bài viết trong chuyên mục "phong thủy âm trạch"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn phong thủy âm trạch. Hiển thị tất cả bài đăng

2 đại nguyên tắc phong thủy khi táng mộ giúp con cháu ấm no

 Phong thủy âm trạch có ảnh hưởng quan trọng tới hậu vận của một gia đình, thậm chí một dòng họ vì thế không thể tùy tiện. Hai nguyên tắc phong thủy khi táng mộ cần phải biết dưới đây là kiến thức hữu ích mà tất cả mọi người nên tham khảo để chọn vị trí huyệt mộ tốt.
 

1. Xác định huyệt vị


2 dai nguyen tac phong thuy khi tang mo giup con chau am no hinh anh
 
Theo phong thủy âm trạch, thế đất đẹp, cuộc đất hay là rất tốt nhưng chọn được đất đẹp mà không chọn đúng vị trí táng mộ thì cũng vô nghĩa, không có ích lợi gì, thậm chí còn gây hại. 
Ví dụ như nghĩa trang ở vùng bình địa, tựa lưng vào núi cao vững chắc, trái phải đều có núi hộ vệ, phía trước tầm nhìn thoáng đãng trống trải, đối diện phía xa là dáng núi thanh tú. Theo đánh giá khách quan thì thế đất này khá ổn. Nhưng đáng tiếc là mộ phần lại không được an táng ở vị trí thích hợp, lưng dựa vào lưng chừng sườn núi, phía trước là dốc thẳng xuống, xa hơn khoảng 5m là địa thế bình thường, không có điểm nhấn.
 
Huyệt vị này đã phảm phải lỗi lớn trong nguyên tắc phong thủy khi táng mộ. Minh đường nên bằng phẳng thoáng đãng nhưng tuyệt đối không được dốc xuống vì như vậy có ngụ ý là gia trạch đi xuống, ảnh hưởng tới con người và tài sản của đời sau. Ngược lại, nếu phần mộ có thể táng ở vị trí mà minh đường rộng rãi, hường lên trên thì con cháu đời sau rất có phúc.

2 đại nguyên tắc phong thủy khi táng mộ giúp con cháu ấm no

 Phong thủy âm trạch có ảnh hưởng quan trọng tới hậu vận của một gia đình, thậm chí một dòng họ vì thế không thể tùy tiện. Hai nguyên tắc phong thủy khi táng mộ cần phải biết dưới đây là kiến thức hữu ích mà tất cả mọi người nên tham khảo để chọn vị trí huyệt mộ tốt.
 

1. Xác định huyệt vị


2 dai nguyen tac phong thuy khi tang mo giup con chau am no hinh anh
 
Theo phong thủy âm trạch, thế đất đẹp, cuộc đất hay là rất tốt nhưng chọn được đất đẹp mà không chọn đúng vị trí táng mộ thì cũng vô nghĩa, không có ích lợi gì, thậm chí còn gây hại. Ví dụ như nghĩa trang ở vùng bình địa, tựa lưng vào núi cao vững chắc, trái phải đều có núi hộ vệ, phía trước tầm nhìn thoáng đãng trống trải, đối diện phía xa là dáng núi thanh tú. Theo đánh giá khách quan thì thế đất này khá ổn. Nhưng đáng tiếc là mộ phần lại không được an táng ở vị trí thích hợp, lưng dựa vào lưng chừng sườn núi, phía trước là dốc thẳng xuống, xa hơn khoảng 5m là địa thế bình thường, không có điểm nhấn.
 
Huyệt vị này đã phảm phải lỗi lớn trong nguyên tắc phong thủy khi táng mộ. Minh đường nên bằng phẳng thoáng đãng nhưng tuyệt đối không được dốc xuống vì như vậy có ngụ ý là gia trạch đi xuống, ảnh hưởng tới con người và tài sản của đời sau. Ngược lại, nếu phần mộ có thể táng ở vị trí mà minh đường rộng rãi, hường lên trên thì con cháu đời sau rất có phúc.
 

2. Xác định hướng mộ

Phong thủy âm trạch tốt hay xấu phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh, thế đất, cuộc đất. Dựa vào núi, ở cạnh sông, có sơn minh thủy tú thì mới được coi là có phong thủy đúng đắn. Nhưng thế đất đẹp, cuộc đất tốt, vị trí cũng ổn mà hướng mộ xác định sai lầm thì phong thủy cũng bị ảnh hưởng vô cùng nhiều.
 
Trong phong thủy có khái niệm sơn hướng, sau lưng dựa vào là sơn, trước mặt đối diện là hướng. Âm trạch coi trọng hướng của phần mộ, cần có phía trên là sơn, phía dưới là hướng. Hướng của phần mộ được xác định bởi hướng bia mộ, bia mộ mặt chính diện quay về đâu, có lưng dựa vào đâu thì mới xác định được sơn hướng.

