bài viết trong chuyên mục "phật giáo"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy 2022 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn phật giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Tượng Phật Quan Âm: Vật phẩm phong thủy giúp tâm thanh tịnh, xa lìa xấu ác, gạt bỏ si mê

Tượng Phật Quan Âm không chỉ có ý nghĩa to lớn trong Phật Giáo mà còn là một vật phẩm phong thủy mang đến bản tâm thanh tịnh, sáng suốt cho mỗi chúng ta.


tuong phat quan am
 

Tượng phật Quan Âm chính là ý nghĩa của bản tâm thanh tịnh sáng suốt của mỗi chúng sinh. Thờ Phật, lễ Phật, trước hết là tôn quý bản tính thanh tịnh sáng suốt nơi chính mình.

Trong tiềm thức của người dân Việt, Phật Quan Âm là hiện thân của những điều tốt lành nên Phật Quan Âm luôn được người Việt tôn kính và thờ phụng.

Tượng Phật Quan Âm xuất hiện trong hầu hết các chùa chiền và cũng được trưng bày trong nhiều gia đình với mong muốn được ban phước lành, an khang thịnh vượng và gặp nhiều may mắn.

Xem thêm: Phân biệt Phật Thích Ca và Phật A Di Đà để không nhầm lẫn


1. Hình tượng Phật Quan Âm 

1.1. Phật Quan Âm là ai?


Trong lịch sử, văn học, hay trong kinh sách nhà  Phật, Phật Quan Âm được xem là vị Bồ Tát có sức mạnh nhất, chỉ sau Phật Tổ.

Quan Âm là vị Bồ Tát phổ độ chúng sinh và là Bồ Tát tượng trưng cho tinh thần của Phật giáo Đại thừa, luôn giúp đỡ và giác ngộ người khác. Điều này càng làm tăng lòng sùng kính của người theo đạo Phật đối với Quán Âm.

Thông thường ở các ngôi chùa, tượng đức Phật Tổ hay được bài trí ở giữa, tượng Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát nằm 2 bên.

Còn phía ngoài khuôn viên chùa đa phần đều được bài trí tượng đức Phật Tổ hay Quán Thế Âm mà không thấy hay ít thấy hơn tượng của những vị Phật hay Bồ Tát khác.
 

tuong phat quan am - phat quan am la ai
 
1.2. Nguồn gốc của danh xưng Quan Âm 
 

Quan Thế Âm hay Quán Thế Âm, Quan Âm đều là danh xưng xuất phát từ một truyền thuyết nhà Phật, tin rằng những người đã tu thành chính quả sẽ đạt tới cảnh giới ngũ giác đồng quy tức là cả năm giác quan hòa vào làm một.

Họ biết dùng tai để “thấy” hình ảnh, dùng “mắt” để nghe âm thanh, dùng lưỡi để “ngửi” mùi hương,….

Quan Âm Bồ Tát có nghĩa là vị Đại sĩ luôn “nhìn” thấy “cảm” thấy, “nghe” thấy tiếng ai oán khổ đau thầm kín nhất của chúng sinh và sẵn sàng cứu giúp, độ pháp khi cần.

Người dùng sự thần thông quảng đại của mình để đưa chúng sinh tai qua nạn khỏi, vượt ngàn tai ách.

1.3. Hình tượng Phật Quan Âm được khắc họa ra sao?


Theo kinh Phật, Quan Âm Bồ Tát là nam hay nữ? Tượng Quan Âm thường được khắc họa là một người phụ nữ có gương mặt hòa ái nhưng trên thực tế, Phật giáo không phân biệt nam nữ. Người đại diện cho sự từ tâm, xuất hiện để trợ giúp khổ nạn nên khi có tạo hình là nam, khi lại có tạo hình là nữ.


Với mỗi hoàn cảnh cụ thể, Người sẽ hiện lên với tạo hình khác nhau để cho người được cứu giúp cảm thấy tin tưởng nhất, gần gũi nhất.

Thông thường, đối tượng phụ nữ, trẻ nhỏ hayyếu đuối và cần giúp đỡ nhiều hơn nên hình tượng Quan Âm theo đó cũng hướng về nữ giới – người mẹ hiền từ. Vì thế mà không ít người hiểu lầm Quan Âm Bồ Tát là phụ nữ.


Các tạo hình Quan Âm thường thấy là:

Quan Âm tống tử: Quan Âm trên tay bế một đứa bé, mang ý nghĩa cầu con. Muốn SINH CON NHƯ SỞ NGUYỆN, hãy mua ngay Tượng Quan Âm Tống Tử


phat ba nhin mat nghin tay
Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay


Quan Âm nghìn mắt nghìn tay: 
Thấu hiểu cõi trần, nghe thấy tiếng lòng của muôn vạn chúng sinh


quan am bo tat
Quan Âm ngồi trên đài sen, tay cầm bình Cam Lồ và Cành Liễu


Quan Âm ngồi trên đài sen, tay cầm bình nước Cam Lồ, tay cầm cành liễu: D
ùng sự tinh khiết của đất trời cứu vớt, giác ngộ chúng sinh

Ngoài ra còn rất nhiều hình tượng khác như Quan Âm cưỡi mây, Quan Âm cưỡi rồng, Quan Âm cứu nạn trên biển,….

Quan Âm trong cách phổ độ chúng sinh, biểu thị cho sức mạnh của lòng từ bi mà Người sở hữu. Sức mạnh này cũng là tinh thần cao nhất của Phật giáo: từ bi và giác ngộ - Từ bi với vạn vật và tìm cách giác ngộ vạn vật.

Hình tượng Quan Âm pháp lực vô biên vừa cao xa, thần bí nhưng cũng hết sức chân thật và ấm á, tồn tại trong đời sống tâm linh của người Việt từ bao đời nay nên luôn được người dân kính ngưỡng và tôn sùng. 


2. 
 Ý nghĩa tượng Phật Quan Âm trong phong thủy


Theo quan điểm phong thủy, Quan Thế Âm là người có tâm địa lương thiện, yêu thương tất cả nhân loại, không chấp nhận mọi người đối xử với mình ra sao, không để tâm, không oán thù, luôn vị tha, bao dung cho tất cả tội lỗi, luôn lắng nghe, chia sẻ nỗi khổ đau cho nhân loại.

Vì vậy, Tượng Phật Quan Thế Âm luôn là biểu tượng của sự bình an, lòng thánh thiên, bác ái, hướng phật, đem tới sự may mắn cho gia chủ.


2.1. Giúp tâm thanh tịnh


Hình tượng Phật, dù đứng hay ngồi, Phật Quan Âm hay Phật tổ Như Lai đều có công năng nhiếp hóa độ sinh, khiến cho thân tâm của mỗi chúng sinh khi lễ bái, chiêm ngưỡng thân tướng của Người.

Hình tượng Phật khởi được niệm lành, xa lìa xấu ác, gạt bỏ si mê; dần nuôi lớn tâm từ bi, đức hỷ xả, tính vị tha; từng bước giúp tâm ta trong sáng thiện lương mà ăn ở với đời, sáng suốt trong mọi toan tính của cuộc sống. An lạc, hạnh phúc có được từ đó, ngay trong hiện tại.


2.2. Mang đến may mắn, sức khoẻ cho gia đình


Hình ảnh Phật QuanThế Âm Bồ được khắc họa với gương mặt hiền từ, nhân hậu giúp mang đến những nguồn năng lượng tích cực cho chủ nhân sở hữu, nhờ đó, bản mệnh sẽ gặp may mắn trong công việc cũng như cuộc sống.

Sức khỏe của mọi thành viên trong gia đình cũng được cải thiện khi ngắm nhìn tượng Người mỗi ngày, tâm niệm an nhiên theo những suy nghĩ tích cực, tươi đẹp về cuộc sống. Khi tâm an yên, thoải mái thì sức khỏe cũng tốt hơn.

2.3. Làm đẹp không gian, kích hoạt năng lượng tốt

Thờ Phật Quan Âm tại nhà thể hiện nét đẹp văn hoá dân tộc, đời sống tâm linh người Việt. Những bức tượng được điêu khắc tinh xảo, tạo không gian đẹp cho ngôi nhà.

Bài trí tượng Phật trong nhà, đa phần mọi người có ước muốn để cầu bình an, loại trừ các điều rủi ro, đau khổ, thể hiện lòng thành kính hướng phật. Tuy nhiên, bạn Chớ nên mua tượng Phật khi chưa biết những điều này.


4. Cách bài trí Tượng Phật Quan Thế Âm mang may mắn, cát lành cho gia chủ


bai tri tuong phat quan am
 

4.1. Bài trí


Cũng giống như các pho tượng phong thuỷ khác, vị trí đặt tượng Phật Quan Âm luôn được coi trọng. Để việc thờ cúng Phật Quan Âm mang đến may mắn tài lộc cho gia đình, gia chủ nên tìm hiểu kĩ cách đặt tượng Quan Âm Bồ Tát đúng phong thuỷ. 


Trước khi thỉnh Phật Bà Quan Âm về nhà, gia chủ nên chuẩn bị thật kĩ nơi đặt và bàn thờ để đặt tượng.

Bài trí lư hương, chén nước, bình hoa, hoa quả sạch sẽ và trang nghiêm.

Khi chọn mua tượng Phật Bà Quan Âm Bồ Tát nên chọn nơi uy tín, sau khi mua có thể mang thẳng về nhà.

Do Phật Quan Âm là vị Phật địa diện cho sự thanh khiết, thanh tịnh và chỉ nên thờ cúng riêng, không nên đặt cùng các tượng Thần Phật khác, sẽ làm giảm sự tôn nghiêm cũng như tác dụng phong thủy của vật phẩm này.


Vị trí đặt bàn thờ tượng Quan Âm Bồ Tát:

+ Nên đặt nơi thật nghiêm trang và hợp lý.

+ Tốt nhất là nên đặt tại giữa nhà, để có thể bày  tỏ lòng thành kính của mình đối với Đức Phật từ bi.


+ Nên đặt tượng ở vị trí cao, trang trọng, hướng thẳng ra cửa chính.

Có thể bạn quan tâm:  Đeo tượng Phật trên người: Nên hay không, liệu có bị coi là phạm kỵ?


