này, năm sinh của chủ nhà được đặt ra làm yếu tố trung tâm để xem xét sự tương tác. Ở đó năm sinh gia chủ được phối hợp với Bát quái để tìm ra năng lượng đặc trưng của người đó (quái mệnh). Từ đây năng lượng này phối hợp với 8 hướng để định cát hung cho căn nhà.
Theo phái này, mệnh chủ nhà được chia ra làm hai loại: Đông mệnh gồm có Khảm, Ly Chấn, Tốn và Tây mệnh gồm: Càn, Khôn, Cấn, Đoài.
Từ quái mệnh của chủ nhà, sử dụng cách tính Đại du niên để tìm hướng tốt xấu cho ngôi nhà. Theo đó mỗi tuổi (mệnh) có 4 hướng tốt là Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị; 4 hướng xấu là Tuyệt Mệnh, Ngũ Quỷ, Lục Sát và Họa Hại.


Hình 2: Bảng phân hướng tốt xấu theo quái mệnh.
Để đơn giản thì cũng có thể chia nhà ra làm hai loại: Nhà Đông trạch- tức hướng nhà ở 4 cung Khảm, Ly Chấn, Tốn và nhà Tây trạch- hướng nhà ở 4 cung Càn, Khôn, Cấn, Đoài. Theo đó về cơ bản nếu người Đông mệnh ở nhà Đông trạch được coi là tốt, người Tây mệnh ở nhà Tây trạch được coi là tốt. Như vậy có thể thấy rằng trường phái này phân định tốt xấu chủ yếu bằng cách xem xét sự phù hợp của bản mệnh chủ nhà với hướng của ngôi nhà. Nói cách khác tức là xem xét tương tác năng lượng của 8 hướng trên trái đất đối với tính chất năng lượng của chủ nhà. Ngoài ra phái Bát Trạch còn coi trọng vị trí đặt bếp lên tổng thể tốt xấu của ngôi nhà. Bếp thường được đặt ở các phương vị xấu của ngôi nhà, còn miệng bếp quay về hướng tốt.
Xét tính ổn định của dòng năng lượng phương hướng thì luôn có 2 nhóm hướng cố định tác động tới ngôi nhà: nhóm hướng Nam, Đông Nam, Đông và Bắc; nhóm hướng Tây Nam, Tây, Tây Bắc và Đông Bắc. 



Hình 3: Phân hướng tốt xấu cho người Đông mệnh và Tây mệnh.
Hai nhóm hướng này luôn cố định, không thay đổi, không phân định tốt xấu cho tất cả các kiểu nhà. Sự phân định tốt xấu cho hai nhóm hướng này chỉ xét đến khi có mặt của người chủ căn nhà. Tức là khi có sự tương tác năng lượng của các hướng với chủ nhà. Nói theo cách khác, tính chất năng lượng của các hướng là tồn tại độc lập, khách quan, không thay đổi trong hệ qui chiếu ban đầu (chưa có chủ nhà). Tuy nhiên vì mỗi người đến ở mang loại năng lượng khác nhau nên tương tác với các dòng năng lượng phương hướng này mà phân định ra cát hung.
Có thể nói rằng, sự tốt xấu của ngôi nhà, theo trường phái Bát Trạch phụ thuộc chủ yếu vào bản mệnh của gia chủ có phù hợp với hướng nhà hay không. Tức là tương tác năng lượng của phương hướng địa cầu với năng lượng của chủ nhà đã tạo nên họa phúc cho ngôi nhà đó.
C. Trường phái Dương Trạch Tam Yếu
Là phương pháp phong thủy xem xét sự ảnh hưởng của cấu trúc không gian bên trong của ngôi nhà với năng lượng của chính nó. Mà bản chất tác động ở đây có lẽ là tương tác năng lượng của từng bộ phận cấu thành ngôi nhà lên năng lượng tổng thể ngôi nhà đó.
Trường phái này đánh giá cát hung của một ngôi nhà chủ yếu qua mối quan hệ về vị trí của 3 đối tượng là: cửa chính, phòng chính và bếp (với nhà 1 ngăn) hoặc cửa chính, sơn chủ- lưng nhà và bếp (đối với nhà nhiều ngăn). Ngoài ra còn xem xét thêm các yếu tố về vị trí khác như, cửa phòng, cửa bếp, hướng bếp...
Theo đó với ngôi nhà có 1 ngăn, nếu 3 đối tượng: cửa chính, phòng chính và bếp đều nằm trong vòng 4 cung là Khảm Ly Chấn Tốn (Đông cung)- nhà Đông trạch dùng bếp Đông trù; hoặc cùng nằm trong 4 cung Càn Khôn Cấn Đoài ( Tây cung)- nhà Tây trạch dùng bếp Tây trù, thì được coi là tốt nhất.
Tương tự như vậy, với ngôi nhà có nhiều ngăn, nếu 3 đối tượng: cửa chính, lưng nhà và bếp đều nằm trong vòng 4 cung là Khảm Ly Chấn Tốn (Đông cung) hoặc cùng nằm trong 4 cung Càn Khôn Cấn Đoài (Tây cung) thì được coi là tốt nhất. Ngoài ra với nhà nhiều ngăn còn sử dụng kỹ thuật phiên tinh để tìm ra những vị trí phòng tốt nhất cải tạo hay xây dựng phòng này thành phòng to và rộng nhất nhằm tăng uy lực tốt đẹp, hoặc chấn áp được sự suy bại.
Về cơ bản phái này không coi trọng mệnh của chủ nhà như phái Bát Trạch. Tuy nhiên cũng có nhắc tới nếu người Đông mệnh mà ở nhà Đông Trạch… thì tốt thêm nếu không chỉ giảm tốt chứ không xấu đi.