2 dai nguyen tac phong thuy khi tang mo giup con chau am no hinh anh
 
Để biết mộ có sơn hướng như thế nào, cần sử dụng tới la bàn phong thủy. Có 24 sơn hướng, phân chia theo bát quái, mỗi quẻ quản 3 sơn hướng. Quẻ Càn ứng với Tuất Càn Hợi, quả Khảm ứng với Nhâm Tý Quý, quẻ Cấn ứng với Sửu Cấn Dần, quẻ Chấn ứng với Giáp Mão Ất, quẻ Tốn ứng với Thìn Tốn Tị, quẻ Khôn ứng với Mùi Khôn Thân, quẻ Đoài ứng với Canh Dậu tân, quẻ Ly ứng với Bính Ngọ Đinh.
Nguyên tắc phong thủy khi táng mộ là phải có thế mộ vượng sơn vượng hướng, phối hợp với thủy pháp tốt thì mới là trọn vẹn. Ví dụ, thế mộ nên là Càn sơn Tốn Hướng chứ không nên là Tuất sơn Thìn hướng,… 

Xem thêm bài viết 25 thế nước trong phong thủy âm trạch để hiểu hơn về vấn đề này.
 
Phong thủy có câu "phân kim kém một đường, phú quý không gặp gỡ", chính là nói tới tầm quan trọng của sơn hướng, kém một đường mà giàu nghèo còn khác biệt huống chi là hướng khác nhau thì vận trạch cũng sẽ có nhiều thay đổi. Vì thế, khi chọn vị trí và hướng táng mộ không thể qua loa đại khái.
 
Cuộc đất đẹp, huyệt vị chuẩn, sơn hướng vượng là ba yếu tố tạo nên phong thủy âm trạch vượng gia vượng tài, giúp con cháu đời sau được hưởng phúc ấm của tổ tiên. Ngày nay, hầu hết nghĩa trang đều có quy hoạch nhất định, việc chọn cuộc đất nhìn sông dựa núi, có long mạch, sa huyệt như hướng dẫn là rất khó. Nhưng vị trí đặt huyệt và sơn hướng của huyệt thì vẫn có thể tự quyết định được.
 
Dựa vào những gợi ý phía trên, bạn đọc có thể xác định vị trí và hướng tốt để táng mộ cho người nhà. Muốn chắc chắn hơn, hãy mời thầy phong thủy xem xét, đo đạc, tìm hướng cho chính xác.
tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829

Sơn – hướng và trạch trong Phong thủy?