4.2. Những kiêng kị khi dùng Tượng Phật Quán Thế Âm


Tối kỵ đặt tượng Quan âm cùng các tượng thần khác bởi Quan âm vốn ăn chay nên nếu cúng cùng các tượng Thần khác sẽ không tốt khi cúng đồ mặn.

Về hướng đặt tượng Quan Âm Bồ Tát đúng phong thủy thì phải tránh tuyệt đối không được quay mặt tượng vào tường hoặc hướng về các nơi riêng tư như nhà vệ sinh, cửa phòng ngủ, bàn ăn. 


tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829


Tìm hiểu về “chín phương trời; mười phương phật”

A/. Chín phương trời :

Hiểu theo dân gian Việt Nam gồm có Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông
Bắc, Tây Nam, Tây Bắc và trung ương.



Người Trung Quốc cổ đại gọi chín phương trời là cửu dã   hay cửu thiên   bao gồm trung ương và tám phương hướng – tức là tứ chính   (bốn hướng chính: Đông, Tây, Nam, Bắc) và tứ ngung  (bốn góc: Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc).


Theo sách Lã Thị Xuân Thu (chương Hữu thủy lãm) đời nhà Tần, chín phương trời có tên gọi và vị trí như sau:

(1) Ở trung ương gọi là Quân Thiên   (quân: đều đặn, quân bình);

(2) Phương Đông là Thương Thiên   (thương: màu xanh biếc);

(3) Phương Đông Bắc là Biến Thiên   (biến: thay đổi);

(4) Phương Bắc là Huyền Thiên   (huyền: màu đen huyền);

(5) Phương Tây Bắc là U Thiên   (u: tối tăm, kín đáo, sâu xa);

(6) Phương Tây là Hạo Thiên   (hạo: sáng trắng);

(7) Phương Tây Nam là Chu Thiên   (chu: màu đỏ như son);

(8) Phương Nam là Viêm Thiên   (viêm: nóng, ngọn lửa);

(9) Phương Đông Nam là Dương Thiên   (dương: trái với âm).

Sang đời Hán, sách Hoài Nam Tử (chương Thiên văn) giải thích gần giống Lã Thị Xuân Thu, chỉ thay khác nhau hai điểm: phương Đông Bắc là Mân Thiên   (mân: bầu trời); phương Tây là Hạo Thiên  (hạo: sáng trắng; chữ Hán viết khác với Lã Thị Xuân Thu).

Sách Quảng nhã (chương Thích thiên) giải thích cũng hơi khác: Phương Đông là Hạo Thiên  (hạo: rộng rãi, lồng lộng; chữ Hán viết khác với Lã Thị Xuân Thu và Hoài Nam Tử), phương Tây là Xích Thiên  (xích: màu đỏ). Các phương còn lại thì cũng giống giải thích của hai sách trên.

Sách Thái huyền kinh của Dương Hùng chỉ liệt kê chín tầng trời (cửu thiên) là: Trung Thiên  (Trung: ở giữa); Tiện Thiên   (tiện: dư thừa); Đồ Thiên  (đồ: không có); Phạt Canh Thiên  (phạt: hình phạt; canh: thay đổi); Tối Thiên  (tối: trọn một năm); Quách Thiên  (quách: tường thành bọc phía ngoài); Hàm Thiên  (hàm: bao gồm tất cả); Trị Thiên  (trị: sửa sang, cai trị); và Thành Thiên  (thành: thành tựu, làm xong).

Thay vì nói chín phương trời, đạo Lão quan niệm có chín tầng trời và gọi là: cửu trùng, cửu giai, cửu tiêu, cửu thiên. Một thuyết cho rằng chín tầng trời là:

(1) Uất Thiền Vô Lượng Thiên ;

(2) Thượng Thượng Thiền Thiện Vô Lượng Thọ Thiên;

(3) Phạn Giám Tu Diên Thiên ;

(4) Tịch Nhiên Đâu Suất Thiên ;

(5) Ba La Ni Mật Bất Kiêu Lạc Thiên ;

(6) Động Huyền Hóa Ứng Thinh Thiên ;

(7) Linh Hóa Phạn Phụ Thiên ;

(8) Cao Hư Thanh Minh Thiên ;

(9) Vô Tưởng Vô Kết Vô Ái Thiên .

(Tham khảo: Trương Chí Triết chủ biên, Đạo giáo văn hóa từ điển, Giang Tô Cổ Tịch xuất bản xã, 1994, trang 82).

Tuy nhiên, trong văn học khi nói chín phương trời thường ngụ ý là trọn cả bầu trời, khắp nơi khắp chốn.

B/. Mười phương Phật:

 Tức là thập phương chư Phật . Mười phương (hay thập phương) gồm có Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, trên trời, dưới đất (hay trung ương).

Tuy nhiên, có quan niệm cho rằng thập phương không phải là mười phương mà hàm nghĩa tất cả mọi nơi. Nói mười phương Phật hay thập phương chư Phật tức là chỗ nào cũng có Phật; Phật có ở khắp nơi.

Chín phương Trời mười phương Phật

Tiếng đời thường nói: “Chín phương Trời mười phương Phật”. Cho nên kẻ thế lầm tưởng rằng Phật lớn hơn Trời vì Trời chỉ có chín phương mà Phật lại mười phương. Lời nói cổ truyền ấy có nghĩa là kẻ thế không tu luyện lúc lâm chung thần hồn sẽ xuất ra cửu khiếu thì tất nhiên không vượt ra ngoài bầu trời đất đặng, vẫn còn trong vòng chín phương Trời. Còn người có tu luyện, nhờ phép Ðạo vận chuyển khai phá Thiên Môn (Nê Hườn cung) là cửa thứ mười, con đường duy nhất thẳng đến Thiên môn Phật cảnh; cho nên đến lúc quy liễu giác hồn xuất ra nơi đó; nếu giác hồn xuất tại Thiên môn thì tự nhiên thoát khỏi bầu Trời Ðất thẳng đền Phật phương. Từ nơi đơn điền mà muốn vượt khỏi Thiên Môn, chơn thần phải vượt qua 3 cửa.

1/. Ải thứ nhất: cung Khôn. Nơi đây có đường đi xuống mà  không có đường đi lên. Nếu không nhờ phép đạo vận hành càn khôn nghịch chuyển thì chỉ có phương giáng hạ chứ không thể thăng thượng được.

2/. Ải thứ hai: cung Khãm. Lên đến ngang lưng chỗ thận thủy là cung Khãm. Bịt bùng không nẻo qua rồi cũng phải nhờ phép chiết khãm điền Ly làm cho đường cốt tủy thông thì chơn hồn mới lên cửa Thiên Môn đặng.

3/. Ải thứ ba: cung Càn. Cửa đóng then cài kín mít cũng nhờ phép đạo vận hành biến Càn vi Khôn, chuyển Khôn thành Càn mà khai phá Thiên Môn, thông đồng Thái Cực. Nhờ vậy, mà đến khi quy liễu, mới do con đường quen thuộc là cửa thứ mười (phương Phật) mà quy nhứt bổn.

VÌ SAO GỌI LÀ MƯỜI PHƯƠNG CHƯ PHẬT

Thập phương chư Phật được giải thích theo 2 cách:

1/- là các vị Phật ở 10 phương. Thập phương là: Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, Tây Nam, phương trên, phương dưới.Ý của Thập phương chư Phật là tất cả các vị Phật ở khắp mọi nơi trong càn khôn vũ trụ

2/- là các vị Phật ở từng trời thứ 10, gọi là cõi cực lạc niết bànTrời có 36 tầng, dưới 36 từng trời còn có một từng nữa là Nhứt mạch đẳng tinh vi gọi là Cảnh Niết Bàn.Chín từng nữa gọi là Cửu Thiên Khai Hóa, tức là 9 phương trời, cộng với Niết Bàn là 10, gọi là Thập phương chư Phật. Gọi 9 phương trời 10 phương Phật là do đó.

Cõi Niết Bàn là chỗ Phật ngự: Phật Tổ ngự nơi hướng Tây, Quan Âm ngự nơi hướng Nam. Mỗi từng đều có sơn xuyên hà hải, tứ phương bát hướng, liên đài hằng hà sa số Phật.” Cảnh Niết Bàn là ở từng trời thứ 10, bên trên Cửu Trùng Thiên, do Đức Nhiên Đăng Cổ Phật chưởng quản. Nơi từng trời thứ 10 nầy có: Ngọc Hư Cung ở tại trung tâm và Cực Lạc Thượng Gioi ở hướng Tây nên cũng gọi là Tây phương Cực Lạc.

KINH A DI ĐÀ CÓ ĐOẠN:

Xá-Lợi-Phất! Như Ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của đức Phật A Di Đà, phương Đông cũng có đức A-Súc-Bệ-Phật, Tu-Di-Tướng Phật, Đại-Tu-Di Phật, Tu-Di-Quang Phật, Diệu-Âm Phật; Hằng hà sa số những đức Phật như thế đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam thiên Đại thiên mà nói lời thành thật rằng:

 “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh:

 Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Nam, có đức Nhật- Nguyệt-Đăng Phật, Danh-Văn-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tu Di-Đăng Phật, Vô-Lượng-Tinh-Tấn Phật…

Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Tây, có đức Vô Lượng-Thọ Phật, Vô-Lượng-Tướng Phật, Vô-Lượng-Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại-Minh Phật, Bửu-Tướng Phật, Tịnh-Quang Phật…

 Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Bắc, có đức Diệm-Kiên-Phật, Tối-Thắng-Âm Phật, Nan-Trở Phật, Nhựt-Sanh Phật, Võng-Minh Phật…

 Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương dưới, có đức Sư-Tử Phật, Danh-Văn Phật, Danh-Quang Phật, Đạt-Mạ Phật, Pháp-Tràng Phật, Trì-Pháp Phật…

 Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương trên, có đức Phạm-Âm Phật, Tú-Vương Phật, Hương-Thượng Phật, Hương-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tạp-Sắc Bửu-Hoa-Nghiêm-Thân Phật, Ta La-Thọ-Vương Phật, Bửu-Hoa Đức Phật, Kiến-Nhất-Thiết-Nghĩa Phật, Như-Tu-Di-Sơn Phật…

Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.