Hình 4: Cấu trúc không gian ngôi nhà-nội dung chủ yếu của trường phái Dương Trạch Tam Yếu.
Trong trường phái Dương Trạch Tam Yếu mỗi phần cấu thành lên ngôi nhà được coi như một vật thể sống, chúng bị ảnh hưởng bởi năng lượng phương hướng và rồi lại tương tác năng lượng qua lại lẫn nhau. Nếu sự tương tác này là đồng bộ, cùng dạng thì đem đến một môi trường năng lượng tốt cho ngôi nhà. Còn không thì gây ra những xáo trộn trường năng lượng của ngôi nhà, tạo ảnh hưởng xấu tới người ở trong căn nhà đó.
Như vậy có thể thấy rằng, sự tốt xấu của ngôi nhà, theo trường phái Dương Trạch Tam Yếu phụ thuộc phần lớn vào việc bố trí các bộ phận chính của ngôi nhà có phù hợp với nhau hay không. Tức là tương tác năng lượng của chính cấu trúc không gian bên trong ngôi nhà đã tạo ra họa phúc cho ngôi nhà đó...

D. Trường phái Huyền Không Phi Tinh.
Là phương pháp phong thủy xem xét sự ảnh hưởng của các dòng năng lượng đến từ vũ trụ đến năng lượng của ngôi nhà. Bản chất tác động ở đây có lẽ chính là tương tác của năng lượng vũ trụ trong đó có các hành tinh trong thái dương hệ, đến năng lượng của ngôi nhà vào thời điểm nhập trạch của ngôi nhà đó.
Trong trường phái Huyền Không sử dụng 9 ngôi sao (cửu tinh) hay 9 con số và đường di chuyển của chúng trên quỹ đạo mang tên Lượng Thiên Xích, để bố trí thành tinh bàn của một ngôi nhà từ đó luận cát hung cho ngôi nhà, trong mối tương quan với cảnh quan bên trong và bên ngoài ngôi nhà.
Hai đối tượng chính được sử dụng trong trường phái này chính là Cửu tinh (9 ngôi sao hay 9 con số) và quỹ đạo di chuyển của cửu tinh mang tên Lượng Thiên Xích.
Cửu tinh gồm có:
Số 1 còn được gọi là sao Nhất Bạch hoặc Tham Lang; Số 2 còn được gọi là sao Nhị Hắc hoặc Cự Môn; Số 3 còn được gọi là sao Tam Bích hay Lộc Tồn; Số 4 còn được gọi là sao Tứ Lục hoặc Văn Xương; Số 5 còn được gọi là sao Ngũ Hoàng; Số 6: còn được gọi là sao Lục Bạch hay Vũ Khúc; Số 7 còn được gọi là sao Thất Xích hoặc Phá Quân; Số 8 còn được gọi là sao Bát Bạch hoặc Tả Phù; Số 9 còn gọi là sao Cửu Tử hoặc Hữu Bật.
Lượng Thiên Xích:
Còn được gọi là "Cửu tinh đãng quái” là thứ tự di chuyển của Cửu tinh trong Hậu thiên Bát quái. Gọi là Lượng thiên xích vì đây được coi như là 1 công cụ (Xích: cây thước) để đo lường (lượng) thiên vận (thiên). Nói cách khác "Lượng thiên Xích” chính là phương pháp tính toán để tìm thấy những giai đoạn cát, hung, họa phúc cho dương trạch và âm trạch.
Còn sự di chuyển của Cửu tinh theo vòng Lượng thiên xích là dựa theo thứ tự số trong Hậu thiên Bát quái, bắt đầu tăng từ số 5 đến 6, 7…trở về 5. Đây gọi là di chuyển theo vòng thuận. Còn vòng nghịch là giảm từ 5 xuống 4, 3…rồi trở về 5.