  Xét riêng môn Bát Trạch, ta thấy các khái niệm chính được đưa ra không kèm theo một định nghĩa nhất quán và do đó đã đưa đến những quan niệm trái ngược về Tả, Hữu, Sơn, Hướng, Trạch mệnh…
   Sau khi căn cứ vào biến quái và quan hệ sinh khắc để định Bát Trạch du niên, người ta căn cứ vào vị trí các cung cát hung để quy ra Đông Tứ Trạch và Tây Tứ Trạch phối hợp với Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh từ 8 Quái mệnh. Cách định danh Trạch không được quy định chặt chẽ nên sách này theo Hướng, sách kia theo Sơn. Người học theo sách phối hợp Trạch và Mệnh quái không biết thế nào là đúng.
   Với quan điểm Âm trạch có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ cháu con trong khi Dương trạch chẳng qua chỉ thích nghi với một chủ gia đình, Khoa Phong Thủy Dương trạch hẳn chỉ là phần ngọn của trái núi băng mà thôi. Vì người ta cho rằng khoa Âm Trạch dựa trên những đặc tính đảo chiều của Dương Trạch, nên khó tin rằng Phong Thủy Âm Trạch có mức độ lý luận hoàn hảo hơn Phong Thủy của Dương Trạch.
   Có lẽ Phong Thủy – như nhiều người đã khẳng định – là một thuật quý tộc, ban đầu chỉ dành cho vua chúa và giới thượng lưu sử dụng. Những tầng lớp này dùng Phong Thủy  để chọn đất làm kinh đô, xây thành lũy, đền đài, cung điện và dinh thự. Những công trình này bao giờ cũng có hình dáng có thể quy về hình vuông, có tỷ lệ diện tích xây dựng trên chiều dài tường bao thuận lợi hơn cả. Những công trình này đặc biệt thích hợp cho việc áp dụng các quan hệ Bát quái đơn thuần hoặc các quy tắc của thuật Bát Trạch.
   Những tác giả sau này của giới Phong Thủy Hồng Kông cũng nhận thấy những nhược điểm trong hệ thống lý thuyết của Phong Thủy, nhất là của Bát Trạch nên họ cố gắng đưa ra những định nghĩa cho các khái niệm chủ yếu của Phong Thủy nói chung và Bát Trạch nói riêng như Eva Wong, Joey Yap… Sau tham khảo những tư liệu của họ. Ta cần nghiên cứu suy luận, chỉnh lý.
Xuất sứ của Sơn và Hướng
   Có tác giả đưa ra nhận định rằng, người xưa khi chọn chỗ xây nhà thường dựa trên quan điểm ghế bành, tức là phải có Sơn để tựa lưng và hai bên Tả Hữu che chắn cho an toàn. Chính vì ưu tiên làm nhà tựa lưng vào gò, núi nên mới có từ Sơn chỉ lưng nhà, chứng tỏ những người lập ra môn Phong Thủy vốn sinh sống ở vùng nhiều núi, như Nam Hồng Kông ngày nay. Quan điểm tìm chỗ dựa lưng này cũng thể hiện trong thuật tác chiến, tự vệ. Như Hồ Dzếnh đã nói đến trong tác phẩm của ông, cho đến giữa thế kỷ trước HK có hai loại người chính, một loại làm lụng kiếm ăn còn loại kia chuyên đi ăn cướp. Nếu lập một gia trang có ba mặt được thiên nhiên bảo vệ trừ mặt trước, chắc chắn việc phòng vệ sẽ dễ dàng hơn cho người trong nhà. Như vậy, chắc chắn sẽ có những học giả hoặc những người ứng dụng Phong Thủy xuất phát từ thực tế đi chọn đất làm nhà mà xem Sơn quan trọng hơn Hướng.
   Nếu những dân tộc du mục trên thảo nguyên lập ra môn Phong Thủy, chắc sẽ không có danh từ Sơn. Ta có thể tin rằng họ sẽ xem Hướngquan trọng hơn vì phải bố trí cửa lều thích hợp tránh ảnh hưởng gió mạnh. Nếu Phong Thủy là một học thuật ứng dụng được trên toàn cầu, nó sẽ phải trút bỏ những giới hạn gây ra bởi ngôn ngữ như từ Sơn… hoặc những ảnh hưởng mang tính thực dụng phụ thuộc vào địa phương, khu vực văn hóa…
   Thực ra, để tránh những xung đột của hai cách định danh hai dạng cư xá theo Hướng hoặc theo Sơn ta chỉ cần hiểu các khái niệm Đông Tứ Gia, Tây Tứ Gia căn cứ vào hai nhóm chính phân bố các cung Cát, Hung của Nhà ở và của Mệnh để phối hợp sao cho hợp lý là đủ.
   Điều quan trọng ở đây là phải xác định được Hướng hậu (Sơn) hay Hướng tiền (Hướng), yếu tố nào có tác dụng mạnh hơn đối với con người cư ngụ trong căn nhà hay căn hộ đó.
Xác định Hướng
   Theo nhiều tác giả và hợp với suy luận, Hướng hậu và Hướng tiền gọi chung là Hướng nhà phải nằm trên một đường thẳng đi qua tâm nhà. Xác định được Hướng tiền sẽ biết Hướng hậu.
   Xuất phát từ một căn nhà tiêu chuẩn hình vuông, Hướng nhà sẽ đi qua điểm giữa cạnh trước và cạnh sau của nhà.
   Ở đây lại nẩy ra một khái niệm mới: Trước (và Sau), thế nào là Trước.
   Nếu ta quan niệm một người ngồi mặt, ngực, bụng bao giờ cũng hướng về phía trước thì một cái nhà chắc cũng không thể khác. Nếu Hướng chính là phía mắt ta nhìn tới thì một căn nhà có chiều dài áp sát một minh đường rộng rãi như bãi đá bóng chẳng hạn, ta cũng không thể theo “Thẩm thị Huyền Không học“ mà quyết định rằng đó chính là mặt trước của nhà nếu như bờ tường nhà phía này không có cửa sổ hoặc ít hơn hẳn so với các bờ tường phía khác. Đó là vì căn nhà ấy đang hướng về phía khác thông qua những cặp mắt cửa sổ của nó. Một cửa ra vào có thể thường xuyên đóng kín, nhưng các cửa sổ đưa ánh sáng, không khí vào nhà không mấy khi bị bịt kín.
   Phong Thủy quan tâm đến Khí, phía tường có nhiều cửa sổ có lẽ là phía tiếp nhận Khí chính của căn nhà. Người ta nói nhiều về thuộc tính của Khí. Kinh nghiệm cũng ít nhiều chứng minh là khi một vật nhọn (tập trung ác khí) chĩa thẳng vào cửa sổ nguy hiểm với người trong nhà hơn là khi nó chĩa vào một bờ tường kín. Ngược lại, một cái cửa ra vào trổ rất đúng cát hướng nhưng nhìn vào bờ tường hàng xóm ở cự ly 1,5 thước thì cái Cát ấy cũng bằng không.
   Các ngôi nhà, căn hộ trong thực tế có nhiều hình nhiều dạng, có lẽ trực quan người làm Phong Thủy có kinh nghiệm sẽ nhận ra được đâu là Hướng nhà thực sự. Cũng theo quan điểm đã trình bầy trên, Hướng tiền sẽ có ảnh hưởng chính yếu.
Trạch là gì
   Theo Tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh từ Trạch có nhiều nghĩa trong đó có một cách viết chữ Trạch mang nghĩa là nhà ở, mồ mả. Từ đó có các từ ghép như trạch-khoán là khế ước bán nhà, trạch-ưu là nỗi buồn trong nhà. Danh từ đặc trưng cho nhà ở chắc phải ra đời ít nhất là khi người ta thôi ở hang và biết cất lều để cư trú. Do đó, nếu người Tàu không có từ nào thông dụng hơn từ Trạch để chỉ nhà ở bình thường (TP không sành Hán tự ) thì chắc khó thể chứng minh từ Trạch xuất xứ từ tiếng Việt cổ.
   Phong Thủy LạcViệt đưa ra khái niệm Trạch – như anh Thiên Sứ đã giải thích – khái niệm này không thể lẫn lộn với khái niệm Trạch trong từ Bát Trạch nói trên, vì khái niệm Bát Trạch này được xác định dựa vào Hướng hậu (Sơn) hoặc Hướng tiền (Hướng) của một ngôi nhà.
   Vì khái niệm Trạch trong Phong Thủy Lạc Việt có tương quan với long mạch, tức là mang yếu tố đường truyền dẫn Khí.Nên ta có thể có nhận xét là:

Trạch của một căn nhà là phần nối tiếp của một chi (nhánh) dẫn Khí xuất phát từ một nguồn Khí nhất định.
   Do Khí tồn tại trong Hình, có những hình thể hiện Khí tụ, ngược lại những con đường là mạch khí vận hành định hướng. Ngõ vào nhà xuất phát từ một con đường xa lộ chắc chắn không thu được Khí tốt như khi xuất phát từ một khu vực tụ Khí. Với suy luận như vậy, Trạch sẽ là một thứ Khí mạch từ xa tới đi qua cửa chính của ngôi nhà và ra khỏi cửa thoái khí trở về với tự nhiên – như anh Thiên Sứ cho rằng:
   Thiết kế nhà nên tránh hiện tượng bế khí. Nếu vậy Trạch sẽ là con đường thuận tiện nhất để Khí sau khi qua cửa vào trong nhà tìm cửa Thoái khí mà ra ngoài.   Nếu nhận xét này là hợp lý ta sẽ thấy nên bố trí nội thất sao cho Khí qua cửa chính đi vào trong nhà có thể qua hết các khu vực sinh hoạt chính để trục hết tà khí đi rồi mới ra ngoài trời. Nhận xét này ít nhất cũng hợp lý ở kinh nghiệm phong thủy, tránh không để cửa ra vào cùng các cửa trong và cửa sổ tường hậu hay cửa hậu thông nhau trên một đường thẳng là đường Khí đi ngắn nhất (Những tai hại xẩy ra không phải chỉ thuần túy vì gió lồng).
   Trong một cuốn sách Phong Thủy, tác giả tuy không nên khái niệm Trạch, nhưng nhấn mạnh việc phải bố trí Khí khẩu sao cho Khí vào nhà không lưu thông với tốc độ quá cao không chỉ gây gió lồng ảnh hưởng đến sức khoẻ mà còn gây các thiệt hại tài lộc khác. Tác giả đề nghị nên bố trí để dòng khí lưu thông được dễ dàng lần lượt qua các khu vực chính trong nhà. Một cuốn sách khác nhấn mạnh rằng , đối với một tòa nhà thì xét Hướng tiền là quan trọng, nhưng trong nhà phải xét Khí khẩu theo Bát quái du niên, vì phải chú ý đến đường khí lưu chuyển.

   Nhiều nhà tuy có cửa chính, nhưng phần lớn thời gian trong ngày chỉ dùng cửa phụ. Như vậy Trạch của họ chỉ mang tính lý thuyết. Khi xét cụ thể có lẽ phải xét Trạch của cửa phụ. Cũng qua cách suy luận trên đây ta phải đi đến kết luận là dù Trạch được bố trí tốt đẹp đến đâu, nhưng nếu nó không có nguồn Khí dồi dào nuôi cho thì cũng chỉ là Trạch giả. Thí dụ một căn nhà nhà cao cửa lớn nhưng lối vào phải lách qua mấy cái ngõ nhỏ xuyên qua sân nhà khác. Như vậy ý nghĩa của Trạch theo quan điểm Phong Thủy Lạc Việt không thể tách rời Hình Lý Khí của mội trường kiến trúc

Núi ngũ tinh có ý nghĩa gì


Núi ngũ tinh chỉ 5 loại hình núi: Kim tinh, Mộc tinh, Thủy tinh, Hỏa tinh,Thổ tinh.
- Kim tinh (Kim sơn): dáng núi, đầu núi tròn, chân thoai thoải.
- Mộc tinh (Mộc sơn): dáng thẳng, núi cao, tù đầu.
- Thủy tinh (Thủy sơn): dáng uốn, núi thấp, đầu hình sin.
- Hỏa tinh (Hỏa sơn): dáng nhọn, núi cao, đầu nhọn.
- Thổ tinh (Thổ sơn): dáng vuông, đầu bằng.

Hình thái núi ngũ tinh

Bốc Tắc Ngụy trong sách “Tuyết Tâm Phú” nói: “Phải xét kỹ ngũ tinh biến hóa”. Sách chú giải thêm rằng: "Ngũ tinh tức Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vậy. Núi tròn gọi là Kim sơn, núi vuông gọi là Thổ sơn, đầu tròn thân dài gọi là Mộc sơn, nhọn hoắt gọi là Hỏa sơn".

Ngũ hành tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.

Ngũ hành tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

Táng nhờ vào sinh khí nghĩa là sinh khí vượng thì chủ kết huyệt đại phú quý. Trong sách “Địa lý nhân tử nên biết”, chương “Long Pháp” của Từ Thiện Kế nói: “Các thầy địa lý ngũ tinh tụ giảng, giống như ngũ tinh tương tụ trong thiên văn. Nếu long mạch có cách này (loại hình này), đó mới là đất kết huyệt đại quý ”.