LẠI NỮA, KINH LỄ BÁI SÁU PHƯƠNG

Một thời đức Thế Tôn trú tại chùa Trúc Lâm gần thành Vương Xá. Vào buổi sáng Ngài đắp y mang bát đi khất thực. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn trông thấy thanh niên Sin Ga La lễ bái sáu phương đông nam tây bắc trên dưới, Ngài hỏi tại sao làm thế. Sin Ga La trả lời: Khi thân phụ lâm chung nhắn nhủ phải thường lễ bái sáu phương. Ðức Thế Tôn dạy rằng: Cách thức lễ bái sáu phương trong đạo lý thánh hiền không giống như vậy.

Thanh niên Sin Ga La thỉnh cầu đức Phật giảng dạy đạo lý ấy. Ðức Phật dạy rằng:

Nầy gia chủ, 

Phương đông được hiểu là cha mẹ

Phương nam được hiểu là thầy tổ

Phương tây được hiểu là người hôn phối

Phương bắc được hiểu là bạn bè

Phương dưới được hiểu là người giúp việc

Phương trên được hiểu là sa môn (niết bàn, pháp đạo)

Nầy gia chủ, đối với phương đông tức cha mẹ, người con nên làm năm việc:

Một là phụng dưỡng cha mẹ

Hai là làm công việc thay cha mẹ

Ba là gìn giữ gia phong

Bốn là khéo quản trị tài sản thừa kế

Năm là tạo phước hồi hướng

Ðáp lại, đối với con, cha mẹ nên làm năm việc:

Một là ngăn con không làm điều ác

Hai là dạy con làm việc lành

Ba là hướng dẫn nghề nghiệp

Bốn là tác thành gia thất

Năm là trao tài sản thừa kế khi thích hợp

Ðó là cách lễ bái phương đông tức đạo nghĩa cha mẹ con cái. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.

Nầy gia chủ, đối với phương nam tức thầy tổ, người học trò nên làm năm việc:

Một là giữ lòng kính trọng

Hai là quan tâm săn sóc

Ba là chăm chỉ học hành

Bốn là đáp ứng khi cần

Năm là hấp thụ những gì được truyền dạy

Ðáp lại, đối với trò, thầy nên làm năm việc:

Một là dạy trò những chuyên môn của mình

Hai là dùng phương pháp dễ hiểu

Ba là không giấu nghề

Bốn là giới thiệu tiến thân

Năm là bố trí an toàn cho trò

Ðó là cách lễ bái phương nam tức đạo nghĩa thầy trò. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.

Nầy gia chủ, đối với phương tây tức người hôn phối thì người chồng nên làm năm việc:Một là đối xử hoà ái

Hai là không bạc đãi khinh khi

Ba là một dạ thủy chung

Bốn là giao quyền nội chính

Năm là tùy khả năng mua sắm tư trang cho vợ

Ðáp lại, đối với chồng, người vợ nên làm năm việc:

Một là quán xuyến công việc gia đình

Hai là cư xử với hai họ một cách đồng đều

Ba là một lòng tiết hạnh 

Bốn là gìn giữ tài sản

Năm là cần mẫn trong bổn phận.

Ðó là cách lễ bái phương tây tức đạo nghĩa vợ chồng. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.

Nầy gia chủ, đối với phương bắc tức bạn bè nên làm năm việc:

Một là rộng rãi

Hai là nhã nhặn

Ba là quan tâm lợi ích của bạn

Bốn là đồng cam cộng khổ

Năm là thành thật

Ðáp lại, đối với một bạn tốt, nên làm năm việc:

Một là cảnh giác bạn trước những cám dỗ

Hai là giữ hộ tài sản khi bạn sa ngã

Ba là làm nơi nương tựa cho bạn lúc sa cơ

Bốn là không bỏ bạn lúc nguy biến

Năm là cư xử tốt với người thân của bạn

Ðó là cách lễ bái phương nam tức đạo nghĩa bạn bè. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.

Nầy gia chủ, đối với phương dưới tức người giúp việc thì người chủ nên làm năm việc:Một là không giao việc quá sức

Hai là trả thù lao tương xứng

Ba là chăm sóc khi đau yếu

Bốn là chia sớt món ngon vật lạ

Năm là không bắt làm việc quá giờ

Ðáp lại, đối với chủ, người giúp việc nên làm năm việc:

Một là thức trước chủ

Hai là ngủ sau chủ

Ba là không lấy những thứ không cho

Bốn là siêng năng làm việc

Năm là giữ tiếng tốt cho chủ

Ðó là cách lễ bái phương dưới tức đạo nghĩa chủ tớ. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.

Nầy gia chủ, đối với phương trên tức sa môn thì người cư sĩ nên làm năm việc:

Một là cử chỉ thân thiện

Hai là lời nói thân thiện

Ba là tư tưởng thân thiện

Bốn là luôn mở rộng cửa đón tiếp

Năm là cúng dường tứ sự

Ðáp lại, đối với cư sĩ, sa môn nên làm năm việc:

Một là hướng dẫn cư sĩ xa điều ác

Hai là hướng dẫn cư sĩ làm việc lành

Ba là luôn cư xử với tâm từ ái

Bốn là giảng giải đạo lý tường tận

Năm là chỉ đường an vui đời sau

Ðó là cách lễ bái phương nam tức đạo nghĩa tăng tục. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.Nghe đức Thế Tôn dạy như vậy, thanh niên Sin Ga La bày tỏ niềm hoan hỷ: Thật vi diệu, bạch đức Thế Tôn, Chánh Pháp được giảng dạy như người lật lên những gì bị úp xuống, phơi bày những gì bị che phủ, chỉ đường cho người lạc lối, đem ánh sáng vào chỗ tối. Con xin qui y Phật, con xin qui y Pháp, con xin qui y Tăng. Xin Ngài nhận biết cho con là đệ tử từ nay cho đến trọn đời.

Như vậy, Khi ta lạy Chín phương trời, mười phương phật ta phải biết cách lạy Phật đúng nhất, lạy Phật đúng cách đó là học và làm theo các lời Phật dạy, noi gương các đức tính tốt đẹp của Phật mà làm theo.

Tìm hiểu Hỷ Xả trong đạo Phật

 


Hỷ xả là cái đức rất cần thiết và quý báu cho cuộc sống hiện tại của chúng ta. Muốn được vui, muốn được tươi đẹp, sống lâu thì chúng ta phải tu hạnh hỷ xả. Người nào ôm lòng phiền hận thì đau khổ. Nếu chúng ta có tài vật dư dả nên vui vẻ xả, giúp cho những người bần cùng đói rách. Của cải do mồ hôi nước mắt mình tạo, mình cảm thấy đủ hay dư thì vui xả cho những người nghèo thiếu hay những người ít ỏi hơn. Đó là hỷ xả tài vật bên ngoài.
Tuy vậy cũng hơi khó làm, vì có nhiều người, kẻ khác thấy họ dư mà bản thân họ lại thấy thiếu. Có một đồng muốn hai đồng, có hai đồng muốn mười đồng, có mười đồng muốn ba mươi đồng, muốn cho đến ngày tắt thở mà vẫn thấy chưa đủ. Như vậy làm sao xả được? Cho nên muốn hỷ xả chúng ta phải học Phật.
tim-hieu-hy-xa-trong-dao-phat
Phật dạy ít muốn, biết đủ. Chúng ta biết đủ thì mới xả được, không biết đủ thì không thể nào xả được. Người không biết đủ giống như cái túi không đáy, bỏ vào bao nhiêu tuột hết bấy nhiêu, bỏ bao nhiêu cũng không đầy, do cái bệnh không biết đủ, như vậy làm sao mà xả ?
Ví dụ mỗi ngày buổi trưa chúng ta ăn ba chén cơm là đủ no, dù có đồ ăn ngon, chúng ta cũng ăn ba chén, phần dư thì giúp cho người, hoặc cho vật. Dù đấy là phần dư của mình, nhưng cũng là một lối xả. Chớ nên ăn ba chén vừa no, thấy đồ ăn ngon, ăn thêm nữa, như vậy là phí phạm, vì lượng thức ăn chừng đó là đủ, ăn thêm là dư.
Đó là nói về cái ăn, còn bao nhiêu cái khác. Chẳng hạn như cái mặc, chúng ta có ba bộ đồ đủ để mặc, thêm bộ thứ tư là dư rồi nhưng có bộ thứ tư thấy chưa đủ, mua thêm bộ thứ năm cũng thấy chưa đủ nữa.
Như vậy chừng nào mới đủ để xả? Không biết đủ thì không bao giờ xả được. Muốn xả phải biết đủ, biết đủ mới xả được, của dư đem giúp người không một chút luyến tiếc. Đó là tâm hỷ xả, vui vẻ giúp người chớ không bị bắt buộc.
Hỷ xả tài vật tuy khó nhưng dễ hơn hỷ xả cố chấp phiền muộn ở tâm. Khi có người làm phiền mình thì gương mặt buồn hoặc nhăn nhó. Muốn hết phiền phải tập xả; xả này là tha thứ, là bỏ qua.
Phiền ở đây là phiền não và sân hận, hai thứ đó chất chứa trong lòng, mình phải buông xả nó đi. Người nào ôm lòng phiền hận thì đau khổ, đau khổ từ hiện tại cho đến mai kia, chớ không phải đau khổ trong hiện tại thôi.
Vì vậy, khi biết mình đang ôm lòng phiền hận người này kẻ khác thì phải vui vẻ bỏ, nghĩa là bao nhiêu cái phiền muộn đang chứa chấp trong lòng phải hỷ xả hết. Muốn xả của cải chúng ta phải biết đủ.
Muốn bỏ phiền hận phải làm sao?
Muốn bỏ phiền hận trong lòng, chúng ta phải thấy cuộc đời là vô thường, cái chết đang kề cận, ôm phiền hận làm gì.
Do nghĩ cái chết sắp đến nên chúng ta buông xả được phiền hận. Phiền hận chỉ làm khổ mình, khổ người, không lợi cho ai cả. Quán xét như vậy chúng ta buông hết, không buồn giận ai, lo tu cho tâm an ổn.
Chúng ta thấy cuộc đời như ảo mộng, ngày nay có mặt đây, ngày mai đã mất rồi. Sống trong tạm bợ mong manh, mình tạm bợ, người tạm bợ... Vậy tại sao không thương nhau, nâng đỡ nhau?
Muốn được vui, tươi đẹp thì phải hỷ xả
Nếu chúng ta biết mình là người bị kêu án tử hình và những người xung quanh cũng bị kêu án tử hình thì đâu có buồn giận nhau. Trong cuộc sống hằng ngày khi lẫn lộn chung chạ nhau, có dẫm lên nhau hay có làm phiền toái nhau cũng bỏ qua.
Phải nghĩ đến cái chết, chớ để tâm buồn giận. Nghĩ đến cái chết, chúng ta mới thấy cuộc đời là tạm bợ, sống không có cái gì bảo đảm. Vậy buồn giận nhau để làm gì? Hãy buông xả hết những gì chứa chấp trong lòng. Có ai ở đời mãi đâu mà giận với hờn.
Chúng ta đã học Phật, vậy có tập được hạnh buông xả chưa? Đi chùa cúng Phật có còn giận hờn bạn bè anh em không? Nếu ai còn phiền giận thì ngay bây giờ hãy nguyện đức Phật chứng minh xả hết, cho lòng trống rỗng không còn vướng bận việc gì.
Dù có buồn giận ai từ mười năm hay hai ba mươi năm, ngày nay dứt khoát phải xả. Phiền hận là rắn độc, dại gì chúng ta chứa rắn độc trong nhà. Nếu chứa rắn độc trong nhà thì sớm muộn gì cũng bị nó cắn.
Thế nên khi biết phiền não là rắn độc thì phải xả ngay, đuổi ra khỏi nhà, không dung chứa nó. Biết như vậy là tu đó. Phiền hận thì không vui, hết phiền hận, tâm hồn rỗng rang trống trải thì rất vui vẻ.
Muốn được vui vẻ, chúng ta phải tập hỷ xả những vật bên ngoài, hỷ xả những phiền hận trong lòng. Trong ngoài đều hỷ xả hết mới có cái vui chân thật. Sở dĩ đức Phật Di Lặc cười hoài là vì Ngài hỷ xả, còn chúng ta buồn hoài là vì chúng ta cố chấp phiền hận.
Cố chấp phiền hận là nguyên nhân của đau khổ, của bệnh tật, rất xấu xa đê hèn, dứt khoát phải xả bỏ. Mọi người ai cũng muốn mình là người vui tươi, ai cũng muốn mình là người sung sướng, nhưng tại sao lại chứa cái nhân đau khổ?
Có phải tự mình mâu thuẫn với mình không? Khi nào giận ai, buồn ai là biết mình đang hại mình làm cho mình xấu xa, làm cho mình đau khổ.