Hình: Hậu thiên bát quái phối độ số phương hướng.
Trên hai cơ sở chính này, đồng thời thêm vào hướng, tọa của ngôi nhà và thời điểm nhập trạch người ta lập ra được một tinh bàn hay trạch vận cho ngôi nhà đó: 
Link ảnh: Tinh bàn nhà nhập trạch trong vận 8 hướng Nam tọa Bắchttp://i1198.photobucket.com/albums/...f9ec2d6179.jpg
Trên cơ sở tinh bàn và đương vận, phong thủy gia sẽ tìm ra những khu vực vượng, sinh, suy, tử khí của ngôi nhà. Kết hợp với yếu tố cảnh quan bên trong và bên ngoài ngôi nhà để định ra những cấu trúc phù hợp hoặc luận giải cát hung cho ngôi nhà hoặc đưa ra những cải tạo bổ sung cho ngôi nhà...
Có thể thấy rằng theo trường phái Huyền Không Phi Tinh, sự tốt xấu của ngôi nhà phụ thuộc vào các yếu tố chính là: thời điểm nhập trạch hướng nhà, tọa nhà, sự thay đổi thời gian qua các vận, ngoài ra còn có đề cao sự phù hợp của cảnh quan bên trong, bên ngoài ngôi nhà với sự suy vượng của Cửu tinh. Với sự tham gia của yếu tố thời gian, ngôi nhà trong Huyền không phi tinh được gắn cho mình một hình ảnh động, sự tốt xấu của ngôi nhà không phải là cố định mà thay đổi theo từng vận, từng thời khắc. Điều này khác hẳn với ngôi nhà dưới con mắt của trường phái Loan Đầu, Bát Trạch hay Dương Trạch tam yếu- nơi ngôi nhà luôn định hình cho mình sự tốt xấu tương đối ổn định. Điều này hoàn toàn phù hợp với sự thay đổi tương tác của các dòng năng lượng trong vũ trụ- luôn mang trong mình sự luân chuyển theo thời gian.E. Trường phái phong thủy Trấn yểm và Tâm linh.
Là phương pháp phong thủy sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, dụng cụ có khả năng tác động năng lượng trực tiếp tới ngôi nhà hoặc con người sinh sống trong ngôi nhà đó. Các biện pháp, kỹ thuật, dụng cụ được sử dụng có thể ở dạng hữu hình (giác quan thông thường có thể nhận biết được) hoặc ở dạng vô hình (với giác quan thông thường). Bản chất tương tác năng lượng ở đây chính là sự tác động trực tiếp của các dòng năng lượng được tạo ra bởi các biện pháp, kỹ thuật, dụng cụ trấn yểm hoặc từ chính khả năng, quyền năng của Thầy phong thủy đối với ngôi nhà hoặc con người trong ngôi nhà.
Để duy trì hoặc tạo ra một môi trường tác động năng lượng lên ngôi nhà hoặc một bộ phần cục bộ của ngôi nhà, các phong thủy gia có thể sử dụng một hoặc nhiều biện pháp trấn yểm khác nhau. Trong đó một số kỹ thuật thường được sử dụng như:
Trấn: là kỹ thuật nhằm duy trì trường năng lượng tốt trong một khu vực với phạm vi tác động trên diện rộng.
Án: là kỹ thuật nhằm duy trì trường năng lượng tốt trong một khu vực với pham vi tác động trên diện hẹp hơn..
Yểm: là kỹ thuật để tránh sự xâm nhập của khí xấu, năng lượng xấu vào một khu vực.
Ngoài ra còn một kỹ thuật được sử dụng trong trấn yểm gọi là thu khí: có tác dụng thu hút những năng lượng ở xung quanh về khu vực định trước.
Có thể hiểu: Trấn yểm là một chuỗi các kỹ thuật có mục đích khác nhau nhằm tác động trực tiếp đến trường năng lượng (khí) của một ngôi nhà hoặc khu vực.
Thông thường khi thực hiện được các kỹ thuật này cần phải có các dụng cụ hoặc đồ vật để: phát ra trường năng lượng mạnh bao trùm khu vực cần trấn yểm, hoặc tạo ra rào cản năng lượng ngăn cách khu vực trấn yểm với xung quanh, hoặc có khả năng định dạng năng lượng (tạo năng lượng có tính chất đặc thù), hoặc định hướng năng lượng ở một khu vực…
Những vật đó gọi chung là nguồn phát (nguồn thu), hoặc pháp khí phong thủy. Nguồn phát (thu) có thể là bùa (phù), các vật có mức năng lượng cao như: các loại đá thạch anh…, và các dụng cụ phong thủy khác. Ngoài ra để tăng cường thêm cường độ, thời gian cũng như không gian tác động năng lượng, trong kỹ thuật trấn yếm, các phong thủy sư có thể lập trận, bày trận trên khu vực cần trấn yểm.
Trong phong thủy Trấn yểm và Tâm linh, thì phần phong thủy Tâm linh có thể nói là một trong những phần huyền bí bậc nhất của phong thủy, ngoài khả năng dùng các biện pháp tác động trực tiếp tới trường khí của khu vực, người thầy phong thủy còn có khả năng giải quyết được các vấn đề thuộc thế giới vô hình (vong, cốt, các hình thái tạo năng lượng xấu…) đang tác động tới con người hoặc khu đất. Khả năng đó phụ thuộc chủ yếu vào công năng, quyền năng của phong thủy sư.


Hình: Hòn non bộ- có thể coi là một vật dụng trong trấn yểm phong thủy
LỜI KẾT
Đến giờ vẫn còn rất nhiều những quy luật khách quan tồn tại ngoài sự hiểu biết của chúng ta. Còn rất nhiều những hình thái tương tác tác nằm ngoài khả năng cảm nhận của con người. Nhưng bằng một các nào đó, bằng một con đường nào đó, mà những quy luật, những hình thái tương tác vẫn đã, đang và sẽ thể hiện sự tồn tại của chúng, trong đó có phong thủy. Rất có thể vào thời điểm khởi nguyên, Phong thủy được sinh ra từ một hệ thống lý luận thống nhất, hoàn chỉnh. Qua thời gian, giờ đây nó chỉ còn lại những mảnh vụn chắp vá rời rạc, thể hiện là những trường phái Phong thủy- tuy nhiều nhưng thiếu sự thống nhất như hiện nay.
Sự nhìn nhận phong thủy dưới góc độ là sự tương tác của các dòng năng lượng tới ngôi nhà, khu đất, cho mọi người cái nhìn tổng quan hơn về bản chất các trường phái phong thủy. Để rồi từ đó có thể hiểu rằng Phong thủy không phải chỉ là xem xét cảnh quan xung quanh, phương hướng, bố trí phòng ốc, thời vận, trấn yểm của ngôi nhà…mà là tổng hòa của tất cả các yếu tố đó. Tựu chung đó chính là sự tổng hòa các tương tác của những dòng năng lượng vốn hiện hữu xung quanh chúng ta. Chung quy, có thể nói, xem xét Phong thủy của một đối tượng chính là xem xét mức năng lượng hay trường khí của đối tượng đó và sự ảnh hưởng của chúng tới con người trong mối quan hệ hữu cơ con người và tự nhiên…
Có nắm bắt được những quy luật thì con người mới có thể vận dụng, cải tạo làm cho cuộc sống của mình ngày càng hoàn thiện, ngày càng tốt lên. Đó không chỉ là mong ước của…mà còn là mong ước của…


PHONG THỦY: TRUYỀN THUYẾT TỔ SƯ PHONG THỦY QUÁCH PHÁC

 Tuong dai su phong thuy Quach Phac[Xem phong thủy] - Với tất cả những người học và nghiên cứu phong thủy đều biết Đại sư Phong thủy Quách Phác là một trong những vị Tông sư về thuật phong thủy, ông đã để lại cho hậu thế những tuyệt tác phong thủy như “Táng thư” (coi mộ phần) và “Thuật tướng địa” (xem thế đất), nên được tôn xưng là tỵ tổ (tức ông tổ ngành địa lý).