Nhận dạng 5 hành trong môi trường địa lý


Việc nhận diện các hành trong môi trường địa lý giúp bạn có thêm 1 số kiến thức cơ bản bổ sung vào sổ tay phong thủy của mình.

Âm dương trong địa hình

Nói chung, cảnh thành thị nặng dương tính hơn cảnh thiên nhiên như núi và biển ở cao nguyên và miền duyên hải. Tuy nhiên, mức cao thấp của đặc tính âm - dương còn tùy thuộc vào cường độ ánh sáng, hướng nắng vì nguồn sinh lực chính của vạn vật là ánh nắng mặt trời.

Nhà lầu cao và dài có tính âm hơn là những nhà thấp hình vuông, tròn và đa giác.

Ngũ hành trong địa hình

5 dạng đất đai trong sách địa lý cổ xưa được phân loại theo ngũ hành như sau:

1. Thổ hình

Thế đất hình Thổ

Thế đất thấp, bằng phẳng, thường thấy ở đồng bằng hay những bình nguyên với ruộng đất “thẳng cánh cò bay”. Nếu có đồi núi thì bóng dáng nhìn chung là song song với đường chân trời.

Thế đất này không có nét cong vòng, không có đỉnh nhọn hoặc thon cao. Núi đồi trông như mặt bàn. Áp dụng vào không gian kiến trúc hiện đại thì nó là khu vực nhà hình hộp mái bằng ở các thành thị.

2. Kim hình

Thế đất hình Kim

Dạng đồi đất trông như hình bát úp. Áp dụng vào kiến trúc hiện đại có thể thấy sự hiện hình của nó qua khu nhà mái vòm của kiến trúc Ấn Độ, Hồi giáo.

3. Thủy hình

Thế đất hình Thủy

Dáng uốn, núi thấp, đầu hình sin. Có thể ví thế Thủy hình uốn lượn như sóng nước hoặc nhấp nhô, bất định như nước tràn lan.

4. Mộc hình

Thế đất hình Mộc

Là dạng vùng núi non cao chót vót nhưng không có đỉnh nhọn như đồi núi vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Áp dụng vào kiến trúc hiện đại là những bóng nhà đền đài, cột cao, nhà chọc trời ở Mỹ và nhiều đô thị hiện đại.

5. Hỏa hình

Thế đất hình Hỏa

Dạng núi có đầu núi non nhọn như ngọn lửa. Áp dụng vào kiến trúc hiện đại là các nóc nhà tam giác, tháp nhà thờ, đền chùa ở Thái Lan và các nước Đông Nam Á.

Phong thủy âm trạch là một ngành khoa học, nhấn mạnh sự hòa hợp giữa con người với sinh khí tự nhiên. Phong thủy hung cát của mộ phần tổ tiên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vận mệnh tiền đồ của con cháu đời sau.
 
Trước giờ, phong thủy luôn là việc mà mọi người chú ý và xem xét đầu tiên khi làm các việc liên quan đến an táng mộ phần. Phong thủy âm trạch có ảnh hưởng rất lớn đến khí vận, tài vận của người còn sống. Vậy trong phong thủy âm trạch có những điều gì cấm kị và cần chú ý đến? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé.


15 loi phong thuy am trach gay hoa cho con chau doi sau hinh anh 2
 
Mời bạn đọc xem thêm bài viết: Kiến thức cơ bản về phong thủy âm trạch để cùng hiểu rõ hơn một trong những khía cạnh chính của phong thủy học.
 

1. Mộ phần bị dẫm đạp


Có những phần mộ nằm ở nơi công cộng nhiều người qua lại, thường xuyên bị mọi người vô ý dẫm đạp lên, thậm chí còn bị đi thành đường mòn trên mộ. Nếu để mộ phần nhà bạn rơi vào tình cảnh này cực kì nguy hiểm. Bởi như vậy thì mộ phần đã bị hủy hoại, linh hồn người đã khuất không được an ổn, chịu cảnh người đời giày xéo.
 
Tương ứng với việc đó, con cháu đời sau cũng sẽ chịu thân phận thấp hèn trong xã hội, khó lòng ngóc đầu lên được. Cả đời nghèo khó, thường bị người khác sai phái, nạt nộ, khó lòng làm nên nghiệp lớn.
 

2. Mộ phần thất lạc, chỉ có xương cốt mà không có bia mộ


Theo thời gian, do nhiều nguyên nhân như loạn lạc hay nghèo khổ phải bỏ xứ mà đi, nhiều ngôi mộ không còn bia mộ, cũng không có gì đánh dấu. Lâu ngày, những ngôi mộ đó bị thất lạc, con cháu không tìm lại được nên cũng không người hương khói, ngày lễ tết không được cúng tế.
 
Nếu gia đình bạn có bị thất lạc mộ phần thì nên cố gắng tìm lại, nếu không con cháu đời sau dễ lâm vào cảnh tha hương, tứ cố vô thân, sự nghiệp không thuận lợi, làm gì cũng thất bại.
 

3. Mộ phần bị đóng cọc


Có những lúc, công nhân khi xây dựng, cải tạo lại mộ phần vì tiện lợi mà đem cọc đóng vào phần mộ của người khác để dựng lều bạt che mưa che nắng. Làm vậy cũng giống như đóng cọc vào linh hồn của người đã khuất, khiến họ bị đè áp, tổn thương sâu sắc.
 