Giải Thích Về Hệ Thống Tượng Phật Ở Trong Chùa 

 VN ta các chùa thường hay thờ Phật, thờ Tổ, thờ Thánh. Nhờ Phật độ nên mỗi năm tôi về VN một lần, mà lần nào tôi cũng đi từ Nam ra Bắc hầu hết thời gian tôi đều dành cho việc đi tham quan các chùa, do đó tôi thấy: Cách bài trí các tượng chư Phật, chư Bồ Tát, ở trong chùa tuy cũng có công thức và ý nghĩa rõ ràng, nhưng vì xưa nay không có sách vở nào ghi chép cho tinh tường. Do đó người ta mỗi khi bước chân vào chùa không phân biệt được pho tượng nào thờ vị nào. Nay ta muốn biết rõ, trước hết phải phân biệt tượng thờ chư Phật, tượng thờ chư Bồ Tát. Dưới đây tôi chỉ trả lời câu hỏi nêu trên, không giải thích về sự thờ Thánh của một số chùa ở VN.
Ở trong chánh điện thờ Phật, chỉ có cái ý thờ Phật mà thôi, nhưng Phật có tam thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Cách bài trí các tượng Phật ở chánh điện theo đúng ý nghĩa ấy cho nên ở lớp trên cùng là thờ Pháp thân Phật, tức là thờ thường trụ Phật ở trong vũ trụ; Ở lớp thứ hai thờ Báo thân Phật, tức là thờ Thụ-dụng trí-tuệ Phật ở cõi cực lạc; ở lớp thứ ba là thờ Ứng thân Phật, tức là thờ Phật đã hoá hiện ra sác thân ở trần thế. Từ lớp thứ tư trở xuống bày những cảnh quan hệ đến lúc sơ sinh của đức Thích Ca Mầu Ni Phật và những tượng các vị thần khác.
Vậy cách bài trí các tượng ở chánh điện từ trên xuống dưới theo thứ tự sau đây:
A)-Tượng Tam Thế Phật.- Lớp trên cùng tột ở chỗ giáp vách phía trong, có ba pho tượng để ngang một dẫy, hình dáng giống nhau, tức là tượng "Thường trụ tam thế diệu pháp thân", người ta thường gọi tắt là tượng Tam thế Phật, nghĩa là Phật thường trụ, trong thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai.
B)-Tượng Di-Đà tam tôn.- Lớp thứ hai có ba pho tượng lớn, pho tượng ngồi giữa là pho tượng đức A-Di-Đà Phật, tức là Thụ-dụng Trí-tuệ thân, Pho tượng đứng bên tả là tượng đức Quan-Thế-Âm Bồ Tát, pho tượng đứng bên hữu là tượng đức Đại Thế-Chí Bồ-Tát. Đức Phật và hai Bồ Tát ấy ở Tây-phương Cực-lạc, chủ việc cứu độ chúng sinh ở cõi Sa-bà qua cõi Cực lạc.
C)-Tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh.-Lớp thứ ba có ba pho tượng lớn, pho tượng lớn ngồi giữa là tượng Thích Ca Mầu Ni Phật, tức là Ứng- thân hay là biến hóa thân, giáng sinh xuống trần thế, tu thành chính quả và thuyết pháp độ chúng, pho tượng ở bên phải, hoặc đứng trên toà sen , hoặc ngồi trên con sư tử xanh là tượng Đức Văn-Thù Bồ-Tát; pho tượng ở bên hữu, hoặc đứng trên toà sen, hoặc ngồi trên con voi tráng là tượng Đức Phổ-Hiền Bồ-Tát, theo thuyết nói trong Hoa Nghiêm kinh.
Ở lớp thứ ba ấy có nhiều chùa làm tượng đức Thích Ca Mầu-Ni ngồi cầm hoa-sen, như khi ngài thuyết pháp ở Linh-Thứu-Sơn; bên tả là tượng Ca-Diếp Tôn-Giả, vẻ mặt già, bên hữu là tượng A-Nan-Đà tôn giả, vẻ măt trẻ, là hai đại đệ tử của Đức Thích-Ca khi ngài còn ở thế-gian. Tượng hai vị tôn giả ấy đều tạc đứng, hình dáng hai người tỳ khưu.
D)-Tượng Cửu Long.- Lớp thứ tư có pho tượng Cửu Long để giữa. Tượng này theo điển nói khi đức Thích Ca Mầu Ni mới giáng sinh, có chín con rồng xuống phun nước cho ngài tắm, đoạn ngài đi bẩy bước tay tả chỉ lên trời, tay hữu chỉ xuống đất mà nói rằng: "Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn. Trên trời, dưới đất, chỉ có ta là quí hơn cả" Bởi vậy tượng Cửu-long làm chín con rồng vây bọc chung quanh và ở trên những đám mây có chư Phật chư thiên, nhã nhạc, cờ phướn và bát bộ Kim Cương, ở giưã có pho tượng nhỏ, đứng một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất, đó là tượng Bổn Sư Thích Ca Mầu Ni Phật lúc sơ sanh. (Ý nghĩa ngày Đản Sinh, tôi đã viết và phổ biến trong cuốn sách "Tôn Giáo và Dân Tộc", cũng có trên Internet và một số báo). Bên tả tượng Cửu Long có tượng Đế Thích ngôi ngai, mặc áo đội mũ Hoàng Đế, bên hữu có tượng Đại Phạm Thiên cùng một kiểu như pho tượng Đế Thích, đó là theo điển nói hai vị Đại Thiên Vương này chủ-tế ở cõi sa-bà thế-giới và lúc nào cũng hộ trì Đưc Thiùch - Ca khi ngài chưa thành Phật.
Những chùa thường, ở trong điện thờ Phật, chỉ bầy có thế mà thôi. còn những chùa rộng lớn thì bầy thêm hai lớp tượng nữa là:
E)- Tượng Tứ Thiên-Vương.- Ở ngoài tượng Cửu Long để bốn pho tượng Tứ-Thiên-Vương mạc áo Vương-phục, bày làm hai dẫy đối nhau, tức là bốn vị hộ thế.
F)-Tượng tứ Bồ Tát.- Có chùa bỏ tượng Tư-Thiên-Vương mà bày tượng bốn vị Bồ-Tát, tạc hình Thiên-thần gọi là Ái-Bồ-Tát, tay cầm cái tên; Sách Bồ-Tát, tay cầm cái cây; Ngũ Bồ-Tát, tay cầm cái lưỡi; Quyền Bồ-Tát tay nắm lại và để vào ngực.
G)- Tượng Bát-Bộ Kim-Cương.- Có nhiều chùa tạc 8 vị Kim-Cương, là thần tướng trên trời, thường gọi là Bát-bộ Kim-Cương gồm có :
1)-Thanh Trừ Tài Kim-Cương.
2)-Tích-Độc-Thần Kim-Cương.
3)-Hoàng-Tuỳ-Cầu Kim-Cương.
4)-Bạch-Tĩnh-Thủy Kim-Cương.
5)-Xích-Thanh-Hoả Kim-Cương.
6)-Định-Trừ-Tai Kim-Cương.
7)-Tử-Hiền Kim-Cương.
8)-Đại-Thần-Lực Kim-Cương.
Bốn vị Bồ-Tát và Tám vị Kim-Cương này, theo điển tích ở trong các kinh thi có nhiều thuyết khác nhau, xong đại ý là nói những bậc thần đã phát Bồ-Đề Tâm, đem thần lực mà hộ-trì Phật Pháp.
SƠ QUA VỀ CÁC VỊ BỒ TÁT
Định nghĩa Bồ Tát: BỒ TÁT (Bodhisattva), Tên đầy đủ là Bồ-đề-tát-đoá, còn gọi là Bồ-đề- tác-đóa, Ma- ha- đế- tác- đóa. Cũ dịch là Đại đạo tâm chúng sinh, Đạo chúng sinh.v..v. mới dịch là đại Giác hữu tình, Giác hữu tình....nghĩa là người có đại tâm cầu đạo. Các vị đại Bồ Tát đối với trên thì cầu được đạo Phật, đối với dưới thì cầu giáo hoá chúng sinh. Chư Bồ Tát khi mới phát tâm, ai nấy đều phát nguyện bốn đều thề lớn său đây, sau này gọi là tứ hoằng-thệ:
1)-Chúng sanh vô biên, thề nguyện độ. Thề xin độ hết thẩy chúng sanh vô biên. Ấy là lấy Khổ- đế làm duyên mà phát thệ.
2)-Phiền não vô số thề nguyện đoạn. Thề xin dứt hết phiền não vô số. Ấy là lấy Tập- đế làm duyên mà phát thệ.
3)-Pháp môn vô tận, thề nguyện học. Thề xin học hết pháp môn vô tận. Ấy là lấy Đạo- đế làm duyên mà phát thệ.
4)-Phật-đạo vô-thượng thề-nguyện thành. Thề xin thành đạo Phật vô thượng. Ấy là lấy Diệt-đế làm duyên mà phát thệ.
Đối với tâm thân mình, chư Bồ Tát phát bốn điều nguyện lớn sau đây:
1)-Tâm như đại đại. Nguyện cái tâm mình như đất lớn, để nuôi lớn chúng sinh cho được thành chánh quả.