Quách Phác không chỉ “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, Quách Phác còn là người duy nhất trong lịch sử phong thủy Trung Hoa, dự đoán chính xác ngày chết của mình…
Đại sư phong thủy Quách Phác:


Quách Phác (276 - 324 sau Công Nguyên) là một Văn Học Gia và Huấn Hỗ Gia (Chú giải các Kinh Điển) đời Đông Tấn. Ông tên chữ là Cảnh Thuần, người ở Văn Hỷ Hà Đông (nay thuộc Sơn Tây). Ông được xếp hàng đầu chuyên về Cổ Học Văn Kỳ Tự, Từ Phú, ông cũng có nghiều nghiên cứu về Âm Dương Thuật Toán Ngũ Hành cũng Bốc Phệ Dịch Kinh. Ông từng chú giải rất nhiều dinh điển quan trọng như Chu Dịch, Sơn Hải Kinh...


Quách Phác được hậu thế coi trọng là bậc Tổ Sư Khai Sơn của Học Thuật Phong Thủy, luận về Phong Thủy Học không thể không nói đến Quách Phác. Trong sách "Tấn Thư" nói về ông như sau "Phác chuyên học Kinh Thuật, sâu rộng có tài cao", "Giỏi về cổ văn kỳ tự, có hiểu biết sâu sắc về thuật toán âm dương ngũ hành", "Hiểu sâu sắc về bói Dịch và Ngũ Hành, chuyển họa tránh tai, thông biến vô cùng"...Tương truyền ông là người viết Táng Thư là người đầu tiên nói đến hai chữ Phong Thủy “葬者,乘生气也。经曰:气乘风而散,界水则止古人聚之使不散,行之使不散,行之使有止,故谓之风水” (Táng giả, thừa sinh Khí dã. Kinh viết: "Khí thừa Phong nhi Tán, giới Thủy tắc chỉ, cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ, cố vị chi Phong Thủy). Cũng theo truyền thuyết Thành Ôn Châu (Nay vẫn còn) là do Quách Phác lợi dụng địa thế tự nhiên sử dụng các gọn núi xếp thành hình sao Bắc Đẩu mà kiến thiết.


Nói đến Quách Phác tất không thể không nhắc đến bộ sách "Táng Thư" nổi tiếng của Ông. Trong bộ sách này lần đầu tiên các thuật ngữ về Phong Thủy Học đã được sử dụng như Sinh Khí, Tàng Phong, Đắc Thủy, Hình Thế, Tứ Linh, Phương Vị ...Sau này cho dù Phong Thủy Học đã phát triển thành nhiều môn nhiều phái, song các Tri Thức Căn Bản này đều được các Phái khai thác sử dụng rất nhiều.

Cuốn “Táng thư” hay còn gọi là “Táng kinh”, tách phong thủy khỏi tướng địa thuật truyền thống, giải thích cặn kẽ hàm nghĩa của hai từ phong thủy cũng như bàn rất kỹ về lý luận và thực tiễn của thuật phong thủy. Cuốn sách “Táng kinh” của Quách Phác chính là nền tảng cho sự phát triển của thuật phong thủy sau này. Vì vậy, người Trung Quốc lâu nay đều gọi Quách Phác là ông tổ của Phong Thủy Học.

Phong thuy hinh the

Phong Thủy Học của Quách Cảnh Thuần Tiên Sinh không chỉ là một bộ môn học thuật đơn thuần, cao hơn nữa nó chân chính là một Triết Lý Nhân Sinh về Hiếu Tâm (Lòng Hiếu Nghĩa) của con người. "Cho nên Danh Mộ trong thiên hạ đều ở tại chỗ đó. Đều là Chân Long phát tích, xa xa trăm dặm, hoặc hơn mười dặm mà kết Một Huyệt, tại chỗ Kết Huyệt là Núi bọc vòng vòng bảo vệ nâng đỡ, nước chảy quang co nuôi dưỡng, tầng tầng lớp lớp, sa thủy tụ tập, nương tựa trước sau. Hình thành một Huyệt tất là do tinh anh sông núi, ngưng kết dung hội mới thành được. Muốn lấy được cái Tinh Anh đất trời đó, lấy di cốt cha mẹ mà táng tại nới đó, gửi gắm cả tương lai con cháu chỗ ấy, cho nên cũng là chỗ ký thác Tâm vậy. Ký thác Tâm ấy nên có cảm thông, tạo phúc cho hậu thế. Là Tâm của người có Trí Tuệ thông chỗ Khí, Khí lại thông với Trời, lấy cái Linh của Tâm người thông với cái Linh của Đất Trời Càn Khôn, giáng Thần dục Tú, là hợp lại nguồn sinh tức....Bởi vậy Tung Sơn xuất hai Đại Thừa Tướng, núi Ni Khâu sinh ra Đức Khổng Tử, nào phải ngẫu nhiên đâu ?! chẳng phải chôn xương cốt đâu, là chôn Tâm Người đó vậy."...
Những truyền thuyết về Đại sư phong thủy Quách Phác:


Chuyện kể rằng, khi mọi người định ở tại bờ bắc của sông mà kiến thiết thành mới, cho mời Quách Phác điểm đất, ông đi thuyền qua bờ bắc xem đất, nhận thấy đất nơi ấy quá nhẹ, không để xây thành được, mới đi qua bên này sông, trèo lên dãy núi phía Tây Bắc, xem thấy các ngọn núi hình thành nên một chuỗi tựa hình sao Bắc Đẩu, Hoa Cái Sơn khóa ngay cửa khẩu, liền nói với mọi người: "Nếu kiến thiết Thành mới ở phía ngoài núi, có thể tụ được Phú Quý, song e có nhiều họa chiến tranh, nếu kiến thiết Thành ở trong núi, có thể giữ được sự an định lâu dài" do đó mọi người đồng lòng kiến thiết Thành Ôn Châu dựa vào trong núi. Chỗ núi mà Quách Phác leo lên quan sát từ đó có tên là Quách Công Sơn, để lưu dấu công tích một vị Đại Sư về Học Thuật Phong Thủy.