Con cháu nếu không chú ý mà để phần mộ cha ông bị như vậy rất có thể sẽ bất ngờ bị thương, tai nạn hoặc bị giết hại. Bản thân những người công nhân khi làm việc cũng đừng vì một chút tiện lợi mà hại người, gieo nhân quả ác.
 

4. Mộ phần bị ngập nước


Có những phần mộ được an táng ở nơi thấp trũng, mỗi khi trời mưa to gió lớn thì thường bị ngập trong nước. Cũng có trường hợp, xung quanh có người xây lại mộ vô tình khiến hướng nước chảy thay đổi, làm cho nước chảy xuống ngập quanh mộ phần người khác.
 
Ngoài ra, nhiều ngôi mộ được đặt ở gần sông suối, hồ ao, hoặc theo thói quen của người Việt xưa, an táng cho người nhà ở ngay phần ruộng nhà mình nên khi mưa lớn hay lũ lụt là nước dâng lên, nhấn chìm ngôi mộ trong biển nước.
 
Theo phong thủy âm trạch, mộ bị ngập nước sẽ khiến cho linh hồn người đã khuất chịu cảnh rét mướt, con cháu đời sau cũng vì thế mà sức khỏe yếu ớt, sợ gió sợ lạnh, dễ mắc các chứng bệnh xương khớp, phong thấp, ho hen hay cảm mạo. Thậm chí, nghiêm trọng hơn còn khiến cho con cháu họ bị chết đuối hay say rượu mà tử vong.


15 loi phong thuy am trach gay hoa cho con chau doi sau hinh anh 2
 

5. Mộ phần bị chèn ép


Những ngôi mộ đời trước, xây dựng từ thời xa xưa phần lớn đều không có tường bao hay nằm trong quần thể kiên cố. Sau này, những ngôi mộ mới dần mọc lên, khiến cho những ngôi mộ này bị chèn ép ở giữa, có chỗ còn bị lấn chiếm đất, lấn sát vào mộ.
 
Cứ thế, người trong mộ khó lòng an nghỉ, đến chỗ để thở cũng không có. Con cháu người đó cũng khó có thể an cư lạc nghiệp, rất có thể chịu nhiều hậu họa từ nhà đất. Chọn hình thế đất táng mộ chuẩn phong thủy, con cháu đời sau tha hồ hưởng lộc.
 

6. Mộ phần bị gỗ quan tài hay gạch đá đè lên


Nhiều ngôi mộ không được quây gọn trong một quần thể riêng, khi bên cạnh có người an táng, cải táng thì rất có khả năng bị những thứ vứt bỏ đi trong quá trình đó như gỗ quan tài hay gạch đá, bùn đất đè lên.
 
Khi đó, linh hồn bên dưới mộ cũng sẽ chịu thương tổn, con cháu có thể bị trúng phong, bị thương chân tay hay thành người thực vật, nằm liệt trên giường. Nếu gạch đá đè lên phần đầu mộ thì con cháu dễ bị tai nạn tổn thương đến não bộ hay bị bệnh thần kinh. Gạch đá đè lên xung quanh mộ, con cháu sức khỏe yếu, hay bị đau người, nhức mỏi toàn thân.
 

7. Mộ phần bị đào trộm


Những nhà giàu có khi an táng người thân thường đặt những đồ vàng bạc quý giá làm đồ tùy táng, khiến những kẻ xấu xa nổi lòng tham, sinh ý đào trộm mộ. Chẳng những đồ tùy táng bị lấy mất mà xương cốt người đã khuất còn bị phơi bày, dễ bị thú hoang xâm phạm.

Linh hồn người đã khuất khó lòng siêu thoát, con cháu đời sau dễ gặp bất trắc trên đường, có thể bị sát hại, vứt xác nơi hoang vắng, thậm chí đứt đoạn huyết mạch sau này.


15 loi phong thuy am trach gay hoa cho con chau doi sau hinh anh 2
 

8. Xương cốt bị thất tán


Những ngôi mộ an táng ở nơi hoang vắng, không được coi sóc thường xuyên rất dễ bị thú hoang đào lên xâm phạm. Chúng phá quan tài, bới xương cốt lên tha đi khắp nơi. Những phần xương còn sót lại cũng bị vứt lung tung bên trong mộ. Đây là điều tối kị trong phong thủy âm trạch.
 
Linh hồn bị giày xéo, dễ sinh tranh chấp với những linh hồn khác, ảnh hưởng đến sự nghiệp của con cháu đời sau, dễ bị vướng vào chuyện thị phi hay bị người đời gây khó dễ, dùng mưu kế hãm hại.
 

9. Đất trước mộ bị sụt lún, xói lở


Nếu mộ được táng ở nơi đất mềm hoặc bên bờ đồi núi, ruộng nương thì rất dễ bị sụt lún hoặc xói lở, khiến cho mộ bị nghiêng. Ngoài ra, những ngôi mộ đặt ở nơi cao, không có gì che chắn như trên đỉnh đồi đỉnh núi cũng không tốt, bởi không có cảm giác vững chắc, dễ bị gió mạnh làm chao đảo.
 