2)-Tâm như kiều thuyền. Nguyện cái tâm mình như cái cầu, cái thuyền để đưa chúng sinh sang bến bên kia.
3)-Tâm như đại hải. Nguyện cái tâm mình như bể lớn, để nuôi chứa chúng sinh trong chỗ chân nguyên (mối đầu chân thật phát sinh ra vạn vật).
4)-Thân như hư không. Nguyện cái thân mình như hư không bao hàm hết thẩy vạn vật, cùng với chúng sinh bình đảng vô nhi.
Đối với chúng sinh, chư Bồ Tát phát bốn điều thệ nguyện lớn như sau:
1)-Vị độ giả, linh độ. Ai chưa được độ, thì khiến được độ.
2)-Vị giải giã, linh giải. Ai chưa hiểu, thì khiến được hiểu.
3)-Vị an giả, linh an. Ai chưa được an, thì khiến được an.
4)-Vị Niết-bàn giả, linh niết bàn. Ai chưa được niết-bàn thì khiến được niết bàn.
Trên đây tôi chỉ dẫn giải một số hạnh nguyện chính của các vị Bồ-Tát, tôi không đi sâu vào Hạnh nguyện của từng vị, mỗi vị có một hạnh nguyện khác nhau như:
Di Lạc Bồ Tát: Di-Lạc Bồ Tát tiếng Phạn gọi là Maitreya Bodhisattva phiên dịch ra, theo nghĩa thì gọi là A-Dật-Da (Adjita), căn cứ theo lời Thích Ca Mầu Ni nói ra khi ngài thuyết pháp, thì hiện nay Đức Di-Lạc Bồ-Tát còn ở trên tầng trời Đầu-Suất, đợi đến ngày giáng ainh làm người ở trần gian để tu thành Phật, tức là một vị Phật tương lai nối sau đức Thích-Ca Mầu-Ni Vậy.
Đức Di-Lạc Bồ-Tát tuy lúc chưa thành Phật vẫn lấy lòng từ bi mà phổ độ chúng sinh cho nên người ta thờ Ngài cũng như thờ một vị dã thành Phật. Thường ở chùa người ta thờ Đức Di-Lạc ngồi giữa, bên tả có Đức Pháp-Hoa-Lâm Bồ Tát, bên hữu có đức Đại Diệu Tướng Bồ Tát, gọi chung là Di-Lạc tam tôn.
Có sách chép đức Di-Lạc Bồ-Tát ở trên tầng trời Đầu Suất xuống giảng thuyết: "Phi không phi hữu, trung đạo diệu lý" làm ra sách Du-già-sư-địa-luận, truyền cho Vô-Trước Bồ-Tát (Asangha) ở đất Ấn Độ. Sách ấy là sách cốt yếu của phái Du-Già, tức là một phái chuyên bàn về cái tông chỉ Duy-Thức. Những kinh nói về đức Di-Lạc Bồ-Tát, có bộ Di-Lạc bản kinh, Di-Lạc thượng-sinh kinh nói: Ngài sinh lên cõi trời; Di-Lạc hạ sinh kinh nói Ngài sẽ sinh xuống trần thế; Di-Lạc đại thành Phật kinh; nói lúc Ngài sẽ thành Phật.
Quán-Thế-Âm Bồ-Tát: Kinh Pháp Hoa nói : Khổ-não chúng sinh, nhất tâm xưng danh, Bồ Tát tức thị quan kỳ âm thanh, giai đác giải thoát. Dĩ thị danh Quán-Thế -Âm, những chúng sinh bị khổ não mà nhất tâm đọc đến Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, tức thì ngài nghe âm thanh của chúng sinh mà độ cho được giải thoát. Bởi thế gọi tên ngài là Quán-Thế-Âm.
Đức Quán-Thế-Âm mà có cái danh hiệu ấy là do một đức Phật đã thụ-ký cho Ngài, cho nên chính Ngài đã nói trong Kinh-Lăng-Nghiêm: "Về vô số kiếp đời xưa có Đức Phật ra đời hiệu là Quán-Thế-Âm Như Lai. Ta đến trước Phật mà phát Bồ-Đề tâm. Phật dậy ta theo ba phép: Văn, Tư, Tu, nghĩa là nghe lời giảng dậy, suy nghĩ về đạo lý, và tu hành mà vào tam-ma-đề (Samadhi). Phật khen ta chóng được viên-thông pháp-môn và tức thì ở ngay chỗ đại hội thụ-ký cho ta cái hiệu là Quán-Thế-Âm". Như thế Ngài được lấy cái danh hiệu của Bản-Sư làm danh hiệu của Ngài.
Đại-Thế-Chí Bồ-Tát: Đại-Thế-Chí Bồ-Tát tiếng Phạn là (Mahasthanaprâta Bodhisattva), cùng với Quán-Thế-Âm cùng phụ giúp Đức Phật A-Di-Đà để tế độ chúng sinh. Trong kinh Lăng-Nghiêm có nói: "Về vô số kiếp đời xưa, có Đức Phật hiệu là Siêu-Nhật-Nguyệt Quang-Như-Lai ra đời, dậy ngài tu phép niệm Phật tam muôi, thu cả lục căn là: nhãn, nhỉ, tỵ, thiệt, thân, ý, định tâm chuyên nhất về việc niệm Phật, bởi thế tâm khai, ngộ đạo viên-thông được danh hiệu là Đại Thế Chí".
Trong Kinh Quán Vô-Lượng-Thọ, tán thán công đức của đức Đại-Thế-Chí Bồ-Tát rằng: "Ngài đem ánh sáng trí-tuệ soi khắp hết thẩy, khiến chúng sinh đều thoát khỏi ba nơi ác-đạo, mà cái sức mạnh vô thượng". Bởi cái công đức của Đại-Thế-Chí to lớn như thế, cho nên Vân-Thế thiền sư làm bài Tán -Định Tây- Phương Nguyện-Văn "Đức Phật A-Di-Đà với Đức Phật Quan-Thế-Âm và đức Đại-Thế-Chí cùng các đấng hiền thánh, phóng hào quang ra mà tiếp dẫn chúng sinh giắt tay đề huề, chỉ trong một khắc là người mệnh chung được về cõi cực lạc". Vì thế ở các chùa người ta trưng bầy Tượng đức Đại-Thế-Chí và Đức Quan-Thế-Âm đứng hai bên tả hữu đức A-Di-Đà gọi là hai vị Nhiếp-Sĩ.
Hiện nay ở Bắc Việt, chùa Tây Phương, thuộc phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây có pho tượng Tuyết sơn, tạc rất khéo, và chùa Bút Tháp thuộc phủ Thuận Thành, tỉnh Bác Ninh có pho tượng Tuyết Sơn cũng rất mỹ thuật. hai pho tượng ấy thật rất đáng chiêm ngưỡng. Trong dịp tôi đến vãng cảnh chùa Đậu thuộc Quận Thường Tín, tỉnh Hà Đông, cách Hà-Nội có 25 cây số về phía nam, có hai pho tượng đặc biệt đó là hai vị: Vũ Khắc Minh và Vũ khắc Trường hai chú cháu đều tu đắc đạo cách đây trên 300 năm, hiện toàn thân xá lợi đang thờ tại chuà Đậu, mà du khách trong nước cũng như quốc tế đều tìm đến chiêm ngưỡng, Cũng tại chùa Đậu tôi còn thấy thờ ở nhà hành lang có 18 vị A-La-Hán ở hai bên dẫy nhà Hành lang. -Chi tiết, địa danh và di tích lịch sử của ngôi chùa Đậu tôi đã phổ biến trên website ở Mỹ, Úc, Ấn-Độ và in trong cuốn sách "Trở về cội nguồn" xuất bản năm 2000, do nhà xuất bản "Văn Nghệ" phát hành và hiện có ca cuốn sách "Tôn Giáo và Dân Tộc" mới phát hành 2004, nếu muốn đọc xin mở: www.thuvienhoasen.org roi tim chu Index bấm vào do xong nó sẽ ra chữ "tác giả và dịch giả" bấm vào đó sẽ tìm chữ "Tuệ Minh Đạo Nguyễn Đức Can", bấm vào đó sẽ có cả 2 quyển sách này đủ các bài trong đó.

Tụng niệm trong mùa Lễ Vu Lan, nhớ lại công ơn sanh thành dưỡng dục của Cha Mẹ và gương hiếu hạnh của tôn giả Mục Kiền Liên. Khi tụng Kinh Phật thì phật tử nên chí thành cầu chư Phật và Hiền, Thánh, Tăng từ bi gia hộ cho cửu huyền thất tổ, đa sanh phụ mẫu, lục thân quyến thuộc vân vân được sớm siêu thăng Phật quốc.

nghi thuc le vu lan

Lễ Vu Lan - Báo hiếu Cha Mẹ

Các nghi thức trong Lễ Vu Lan

(Thắp đèn đốt hương trầm xong, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm)

I. TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN:

Án lam tóa ha. (3 lần)

II. TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN:

Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần)

(Chủ lễ thắp ba cây hương quỳ ngay thẳng cầm hương ngang trán niệm bài cúng hương).