Ở thời phong kiến Trung Quốc, bọn đào trộm mộ bị người ta cực kỳ khinh khét, đặc biệt là các bậc vua chúa. Thế nhưng, các thầy phong thủy thì khác hẳn. Với các bậc đế vương, thầy phong thủy được coi như những vị thánh sống, có thể biết chuyện quá khứ, dự đoán tương lai.

Thời bấy giờ, người ta quan niệm rằng, giang sơn của đế vương có thể được ngàn đời hay không, không chỉ phụ thuộc vào tài năng và quyền lực của ông ta mà còn phụ thuộc vào việc có chiếm được một long huyệt cực đẹp về phong thủy hay không. Tìm kiếm long huyệt là một việc không dễ dàng chút nào, những người bình thường không thể làm được. Các thầy phong thủy được sinh ra để giải quyết những việc này. Do vậy, trước sau họ luôn có những “chức vụ quan trọng” thực sự của các đế vương.

Sách “Thái Bình Quảng ký” chép về Quách rằng: “Quách là người uyên bác, biết hết thiên văn, địa lý, các sách bói toán, bốc dịch cho tới phong thủy, biết được cả chuyện quỷ thần, không nghề nào là không giỏi”. Trong sách này, Quách Phác được miêu tả thành một kẻ nửa thần nửa người, nửa âm, nửa dương, không chỉ biết được tất cả mọi việc trong thiên hạ mà còn biết cả chuyện cõi âm.

Không chỉ trong sử sách, trong dân gian cũng lưu truyền không ít những câu chuyện liên quan tới khả năng siêu phàm của Quách Phác.

Những ghi chép vốn đã nhuốm màu sắc hoang đường, nay lại một lần nữa được bồi tụ bởi những truyền thuyết trong dân gian khiến Quách Phác càng trở nên “xuất thần nhập hóa”.
Nhiều tài:

hinh dai su phong thuy Quach PhacKhi Quách Phác còn chưa nổi tiếng, mẹ của Quách qua đời, Quách chọn một mảnh đất rất bình thường an táng cho mẹ. Mảnh đất này nằm các rất gần nguồn nước, do vậy mỗi khi tới mùa, trời mưa là ngôi mộ lại bị chìm trong nước.

Khi đó, các thầy phong thủy đều nói rằng, phong thủy của mảnh đất mà Quách chọn quá dở. Tuy nhiên, Quách Phác không hề để ý, tiếp tục kiên trì ý kiến của mình.

Rất kỳ quái là chỉ vài năm sau, do phù sa bồi đắp, nơi đặt mộ của mẹ Quách không những không bị nước nhấn chìm, mà xung quanh ngôi mộ còn hình thành một ruộng dâu tươi tốt. Sự kiện này sau đó đã khiến tên tuổi Quách Phác trở nên nổi tiếng. Nhiều người từ những nơi rất xa cũng lặn lội tới tìm Quách nhờ xem mộ.

Lúc bấy giờ Tấn Nguyên Đế cũng là người thích phong thủy, nghe tiếng Quách Phác có biệt tài tìm đất đặt mộ đặc biệt linh nghiệm, do vậy, Tấn Nguyên Đế liền tự mình đi xem những mộ huyệt mà Quách Phác đã chọn.

Một lần, trên một sườn núi, Tấn Nguyên Đế gặp một người nông dân đang đào mộ ở một mảnh đất có địa thế rất đẹp, đương thời gọi là long giác vì vậy mới tới chỗ của người nông dân hỏi: “Vì sao ông lại tìm được mảnh đất này để đặt mộ?”.

Người nông dân trả lời: “Đây là do Quách Phác tiên sinh chỉ cho tôi. Ông ấy nói, nếu như chôn ở chỗ này thì không tới 3 năm tôi sẽ có thể gặp được thiên tử”.

Tấn Nguyên Đế nghĩ tên nông dân này to gan mới hỏi: “Ngươi định chôn ở đây để trong nhà sinh ra một thiên tử phải không?” Người nông dân cười nói: “Không phải là nhà tôi sinh ra thiên tử mà là có thể thiên tử sẽ tới đây mà thôi”.

Vậy là rõ, chính Tấn Nguyên Đế là thiên tử và ông ta đang đứng ở ngay trước mặt người nông dân chứ ai. Nghĩ vậy, Tấn Nguyên Đế rất lấy làm khâm phục Quách Phác và quyết định gặp mặt cho bằng được thầy phong thủy họ Quách này để nhờ ông ta tìm cho mình một ngôi mộ những mong đế vị có thể truyền tới vạn đời.

Việc Quách Phác có tìm được đất đặt mộ như ý muốn của Tấn Nguyên Đế hay không thì không thấy sử sách nào ghi chép. Tuy nhiên, sử sách cũng có ghi lại một câu chuyện về việc Quách Phác tìm mộ cho một viên quan họ Trương, tên Dụ.

Trong sách “Nam Sử” phần Trương Dụ chuyện có kể rằng, khi cố nội Trương Dụ qua đời, người ta có mời Quách Phác xem phong thủy và chọn nơi đặt mộ.