Người đã khuất nằm trong mộ cũng không được an nghỉ, luôn lo lắng bất an, do đó mà con cháu đời sau cũng chịu ít nhiều ảnh hưởng, có thể bị ngã cầu thang, trượt chân hoặc gặp tai nạn giao thông. Do đó, chúng ta cần phải nắm rõ những thế đất đại hung khi táng mộ cho người đã khuất.

 

10. Gạch đá, đất cát chất đống xung quanh mộ


Có những người công nhân khi làm việc không chút kiêng kị mà đem gạch đá hay cát sỏi, xi măng dùng trong quá trình xây dựng chất đống phía trước hay xung quanh mộ người khác, khiến cho hương hồn dưới đó chịu đè ép, đau đớn. Con cháu người đó thường dễ mắc các bệnh về nội tạng như đau dạ dày, đau đại tràng hay gan mật kết sỏi.
 

11. Kiến mối, rắn chuột đào xới, làm tổ trong mộ


Do nhiều yếu tố mà trên mộ có thể hình thành những lỗ khuyết, khiến cho kiến, mối hay rắn, chuột chui vào đó tìm kiếm thức ăn hay làm tổ ngay trong mộ, phá hoại cốt quách, gây sụt lún mộ phần.
 
Linh hồn người đó cũng phải chịu nhiều sợ hãi, bị kinh hoàng hoảng sợ. Con cháu họ vì thế mà chịu cảnh tha phương lưu lạc, nghèo khổ không chốn dung thân, hay vướng nạn chém giết, đánh nhau, bị thương vong hoặc rơi vào cảnh tù tội.
 

12. Mộ đè lên mộ


Thời trước khi lập mộ làm rất đơn giản, dùng đất đắp vun thành mô cao, sau đó lấy gỗ hoặc gạch đá khắc thành bia mộ. Lâu ngày, mộ bị xói mòn, không còn dấu hiệu gì nhận biết, trở thành khoảnh đất bằng phẳng. Sau này, do đất an táng ngày một hiếm hoi, các ngôi mộ cũng đan xen khin khít, khó lòng phân biệt nên có trường hợp đã xây mộ mới đè lên mộ cũ, mộ đè lên mộ.
 
Theo phong thủy âm trạch, khi hai ngôi mộ đè lên nhau, linh hồn người nằm đó cũng không thể nào an ổn. Con cháu của mộ nằm dưới cả đời sống hèn mọn, luôn bị người khác chèn ép, sai phái. Còn con cháu của mộ nằm trên cũng chẳng được thuận lợi, sự nghiệp trắc trở, gặp đủ khó khăn, khó có thể thành công.


15 loi phong thuy am trach gay hoa cho con chau doi sau hinh anh 2
 

13. Rễ cây đâm xuyên quan tài, dây leo mọc trùm lên mộ


Những ngôi mộ được táng cạnh những cây gỗ có bộ rễ phát triển mạnh như cây phong, cây thông hay tùng bách rất dễ bị rễ cây đâm xuyên qua quan tài, chèn ép lên xương cốt. Cũng có trường hợp, dây leo xung quanh mọc quá tốt, trùm kín lên trên mộ.
 
Khi ấy, chẳng những linh hồn người phía dưới không thể thoải mái, bị gò bó chèn ép mất tự do mà con cháu họ cũng phải chịu nhiều hậu họa. Có thể bị các bệnh về tiêu hóa như chảy máu dạ dày, ung thư đại tràng, đau ngực đau tim, ảnh hưởng đến trí tuệ dẫn đến các bệnh như thần kinh, đần độn, chậm phát triển, cũng có thể phạm tội phải chịu cảnh tù ngục triền miên. Vì thế mà nên đặc biệt lưu ý khi trồng cây tại mộ.

 

14. Tường bao kín quanh mộ, không có cửa hay lối ra vào


Khi xây dựng mộ phần, nếu bất cẩn làm tường bao kín, không chừa lại chỗ làm lối ra vào, sau này con cháu mỗi lần đến thăm và làm lễ lại tùy tiện bước qua tường vào bên trong thì cực kì không tốt.
 
Linh hồn người đã khuất bị nhốt bên trong, không được siêu thoát, khiến con cháu sau này dễ phải ra vào chốn lao tù.
 

15. Lỗ thoát nước ở khu mộ quá lớn hoặc bị tắc


Khi xây quần thể khu mộ, người ta thường sẽ phải tạo hệ thống thoát nước để mộ không bị ứ ngập nước.
 
Lỗ thoát nước không được quá lớn, nếu không tiền tài sẽ theo đó mà trôi mất, con cháu đời sau nghèo khó, tài vận cực kém hoặc mắc các bệnh tiêu hóa. Còn nếu lỗ thoát nước bị tắc bởi gạch đá hay cây cỏ chèn vào thì con cháu sẽ bị các bệnh về mắt mũi hay đường tiết niệu, hiếm muộn đường sinh nở.tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829