III. TÁN PHẬT

Nguyện đem lòng thành kính

Gởi theo đám mây hương

Phảng phất khắp mười phương

Cúng dường ngôi Tam Bảo

Thệ trọn đời giữ đạo

Theo tự tánh làm lành

Cùng pháp giới chúng sinh

Cầu Phật từ gia hộ

Tâm bồ đề kiên cố

Xa bể khổ nguồn mê

Chóng quay về bờ giác

Ðấng Pháp Vương vô thượng

Ba cõi chẳng ai bằng

Thầy dạy khắp trời người

Cha lành chung bốn loài

Quy y trọn một niệm

Dứt sạch nghiệp ba kỳ

Xưng dương cùng tán thán

Ức kiếp không cùng tận.

Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Tận hư không, biến pháp-giới, quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn-Pháp, Hiền-Thánh Tăng, thường trú Tam Bảo. (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Ta-Bà Giáo Chủ Ðiều-ngự Bổn-sư Thích Ca Mâu-Ni Phật, Ðương-lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Ðại-Trí Văn-Thù Sư-Lợi Bồ tát, Ðại-hạnh Phổ-Hiền Bồ-tát, Hộ pháp Chư tôn Bồ-tát, Linh-sơn hội thượng Phật Bồ-tát. (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Tây Phương Cực-Lạc thế-giới đại-từ đại bi A Di Ðà Phật, Ðại Bi Quán-Thế-Âm Bồ tát, Ðại-Thế-Chí Bồ-Tát, Ðại Nguyện Ðịa-Tạng-Vương Bồ-tát, Thanh-Tịnh Ðại-Hải-Chúng Bồ-Tát. (1 lạy)

IV. TÁN LƯ HƯƠNG

Hương thơm vừa đốt lên

Pháp giới đều thấm nhuần

Hải hội chư Phật đều xa hay

Theo chỗ kết mây lành

Lòng thành mới ân cần

Chư Phật đều hiện thân.                      

Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

V. CHÚ ĐẠI BI

Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni:

Nam mô hắc la đát na đa la dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bác ra da, bồ đề tát đoả bà da, ma ha tát đoả bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát toả. Nam mô tất kiết lật đoả, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đoả, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà ra đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha, ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

Án tất điện đô, mạng đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

VI. KỆ KHAI KINH

Pháp vi diệu thâm sâu vô thượng

Trăm ngàn vạn kiếp khó gặp được

Nay con thấy nghe được thọ trì

Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như Lai.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca  Mâu Ni Phật. (3 Lần)

VII. PHẬT NÓI KINH VU-LAN BỒN

Ta từng nghe lời tạc như vầy:

Một thuở nọ Thế-Tôn an-trụ,

Xá-Vệ thành Kỳ-Thụ viên trung,

Mục-Liên mới đặng lục-thông,

Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm-luân.

Công dưỡng-dục thâm-ân dốc trả,

Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền,

Làm con hiếu-hạnh vi tiên,

Bèn dùng huệ-nhãn dưới trên kiếm tầm.

Thấy vong-mẫu sanh làm ngạ-quỉ,

Không uống ăn tiều-tụy hình-hài.

Mục-Liên thấy vậy bi-ai,

Biết mẹ đói khát ai-hoài tình thâm.

Lo phẩm-vậy đem dâng từ-mẫu,

Ðặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu.

Thấy cơm, mẹ rất lo âu,

Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.

Lòng bỏn xẻn tiền-căn chưa dứt,

Sợ chúng ma cướp giựt của bà.

Cơm đưa chưa tới miệng đà,

Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu,

Thấy như vậy âu-sầu thê-thảm,

Mục-Kiền-Liên bi cảm xót thương,

Mau mau về đến giảng-đường,

Bạch cùng Sư-phụ tìm phương giải-nàn.

Phật mới bảo rõ-ràng căn-cội,

Rằng mẹ ông gốc tội rất sâu.

Dầu ông thần lực nhiệm-mầu,

Một mình không thể ai cầu được đâu.

Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn,

Tiếng vang đồn thấu đến Cửu Thiên.

Cùng là các bực Thần-kỳ,

Tà, ma ngoại-đạo, bốn vì Thiên-Vương,

Cộng ba cõi sáu phương tu-tập,

Cũng không phương cứu-tế mẹ ngươi.

Muốn cho cứu đặng mạng người.

Phải nhờ thần-lực của mười phương Tăng.

Pháp cứu-tế Ta toan giải nói,

Cho mọi người thoát khỏi ách-nàn,

Bèn kêu Mục-thị đến gần,

Truyền cho diệu-pháp ân cần thiết thi,

Rằm tháng bảy là ngày Tự-tứ,

Mười phương Tăng đều dự lễ này,

Phải toan sắm-sửa chớ chầy,

Ðồ ăn trăm món trái cây năm màu.

Lại phải sắm giường nằm nệm lót,

Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang dầu,

Món ăn tinh-sạch báu mầu,

Ðựng trong bình-bát vọng-cầu kính dâng,

Chư Ðại-đức mười phương thọ-thực,

Trong bảy đời sẽ đặng siêu thăng.

Lại thêm cha mẹ hiện-tiền,

Ðặng nhờ phước lực tiêu-khiên ách-nàn.

Vì ngày ấy Thánh-tăng đều đủ,

Dầu ở đâu cũng tụ hội về.

Như người Thiền định Sơn-khê,

Tránh điều phiền-não chăm về thiền-na,

Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả,

Công tu hành-nguyện thỏa vô-Sanh,

Hoặc người thọ hạ kinh-hành,

Chẳng ham quyền-quí ẩn danh lâm-tòng,

Hoặc người đặng lục-thông tấn-phát,

Và những hàng Duyên-giác, Thanh-văn,

Hoặc chư Bồ-tát mười phương,

Hiện hình làm sãi ở gần chúng-sanh,

Ðều trì giới rất thanh, rất tịnh,

Ðạo-đức dày chánh-định chơn-tâm,

Tất cả các bực Thánh, Phàm,

Ðồng lòng thọ lãnh bát-cơm lục-hòa,

Người nào có sắm ra vật thực,

Ðặng cúng-dường Tự-tứ Tăng thời,

Hiện-tiền phụ mẫu của người,

Bà con quyến-thuộc thảy đều nhờ ơn,

Tam-đồ khổ chắc rằng ra khỏi,

Cảnh thanh nhàn hưởng-thọ tự-nhiên.

Như còn cha mẹ hiện-tiền.

Nhờ đó cũng đặng bá niên thọ-trường,

Như cha me bảy đời quá-vãng,

Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung,

Người thời tuấn-tú hình-dung,

Hào-quang chiếu sáng khắp cùng châu-thân,

Phật dạy bảo mười phương Tăng-chúng,

Phải tuân theo thể-thức sau nầy:

Trước khi thọ thực đàn chay,

Phải cầu chú nguyện cho người tín-gia.

Cầu thất-thế mẹ cha thí-chủ,

Ðịnh tâm-thần quán đủ đừng quên,

Cho xong định ý hành-thiền,

Mới dùng phẩm-vật đàn tiền hiến dưng.

Khi thọ-dụng, nên an vật-thực,

Trước Phật-đài hoặc tự tháp trung:

Chư Tăng chú nguyện viên dung,

Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa,

Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt,

Mục-Liên cùng Bồ-tát chư Tăng,

Ðồng nhau tỏ dạ vui mừng,

Mục-Liên cũng hết khóc thương rầu buồn,

Mục-Liên Mẫu cũng trong ngày ấy,

Kiếp khổ về ngạ-quỉ được tan,

Mục-Liên bạch với Phật rằng:

Mẹ con nhờ sức Thánh-Tăng khỏi nàn,

Lại cũng nhờ oai thần Tam-Bảo,

Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra

Như sau đệ-tử xuất-gia,

Vu-Lan-Bồn pháp dùng mà độ sanh.

Ðộ cha mẹ còn đương tại thế,

Hoặc bảy đời có thể đặng không?

Phật rằng: lời hỏi rất thông,

Ta vừa muốn nói con vùng hỏi theo,

Thiện-nam tử, tỳ-kheo nam-nữ,

Cùng Quốc-vương, Thái-tử, Ðại-thần,

Tam-công, tể-tướng, bá-quan,

Cùng hàng lê-thứ vạn dân cõi trần,

Như chí muốn đền ơn cha mẹ,

Hiện-tại cùng thất-thế tình thâm,

Ðến rằm tháng bảy mỗi năm,

Sau khi kiết-hạ chư Tăng tựu về,

Chính ngày ấy Phật, đã hoan-hỷ,

Phải sắm sanh bá vị cơm canh,

Ðựng trong bình-bát tinh anh,

Chờ giờ Tự-tứ chúng Tăng cúng-dường,

Ðặng cầu-nguyện song-đường trường-thọ,

Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi,

Cùng cầu thất-thế đồng thì,

Lìa nơi ngạ-quỉ sanh về nhơn, thiên,

Ðặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp.

Lại xa lìa nạn khổ cực thân,

Môn-sanh Phật-tử ân cần,

Hạnh tu hiếu-thuận phải cần phải chuyên.

Thường cầu nguyện thung-huyên an-hảo,

Cùng bảy đời phụ-mẫu siêu-sanh

Ngày rằm tháng bảy mỗi năm,

Vì lòng hiếu-thảo ơn-thâm phải đền.

Lễ cứu-tế chí-thành sắp đặt,

Ngõ cúng-dường chư Phật chư Tăng.