Quách Phác tìm kiếm một hồi thì tìm được hai vị trí tốt để Trương Dụ lựa chọn và nói: “Nếu như chôn ở huyệt mộ thứ nhất thì ông có thể sống tới trăm tuổi, làm quan tới tam tư (tức các chức Đại Tư Mã, Tư Đồ, Tư Không, các chức quan hàng đầu trong triều đình phong kiến thời Hán) nhưng con cháu lại không hưng vượng.

Nếu như chôn ở vị trí thứ hai thì tuổi thọ của ông sẽ giảm đi một nửa, quan vị cũng thấp hơn song tôn tử lại sẽ rất hưng vượng, giàu sang, phú quý”.

Trương Dụ nghe xong, chẳng cần phải suy nghĩ, lựa chọn huyệt mộ thứ hai vì cho rằng, con cháu được giàu sang phú quý vẫn là điều quan trọng hơn cả. Sự thực sau đó diễn ra đúng như Quách Phác đã nói. Trương Dụ chết khi tuổi mới quá 40, thế nhưng con cháu Trương Dụ thì lại làm quan rất to và vô cùng giàu có.

Một câu chuyện khác lại kể rằng, lúc bấy giờ ở Dương Châu có một viên quan tên là Cố Cầu. Chị của Cầu bị bệnh đã hơn 40 năm mà vẫn nằm trên giường không khỏi. Khi nghe tiếng của Quách, Cố Cầu đã tìm tới nhờ Quách bốc cho mình một quẻ xem vì sao bệnh tình của chị mình lâu thế vẫn chưa khỏi.

Quách đồng ý bốc cho Cầu một quẻ. Sau khi bốc quẻ, Quách nói: “Tổ tiên nhà họ Cố trước đây từng giết một con rắn thần, do vậy phần mộ tổ tiên không được yên nên mới sinh bệnh tật ở con cháu”.

Cố Cầu sau đó về tra cứu lại gia phả thì quả thực có chuyện đó từng xảy ra. Sau đó, Cố Cầu đã vội làm lễ tạ tội với linh xà thì bệnh của người chị lập tức khỏi ngay.
Và cũng lắm tật:

Quách Phác là một thầy phong thủy có tài, tuy nhiên, tật cũng nhiều không kém. Sách “Sưu thần ký” có chép một câu chuyện về Quách như rằng, khi Quách hãy còn chưa nổi tiếng, từng có thời gian phụ việc cho quan thái thú Lô Giang là Hồ Mạnh Khang.

Trong thời gian này, Quách Phác để mắt tới một người hầu gái trong phủ họ Hồ, tuy nhiên, do khi đó chưa địa vị, lại cũng chẳng có tiền nên không biết làm thế nào để lấy được người mình yêu.

Cuối cùng, Quách Phác nghĩ ra một kế. Đêm hôm đó, Quách dùng đậu đỏ rắc xung quanh nhà họ Hồ.

Sáng sớm hôm sau, Hồ Mạnh Khang tỉnh dậy muộn, đột nhiên phát hiện ra xung quanh nhà như có hàng ngàn người mặc áo đỏ vây quanh.

Tới khi chạy tới gần xem thì những người ấy hoàn toàn biến mất. Cứ như vậy lặp đi lặp lại nhiều ngày, Hồ Mạnh Khang cảm thấy có điều gì đó bất thường nên đem chuyện này nói với Quách Phác.

Chỉ đợi tới lúc đó, Quách Phác mới nói: “Trong nhà ông có một nữ nô tì mệnh tương khắc với căn nhà này. Vì vậy, muốn tránh tà mà đến như vậy, chỉ còn cách đem nô tì này ra bán ở cách nhà 20 dặm, giá bán phải rẻ thì mới có thể hóa dữ thành lành được”.

Hồ Mạnh Khang tin Quách Phác nói thật, vội vã đem cô nô tì nọ ra bán. Quách Phác đã bố trí người từ trước, đứng sẵn ở đó để đợi mua cô nô tì với giá rẻ.

Hồ Mạnh Khang không những không biết Quách Phác làm trò với mình, thậm chí còn rất cảm kích Quách Phác, khắp nơi truyền tụng Quách Phác là một thầy phong thủy cao tay.

Tuy nhiên, người ta thường nói, đi đêm thì cũng có ngày gặp ma, Quách Phác cuối cùng đã gặp nạn vì nữ sắc. Quách có một người bạn thân tên là Hoàn Di. Do là chỗ bạn thân, nên Hoàn Di thường tùy tiện vào nhà của Quách mà chẳng đánh tiếng. Lần nào Hoàn Di mở cửa vào nhà của Quách Phác, cũng gặp lúc Quách đang vui đùa với tình nhân.

Để hạn chế những tình huống trớ trêu ấy, Quách Phác nói với Hoàn Di rằng: “Hoàn Di à, mỗi lần ông tới đều có thể đi thẳng vào trong nhà tôi, không cần nể nang gì. Tuy nhiên, tuyệt đối không được vào nhà vệ sinh tìm tôi, nếu không chúng ta sẽ gặp đại họa”. Hoàn Di nghe xong rồi để đó chứ không quan tâm tới Quách Phác nói gì.

Một hôm, sau khi uống say, Hoàn Di tới nhà Quách Phác, vào nhà không thấy Quách Phác đâu, Hoàn Di đi thẳng vào nhà vệ sinh để tìm.

Chỉ thấy trong nhà vệ sinh, Quách Phác đang cởi trần, tóc tai rũ rượi, miệng ngậm dao tế lễ, chẳng biết là đang tu luyện hay làm phép. Quách Phác nhìn thầy Hoàn Di thất kinh nói: “Hai chúng ta chết tới nơi rồi!”.

Quả thực, ít lâu sau, Vương Đội định mưu phản mới lệnh cho Quách Phác tới xem việc mưu phản có thành công không.

Quách Phác bốc quẻ nói quẻ không tốt. Vương Đội tức giận, nghĩ rằng, việc chưa bắt đầu đã bị Quách Phác làm cho đen đủi nên tức giận ra lệnh giết chết Quách Phác.

Chúng ta đã biết hiện có rất nhiều trường phái Phong Thủy khác nhau, trong đó phải kể đến các trường phái chủ yếu là Bát Trạch Minh Cảnh, phái Huyền Không, Dương Trạch Tam Yếu và phái Huyền Thuật. Mỗi trường phái có một lý thuyết căn bản và ứng dụng cho...
Bài trí Phong Thủy khác nhau.
Tuy nhiên, đều căn cứ từ Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên bát Quái làm lý thuyết căn bản nhất để suy ra các vận dụng riêng rẽ cho Phong Thuỷ.
Trong thực tế áp dụng, thật rất khó nhất là cho những người mới bắt đầu nhập môn Phong Thủy khi phải lựa chọn một trường phái Phong Thủy cho ngôi nhà mà bạn đang xem xét. Vậy nên hiểu, lý giải và ứng dụng thế nào để đảm bảo tính chính xác, tránh mơ hồ dễ gây nên sai lệch khi ứng dụng thuyết Phong Thủy ?

http://nhadatvanminh.com.vn/data/images/news/news_20081216110736.jpg

Để trả lời câu hỏi đó cần nhắc lại rằng, theo triết học Phương Đông thì tất cả mọi việc trên đời đều lấy nguyên lý Thiên - Địa - Nhân làm chuẩn. Theo nguyên lý này thì con người là sản phẩm điển hình nhất của Thiên - Địa, con người luôn là trung tâm của vũ trụ. Sống trên đời, con người luôn hoà hợp với Thiên, Địa, đó là bản chất của việc cầu lành tránh dữ, đem lại hạnh phúc mà may mắn cho con người. Thiên - Nhân tương hợp thì phúc đến, ngược lại thì mang lại nhiều rủi ro.
Nói một cách khác, con người phải hoà hợp với thiên nhiên, trời đất thì mới trường tồn và hạnh phúc.Các trường phái khác nhau có những căn bản suy luận khác nhau để ứng dụng vào Phong Thuỷ. ta đi cụ thể hơn như sau :
+ Phái Bát Trạch dùng mệnh cung phối với hướng để xác định hoạ phúc. Như vậy, đó là sự xác định Thiên Khí phối hợp với Nhân khí để đem lại sự hoà hợp. Đó là nguyên lý Thiên - Nhân tương hợp.
+ Phái Huyền Không căn cứ sự luân chuyển của các luồng khí trong vũ trụ mà cụ thể là sự vận hành các Phi Tinh trên địa bàn để xác định hoạ phúc chi phối mọi vật trên trái đất. Đó chính là sự nghiên cứu các quy luật vận động vũ trụ, sự phối hợp giữa Thiên Khí và Địa Khí để xác định hoạ phúc. Đó là nguyên lý Thiên - Địa tương phối. Tuy nhiên phái này xem nhẹ ảnh hưởng của Thiên Địa khí đến yếu tố Nhân tức bản thân con người. Xem ra quyền lực của Thiên - Địa có vai trò tuyệt đối lớn.
+ Các phái khác chủ yếu nghiên cứu sự vận hành của Địa Khí (như một số phái Huyền thuật chuyên nghiên cứu các huyệt vị và âm phầm) và một số yếu tố Nhân vận dụng vào cải biến Phong Thủy (Dương trạch Tam Yếu).
Tựu trung lại, Phong Thủy cũng như các môn khoa học huyền bí khác đều có đặc điểm dễ học nhưng rất khó tinh tường, dễ sai lệch, đòi hỏi kinh nghiệm rất tốt mới có thể đem khả năng ra giúp đời, giúp người. Nhiều khi sách vở chỉ là căn bản, cần biết vận dụng phối hợp các lý thuyết, các trường phái chi hiệu quả. Có như vậy mới mong ứng dụng Phong Thủy được tốt đẹp cho cuộc sống.

Các Tổ Sư Phong Thủy Tam Nguyên Thực Hành ra sao?
Từ khi Thẩm Trúc Nhưng viết ra bộ Trạch Vận Tân Án và Thẩm Thị Huyền Không Học, trường phái Huyền Không đã được giới học thuật phong thủy biết đến nhiều như là một ngành học bí truyền giờ mới được khám phá. Tuy Thẩm Trúc Nhưng bằng bộ óc thông minh hơn người đã khám phá ra những nguyên lý của Phong Thủy Huyền Không nhưng ông lại không biết cách những người làm phong thủy Tam Nguyên thực hành ra sao nên sau đó người đời lại áp dụng Phong Thủy Huyền Không không đúng cách dẫn đến họ nói rằng HKPT có khi bị sai. Bạn cần lưu ý những điềm sau:

1.      Người thực hành phong thủy Tam Nguyên Cổ Điển chỉ cần 3 bước:
a.       Đo hướng
b.      Quan sát bên ngoài
c.       Bước vào nhà là có thể nói ngay cho gia chủ biết nhà này tốt xấu ra sao; cần chỉnh sửa những điểm nào a,b, c, d….để cho tốt.

2.      Người thực hành theo Thẩm Trúc Nhưng phải làm như sau:
a.       Quan sát bên ngoài
b.      Đo kích thước nhà và vẽ định tâm nhà
c.       Đo hướng nhà
d.      Vẽ sơ đồ khái quát các phòng, các vị trí quan trọng: bếp, cầu thang, phòng ngủ, giường….
e.       Áp sơ đồ và tính toán tinh bàn, phân cung, an sao….
f.       Kết luận sự tốt xấu của căn nhà

            Lưu ý một điều rất quan trọng là người thực hành Tam Nguyên không có bước đo đạc, định tâm nhà, vẽ sơ đồ, áp tinh bàn lên. Những bước này là cực kỳ quan trọng nếu bạn thực hành theo HKPT của Thẩm Tiên Sinh.