Ấy là báo đáp, thù ân,

Sanh-thành dưỡng-dục song-thân buổi đầu,

Ðệ-tử Phật, lo âu gìn-giữ,

Mới phải là Thích-tử Thiền-môn,

Vừa nghe dứt pháp Lan-Bồn,

Môn sanh tứ-chúng thảy đồng hỷ-hoan,

Mục-Liên với bốn ban Phật-tử,

Nguyện một lòng tín-sự phụng-hành,

Nam-mô Ðại hiếu Mục Kiền Liên Bồ-tát. (3 lần)

VIII. PHẬT NÓI KINH ÐẠI BÁO PHỤ MẪU TRỌNG ÂN

Một thuở nọ Thế-Tôn an-trụ

Xá-vệ thành kỳ-thụ Viên-trung

Chư Tăng câu hội rất đông

Tính ra Tới số hai muôn tám ngàn

Lại cũng có các hàng Bồ-tát

Hội tại đây đủ mặt thường thường

Bây giờ Phật lại lên đường

Cùng hàng đại chúng Nam phương tiến hành

Ðáo bán lộ rành rành mắt thấy

Núi xương khô bỏ đấy lâu đời

Thế-Tôn bèn vội đến nơi

Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng

Ðức A-Nan tủi lòng ái-ngại

Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương?

Vội-vàng xin Phật dạy tường

Thầy là Từ-phụ ba phương bốn loài

Ai ai cũng kính thầy dường ấy

Cớ sao thầy lại lạy xương khô?

Phật rằng: trong các môn đồ

Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công

Bởi chưa rõ đục trong cho rõ

Nên vì ngươi ta tỏ đuôi đầu:

Ðống xương dồn-dập bấy lâu

Cho nên trong đó biết bao cốt hài

Chắc cũng có ông bà cha mẹ

Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sanh

Luân-hồi sanh-tử, tử-sanh

Lục thân đời trước thi hài còn đây

Ta lễ bái kính người tiền bối

Và ngậm-ngùi vì nhớ kiếp xưa

Ðống xương hỗn tạp chẳng vừa

Không phân trai gái bỏ bừa khó coi

Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ

Phân làm hai bên nữ bên nam

Ðể cho phân biệt cốt phàm

Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng

Ðức A-Nan trong lòng tha thiết

Biết làm sao phân biệt khỏi sai

Ngài bèn xin Phật chỉ bày

Vì khó chọn lựa gái trai lúc này

Còn sanh tiền dễ bề sắp đặt

Cách đứng đi ăn mặc phân minh

Chớ khi rã xác tiêu hình

Xương ai như nấy khó nhìn khó phân

Phật mới bảo A-Nan nên biết

Xương nữ nam phân biệt rõ ràng

Ðàn ông xương trắng nặng hoằng

Ðàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn

Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ?

Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra

Sanh con ba đấu huyết ra

Tám hộc bốn đấu sữa hòa nuôi con

Vì cớ ấy hao mòn thân-thể

Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai

A-Nan nghe vậy bi ai

Xót thương cha mẹ công dày dưỡng-sanh

Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo

Phương pháp nào báo hiếu song thân?

Thế-Tôn mới bảo lời rằng:

Vì người ta sẽ phân trần khá nghe

Thân đàn bà nhiều bề cực-nhọc

Sanh đặng con thập ngoạt cưu mang

Tháng đầu thai đậu tợ sương

Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường

Tháng thứ nhì dường như sữa đặc

Tháng thứ ba như cục huyết ngưng

Bốn tháng đã tượng ra hình

Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ-ràng

Tháng thứ sáu lục căn đều đủ

Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương

Lại thêm đủ lỗ chân lông

Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn

Tháng thứ tám hoàn-toàn tạng phủ

Chín tháng thì đầy đủ vóc hình

Mười tháng thì đến kỳ sinh

Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn

Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu

Nó vẫy-vùng đạp quấu lung tung

Làm cho cha mẹ hãi-hùng

Sự đau sự khổ không cùng tỏ phân

Khi sản xuất muôn phần an lạc

Cũng ví như được bạc được vàng

Thế-Tôn lại bảo A-Nan:

Ơn cha nghĩa mẹ mười Phần phải tin

Ðiều thứ nhứt giữ-gìn thai giáo

Mười tháng trường châu đáo mọi bề

Thứ hai sanh đẻ gớm-ghê

Chịu đau chịu khổ mỏi-mê trăm phần

Ðiều thứ ba thâm ân nuôi dưỡng

Cực đến đâu bền vững chẳng lay

Thứ tư ăn đắng uống cay

Ðể dành bùi ngọt đủ đầy cho con

Ðiều thứ năm lại còn khi ngủ

Ướt mẹ nằm khô ráo phần con

Thứ sáu sú nước nhai cơm

Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê

Ðiều thứ bảy không chê ô-uế

Giặt đồ dơ của trẻ không phiền

Thứ tám chẳng nỡ chia riêng

Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo

Ðiều thứ chín miễn con sung-sướng

Dầu phải mang nghiệp chướng cũng-cam

Tính sao có lợi thì làm

Chẳng màng tội lỗi bị giam bị cầm

Ðiều thứ mười chẳng ham trau chuốt

Dành cho con các cuộc thanh nhàn

Thương con như ngọc như vàng

Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng thái-sơn

Phật lại bảo A-Nan nên biết:

Trong chúng-sanh tuy thiệt phẩm người

Mười phần mê muội cả mười

Không tường ơn trọng đức dày song thân

Chẳng kính mến quên ơn trái đức

Không xót thương dưỡng dục cù-lao

Ấy là báo hiếu mặc giao

Ví những người ấy đời nào nên thân

Mẹ sanh con cưu mang mười tháng

Cực khổ dường gánh nặng trên vai

Uống ăn chẳng đặng vì thai

Cho nên thân-thể hình-hài kém suy

Khi sanh-sản hiểm nguy chi xiết

Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề

Ví như thọc huyết trâu dê

Nhất sanh thập tử nhiều bề gian nan

Con còn nhỏ phải lo săn-sóc

Ăn đắng cay bùi ngọt phần con

Phải tắm phải giặt rửa trôn

Biết rằng dơ-dáy mẹ không ngại gì

Nằm phía ướt con nằm phía ráo

Sợ cho con ướt áo ướt chăn

Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân

Aét con phải chịu trăm phần thảm-thương

Trọn ba năm bú nương sữa mẹ

Thân gầy mòn nào nệ với con

Khi con vừa được lớn khôn

Cha mẹ dạy bảo cho con vỡ lòng

Cho đi học mở thông trí-tuệ

Dựng vợ chồng có thể làm ăn

Ước mong con được nên thân

Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi

Con đau ốm tức thì lo chạy

Dầu tốn hao đến mấy cũng đành

Khi con căn bệnh đặng lành

Thì cha mẹ mới an thần định tâm

Công dưỡng-dục sánh bằng non biển

Cớ sao con chẳng biết ơn nầy

Hoặc khi lầm-lỗi bị rầy

Chẳng tuân thì chớ lại bày ngỗ ngang

Hỗn cha mẹ phùng mang trợn mắt

Khinh trưởng huynh nộ-nạt thê nhi

Bà con chẳng kể ra chi

Không tuân sư phụ lễ nghi chăng tường

Lời dạy bảo song đường không kể

Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng

Trái ngang chống báng mọi đàng

Ra vào lui tới mắng càn người trên

Vì lỗ-mãng tánh quen làm bướng

Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn

Lớn lên theo thói hung-hăng

Ðã không nhẫn nhịn lại càng hành-hung

Bỏ bạn lành theo cùng chúng dữ

Nết tập quen làm sự trái ngang

Nghe lời dụ-dỗ quân hoang

Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người

Trước còn tập theo thời theo thế

Thân lập thân tìm kế sanh nhai

Hoặc đi buôn bán kiếm lời

Hoặc vào quân lính với đời lập công

Vì ràng buộc đồn công mối nợ

Hoặc trở ngăn vì nợ vì con

Quên cha quên mẹ tình-thâm

Quên xứ quên sở lâu năm không về

Ấy là nói những người có chí

Chớ phần nhiều du hí mà thôi

Sau khi phá hết của rồi

Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài

Theo trộm cướp hoặc là bài bạc

Phạm tội hình tù rạc phải vương

Hoặc khi mang bịnh giữa đường

Không!người nuôi dưỡng bỏ thân ngoài đồng

Hay tin dữ bà con cô bác

Cùng mẹ cha xao-xác buồn rầu

Thương con than khóc âu sầu

Có khi mang bịnh đui mù vấn-vương

Hoặc bịnh nặng vì thương quá lẽ

Phải bỏ mình làm quỉ giữ hồn

Hoặc nghe con chẳng lo lường

Trà đình tửu điếm phố phường ngao du

Cứ mải miết với đồng bất chính

Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khan

Làm cho cha mẹ than van

Sanh con bất hiếu phải mang tiếng đời

Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu

Không ai nuôi thiếu thốn mọi điều

Ốm đau đói rách kêu rêu

Con không cấp dưỡng bỏ liều chẳng thương

Phận con gái còn nương cha mẹ

Thì có lòng hiếu đễ thuận hòa

Cần lao phục dịch trong nhà

Dễ sai dễ khiến hơn là nam nhi

Song đến lúc tùng phu xuất giá

Lo bên chồng chẳng sá bên mình

Trước còn lai vãng đến thăm

Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhà

Quên dưỡng-dục song thân ân trọng

Không nhớ công mang nặng đẻ đau

Chẳng lo báo-bổ cù-lao

Làm cho cha mẹ buồn rầu thảm thay

Nếu cha mẹ la rầy quở mắng

Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiên

Chớ chi chồng đánh liên miên

Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than

Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ

Nói không cùng nghiệp dữ phải mang

Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng

Trong hàng Ðại-chúng lòng càng thảm thay

Gieo xuống đất lấy cây lấy củi

Ðập vào mình vào mũi vào hông

Làm cho các lỗ chân lông

Thảy đều rướm máu ướt đầm cả thân

Ðến hôn mê tâm thần bất định

Một giây lâu mới tỉnh than rằng

Bọn ta quả thật tội nhân

Xưa nay chẳng rõ không hơn người mù

Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc

Ruột gan dường như nát như tan

Tội tình khó nỗi than van

Làm sao trả đặng muôn ngàn ân sâu

Trước Phật tiền ai cầu trần tố

Xin Thế-Tôn mẫn cố bi ân

Làm sao báo đáp thù ân

Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình

Phật bèn dùng phạm thinh sáu món

Phân tỏ cùng Ðại-chúng lóng nghe

Ơn cha nghĩa mẹ nặng-nề

Không phương báo đáp cho vừa sức đâu

Ví có người ân sâu dốc trả

Cõng mẹ cha tất cả hai vai

Giáp vòng hòn núi Tu-di

Ðến trăm ngàn kiếp ân kia chưa vừa

Ví có người gặp cơn đói rét

Nuôi song thân dâng hết thân nầy

Xương nghiền thịt nát phân thây

Trải trăm ngàn kiếp ân đây chưa đồng

Ví có người vì công sanh-dưỡng

Tự tay mình khoét thủng song ngươi

Chịu thân mù tối như vầy

Ðến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu

Ví có người cầm dao thiệt bén

Mổ bụng ra rút hết tâm can

Huyết ra khắp đất chẳng than

Ðến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng

Ví có người dùng ngàn mũi nhọn

Ðâm vào mình bất luận chỗ nào

Tuy là sự khó biết bao

Trải trăm ngàn kiếp không sao đắp đền

Ví có người vì công dưỡng-dục

Tự treo mình cúng Phật thế đèn

Cứ treo như vậy trọn năm

Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền

Ví có người xương nghiền ra mỡ

Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình

Xương tan thịt nát chẳng phiền

Ðến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng

Ví có người vì công dưỡng-dục

Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan

Làm cho thân-thể tiêu tan

Ðến trăm ngàn kiếp thâm ân chưa đền

Nghe Phật nói thảy đều kinh khủng

Giọt lệ tràng khó nổi cấm ngăn

Ðồng thanh bạch Phật lời rằng

Làm sao trả đặng ân thâm song đường

Phật mới bảo các hàng Phật-tử

Phải lóng nghe ta chỉ sau này

Chúng ngươi muốn đáp ân dày

Phải toan biên chép kinh đây lưu truyền

Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng

Cùng ăn năn những tội lỗi xưa

Cúng dường Tam-Bảo sớm trưa,

Cùng là tu phước, chẳng chừa món chi.

Rằm tháng bảy đến kỳ Tự-tứ,

Thập phương Tăng đều dự lễ này

Sắm sanh lễ vật đủ đầy

Chờ giờ cu hội đặt bày cúng dâng

Ðặng cầu nguyện song đường trường thọ,

Hoặc sanh về Tịnh-độ an nhàn

Ấy là báo đáp thù-ân

Sanh thành dưỡng-dục song thân của mình.

Mình còn phải cần chuyên trì giới,

Pháp Tam-qui ngũ giới giữ-gìn

Những lời ta dạy đinh ninh

Khá nên y thử phụng hành đừng sai

Ðược như vậy mới là khỏi tội

Bằng chẳng thì ngục tối phải sa

Trong năm đại tội kể ra

Bất hiếu thứ nhất thật là trọng thay

Sau khi chết bị đầy vào ngục

Ngũ Vô Gián cũng gọi A-tỳ

Ngục này trong núi Thiết-vi

Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề

Trong ngục này hàng ngày lửa cháy

Ðốt tội nhơn hết thảy thành than

Có lò nấu sắt cho tan

Rót vào trong miệng tội nhơn hành-hình

Một vá đủ cho người thọ khổ

Lột thịt ra đau thấu tâm can

Lại có chó sắt cắn gan

Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhơn

Ở trong ngục có giường bằng sắt

Bắt tội nhơn nắm khắp đó xong

Rồi cho một ngọn lửa hồng

Nướng quây chúng nó da phồng thịt thau

Móc bằng sắt thương đao gươm giáo

Trên không trung đổ tháo như mưa

Gặp ai chém nấy chẳng chừa

Làm cho thân thể nát nhừ như tương

Những hình phạt vô phương kể hết

Mỗi ngục đều có cách trị riêng

Như là xe sắt phân thây

Chim ưng mổ bụng trâu cầy lưỡi le

Chớ chi đặng chết liền rất đỡ

Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân

Ngày đêm chết sống muôn lần

Ðến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây

Sự hành phạt tại A-tỳ ngục

Rất nặng-nề ngỗ nghịch song thân

Chúng người đều phải ân cần

Thừa hành các việc phân trần khoản trên

Nhất là phải kinh này in chép

Truyền bá ra cho khắp đông tây

Như ai chép một quyển này

Ví bằng đặng thấy một vì Thế-Tôn

Nếu in được ngàn muôn quyển ấy

Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên

Do theo nguyện lực tùy duyên

Chư Phật ủng hộ y như sở nguyền

Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh

Lại hóa sanh về cảnh thiên cung

Khi lời Phật giảng vừa xong

Khắp trong Tứ-chúng một lòng kính vâng

Lại phát nguyện thà thân này nát

Ra bụi tro muôn kiếp chẳng nài

Dầu cho kéo lưỡi trâu cầy

Ðến trăm ngàn kiếp lời thầy không quên

Ví như bị đá thiên đao kiếm

Khắp thân nầy đâm chém phân thây

Hoặc như lưới trói thân này

Trải trăm ngàn kiếp lời thầy chẳng sai

Dẫu thân này bị cưa bị chặt

Phân chia ra muôn đoạn rã rời

Ðến trăm ngàn kiếp như vầy

Chúng con cũng chẳng trái lời thầy khuyên

Ðức A-Nan kiền thiền đảnh lễ

Cầu Thế-Tôn đặt để hiệu kinh

Ngày sau truyền bá chúng sanh

Dễ bề phúng tụng trì chuyên tu hành

Phật mới bảo A-Nan nên biết

Quyển kinh này quả thiệt cao xa

Ðặt tên "BÁO HIẾU MẸ CHA"

Cùng là "ÂN TRỌNG" thật là chơn kinh

Các ngươi phải giữ gìn châu-đáo

Ðặng đời sau y giáo phụng hành

Sau khi Phật dạy rành rành

Bốn hàng Phật-tử rất mừng rất vui

Thảy một lòng vâng theo lời Phật

Và kính thành tin chắc vẹn truyền

Ðồng nhau trở lại Phật tiền

Nhất tâm đảnh lễ rồi liền lui ra.

IX. SÁM VU-LAN

Ðệ-tử chúng con,

Vâng lời Phật dạy,

Ngày rằm tháng bảy,

Gặp Hội Vu-Lan,

Phạm Vũ huy-hoàng,

Ðốt hương đảnh lễ.

Mười phương Tam-thế,

Phật, Pháp, Thánh, Hiền,

Noi gương Ðức Mục-Kiền-Liên,

Nguyện làm con thảo,

Lòng càng áo-não,

Nhớ nghĩa thân sanh,

Con đến trưởng-thành,

Mẹ dày gian khổ,

Ba năm nhủ bộ,

Chín tháng cưu mang.

Không ngớt lo toan,

Quên ăn bỏ ngủ,

Ấm no đầy đủ,

Cậy có công cha,

Chẳng quản yếu già,

Sanh nhai lam lủ,

Quyết cùng hoàng-vũ,

Phấn đấu nuôi con,

Giáo dục vuông tròn,

Ðem đường học đạo,

Ðệ-tử ơn sâu chưa báo,

Hổ phận kém hèn,

Giờ này quỳ trước đài sen,

Chí thành cung kính,

Ðạo tràng thanh-tịnh,

Tăng-bảo trang-nghiêm.

Hoặc thừa tự-tứ.

Hoặc hiện tham-thiền,

Ðầy đủ thiện duyên,

Dủ lòng lân-mẫn,

Hộ-niệm cho:

Bảy kiếp cha mẹ chúng con,

Ðượm nhuần mưa Pháp,

Còn tại thế:

Thân tâm an ổn,

Phát nguyện tu trì,

Ðã qua đời:

Ác đạo xa lìa,

Chóng thành Phật-quả,

Ngữa trông các Ðức Như-Lai,

Khắp cõi hư không,

Từ bi gia hộ.

Vu Lan tán

Vu Lan chánh giáo Tự Tứ oai thần

Mục Liên sầu khổ

Xin cứu từ thân, oai linh Phật tổ

Tế độ vong linh

U Minh thoát khổ

Vạn khổ xưng danh

Ðại hùng đại lực đại từ bi

Ðại hỉ đại xả tế hàm thức

Tướng hảo quang minh dĩ tự nghiêm

Chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ.

X. MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA MẬT-ÐA TÂM-KINH

Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá-Lợi-Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-Lợi-Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão-tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên-đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:

Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha. (3 lần)

XI. VÃNG-SANH QUYẾT-ÐỊNH CHƠN-NGÔN:

Nam-mô a di đa bà dạ, Ða tha dà đa dạ, Ða địa dạ tha.

A di rị đô bà tỳ,

A di rị đa tất đam bà tỳ,

A di rị đa tì ca lan đế,

A di rị đa, tì ca lan đa,

Dà di nị dà dà na,

Chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3 lần)

XII. TÁN PHẬT

A-Di-Ðà Phật thân kim sắc,

Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân,

Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di,

Cám mục trừng thanh tứ đại hải.

Quang trung hóa Phật vô số ức,

Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên,

Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh,

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới, đại-từ đại-bi, A-Di-Ðà Phật.

Nam-mô A-Di-Ðà Phật. (108 lần)

XIII. NIỆM TỨ THÁNH

Nam-mô Ðại-bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (10 lần)

Nam-mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát. (10 lần)

Nam-mô Ðịa-Tạng Vương Bồ-tát. (10 lần)

Nam-mô Thanh-tịnh Ðại-Hải chúng Bồ-tát. (10 lần)

XIV. HỒI HƯỚNG

Phúng kinh công-đức thù thắng hạnh,

Vô biên thắng phước giai hồi-hướng,

Phổ nguyện pháp-giới chư chúng-sanh,

Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát.

Nguyện tiêu tam-chướng trừ phiền-não,

Nguyện đắc trí-huệ chơn minh liễu,

Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.

Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.

Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung,

Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ mẫu,

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,

Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công-đức,

Phổ cập ư nhứt thiết,

Ngã đẳng dữ chúng-sanh,

Giai cộng thành Phật-đạo.

XV. TAM QUY-Y:

Tự quy-y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại-đạo, phát vô-thượng tâm. (1 lạy)

Tự quy-y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh-tạng, trí huệ như hải. (1 lạy)

Tự quy-y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống-lý đại-chúng, nhứt thiết vô ngại. (1 lạy)

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.