Cụ Thẩm có thể phát hiện ra nguyên lý, lý thuyết về HKPT nhưng trong sách của Chương Trọng Sơn lại không có nói về cách thực hành, khảo sát phong thủy tại hiện trường ra sao nên phần thực hành (nếu có) trong sách của Thẩm Tiên Sinh là viết theo cách của phái Tam Hợp làm mà thôi.
Viết những dòng này không phải là tôi có ý khoe khoang gì nhưng rõ ràng phần thực hành HKPT không được các sách vở cổ điển đề cập đến nên người thực hành đời sau gặp không ít khó khăn: một trong những khó khăn rất lớn là: Tâm nhà ở đâu? Phân sao theo cửu cung hay bát cung? Đừng coi thường 2 câu hỏi này; dù bạn làm việc phong thủy kinh nghiệm bao nhiêu năm, những điều tường chừng như quá cơ bản này sẽ làm hại bạn nếu bạn thật sự không nắm rõ nguyên lý.

Phong Thủy và Phật Giáo thời Mạt Pháp




Ngày xưa trong khung cảnh xã hội phong kiến, nặng nề Nho Giáo, Đạo Giáo, người ở các làng quê, vùng nông thôn thường ít chữ nghĩa nên dễ sinh mê tín dị đoan. Bất cứ việc gì xảy ra xấu là họ hay tìm đến thầy bói, thầy cúng....để gieo quẻ, dâng sao giải hạn...



Phật Giáo do Đức Phật Thích Ca sáng lập ra với mục đích là giáo độ chúng sinh, tu tập thân tâm, làm lành lánh dữ để được vãng sanh cực lạc. Trong kinh kệ để lại không hề có dòng nào nói là Đức Phật khuyến khích việc các sư thầy xem bói, xem tướng, tử vi hay phong thủy. Là vì Đạo Phật không tin vào những chuyện may rủi mà quan niệm tất cả là do nghiệp lực quá khứ, do Nhận và Quả của muôn vạn kiếp; đã gieo Nhân xấu thì nhận Quả xấu; làm sao cúng kiến mà có thể thay đổi được. Đức Phật có nói đại ý trong Kinh Trung Bộ (mình không nhớ chính xác nên không trích nguyên văn): Không có ngày nào tốt, tháng nào tốt. Tất cả ngày tháng nào cũng là tốt nếu tâm tốt.



Việc các sư thầy xem ngày giờ tốt mình nghĩ chỉ nên là phương tiện để thông qua đó các sư thầy giáo huấn, dẫn dắt chúng sinh vào tu tập Phật Pháp để cho chúng sinh không đi lạc vào những thầy phù thủy tâm ác hù dọa, làm việc xấu cho gia chủ. Ngày xưa khi học vấn dân trí còn thấp thì các sư có thể làm chuyện đó để hoằng pháp, ngày nay khi Internet, tri thức đã phát triển thì các sư; nhất là các sư ở thành phố không nên làm những chuyện như vậy nữa; vì làm điều đó thì ngày càng xa rời Phật Pháp Nguyên Thủy, làm sai những gì Đức Phật căn dặn. Dù cho là tu bất kỳ Pháp Môn nào hay Tông nào: Mật, Bắc hay Nam; Đại Thừa hay Tiểu Thừa thì cũng không nên tiếp tục làm những chuyện như vậy. Ngày nay Phật Tử muốn tiếp cận giáo lý Đạo Phật thì đã có thừa điều kiện lên Internet, Google, Youtube xem các bài giảng, nghe các bài kinh, nhạc Phật....;người nào chỉ muốn biết phong thủy, ngày giờ tốt thì đã có đầy các trang web phongthuy, đâu còn thiếu thốn như xưa mà phải mượn phương tiện để hoằng pháp?



1. Việc những ngôi chùa tổ chức cúng sao, giải hạn hàng năm; lại còn in bảng Sao Hạn theo từng tuổi cho Phật Tử xem hay phát tờ Tử Vi Đầu Năm....tại chùa thì có đúng đắn hay không? Tại sao năm này thì tất cả mọi người tuổi đó đều phạm Huỳnh Tuyền? Thái Âm? đều bị tốt hay xấu như nhau? Không phải là tốt hay xấu do chính họ gieo Nhân hay sao?



2. Việc những nhà sư nhận đi cúng nhập trạch, cúng đất đai, cúng giải xung khắc tuổi vợ chồng là có đúng hay không? Họ làm những nghi lễ này theo cách nào? Nhất là khi chi phí cho những chuyện này theo mình biết là cũng không hề rẻ chút nào, ít thì 10, nhiều thì 20-30 triệu/lần (giá cả trong Nam ngoài Bắc mình đều biết rõ do gặp nhiều gia chủ kể lại)



3. Những nhà sư không được chân truyền các môn trạch nhật, phong thủy, tử vi mà chỉ đọc dăm cuốn sách thì có đảm bảo xem đúng hay không; nhất là khi họ xem phong thủy tại chỗ thông qua lời kể, bản vẽ của Phật Tử chứ không hề đến tận nơi xem? Nếu xem không đúng thì có phải nhà sư tự mình tạo nghiệp không?



4. Lời Phật dạy về tu tập tự mình giải thoát, Nhân Quả không phải quá mâu thuẫn với những môn học thuật Đông Phương hay sao?



Thời đại đã thay đổi. Phật Giáo vào thời mạt pháp này chỉ nên tập trung tu tập, hoằng pháp mà thôi. Đó mới là quay lại với tôn chỉ đúng đắn duy nhất của đạo Phật, tu tập để giải thoát!

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.