Huyệt ở thế núi Lộc Tồn là một trong những dạng huyệt có phong thủy khá đẹp. Nếu đang chọn nơi đặt huyệt cho người thân, bạn nên tham khảo.
Núi Lộc Tồn là một trong số núi kết huyệt. Núi vuông tròn như chiếc trống, phần dưới phình to như chiếc hồ lô. Núi Lộc Tồn thuộc Thổ. Tòa nhà bên thuộc Thổ trạch. “Hám Long Kinh” của Dương Tùng Quân chia núi Lộc Tồn thành 9 loại căn cứ theo dạng núi như sau: 
Loại thứ nhất: Hình núi như chân trống, chân núi phân nhánh thành cặp cân xứng. Núi này kết hợp với Tham Lang, Hữu Bật, chủ đắc quý

Loại thứ 2: Hình núi kiểu bát úp, chân núi phân thành nhiều nhánh nhọn. Gia chủ ngụ tại núi này có uy quyền. 
Loại thứ 3: Chân núi như móng hạc, long mạch ẩn. Nếu xung quanh có gò Thanh Long Bạch Hổ đẹp thì là huyệt cát. 
Loại thứ 4: Hình núi lõm, chân phân nhánh không đồng đều. Thế núi này chỉ nên xây dựng đền miếu.
Loại thứ 5: Chân núi phân nhánh từ đỉnh, chi cước huyệt mộ của núi phải hồi chuyển thì mới cát. 
Loại thứ 6: Thế núi như sóng lớn, huyệt cát phụ thuộc thủy triều. 
Loại thứ 7: Hình núi như rắn cuộn, giữ vai trò bao bọc núi chính. 

Loại thứ 8: Hình núi như mũ sắt, thế núi có kết huyệt quý. 
Loại thứ 9: Hình như hoa rụng, chỉ làm núi hộ vệ cho chủ sơn (tức núi có huyệt mộ). 
Núi Lộc Tồn thuộc hành Thổ. Phải dựa vào hình dáng núi thì mới xác định đó là hung hay cát. Núi cát lập mộ gia chủ thì con cháu ăn nên làm ra. Hình núi Lộc Tồn ngay ngắn, phía trước có núi nhỏ đẹp tức núi có tượng quan chức. Đằng sau có “tua kiếm” (gò, chân núi phân nhánh) tức chủ có binh quyền. Nếu kết hợp với núi Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật sẽ trở thành đất đại quý. 
Phía chân núi Lộc Tồn phân nhánh nhiều nhưng không đều hoặc như càng cua, chân nhện, không có núi bao bọc thì chủ nhân mắc bệnh tật, hậu thế khó nên người. Bởi vậy, các nhà phong thủy kỵ núi này và coi là ác sơn. 
Dương trạch (nhà ở) Lộc Tồn có nền cao thấp không đều, lầu gác nhấp nhô, 2 nhà phụ cao át nhà chính là Lộc Tồn Thổ trạch. Nếu tường nhà có đầu thú hoặc bị đường ngõ xiên cắt là hung.

Phong thủy âm trạch là lĩnh vực rất khó, thường phải mời thầy để xác định. Dưới đây là một số nguyên tắc phong thủy âm trạch cơ bản để bạn có thể tự xác định xem mộ phần nhà mình có được đặt nơi đất tốt hay không.

1. Rồng đến có thế, phát mạch từ xa 

Việc lựa chọn âm trạch trước hết phải xem thế núi toàn cảnh. Núi xa là thế, núi gần là hình, hình do thế quyết định. Theo phong thủy, đất tốt, có long mạch là nơi núi non nhấp nhô, trùng điệp, liền một dải như sóng nước, như ngựa phi, thế đến như bay, như long loan đang trên cao sà xuống. Đó là thế lai long. 
Lai long lớn, rồng đến khí thế, có “toàn khí” thì đất cao, nước sâu, cây cỏ tươi tốt, có sông có núi, hình thế phú quý. 

Thế của rồng đến thường có quan hệ với phát mạch xa xôi . Phát mạch của rồng đều ở nơi những dãy núi hội tụ, cho nên mới gọi là "Lai long thiên lý”, ý nói là huyệt vị phong thuỷ thường có quan hệ với đầu nguồn của long mạch, chỉ có sơn mạch to lớn mới có thể hình thành chi long dài rộng . Như vậy rồng mới có khí thế, huyệt cũng mới có sinh khí.

2. Lớp lớp che chắn, từ xa đến gần 

Như trên đã nói hình thế to lớn của rồng có quan hệ với phát mạch từ xa, nhưng phát mạch từ xa không phải từ đầu đến cuối là một đường thẳng, mà phải có lớp lớp che chắn, có tầng tầng lớp lớp hộ vệ chủ mạch. Hình pháp gia cho rằng núi mà không có che chắn thì chủ long sẽ cô đơn, che chắn càng nhiều càng cát tường.

3. Tứ cục phân minh, bát long hữu dị 

Nhà phong thuỷ căn cứ ngũ tinh ở trên trời đối ứng với ngũ hành của núi sông, cho rằng hình núi trên đất, dốc thuộc Mộc, nhọn thuộc Hoả, vuông thuộc Thổ, tròn thuộc Kim, dài thuộc Thuỷ. Dựa vào lý luận tương sinh tương hợp của ngũ tinh để suy đoán tài quan ấn lộc, dùng 24 sơn hướng để chỉ rõ hướng táng khác nhau. 
Hướng Đông thuộc Mộc long , hướng Nam thuộc Hoả long, hướng Tây thuộc Kim long, hướng Bắc thuộc Thuỷ long. Gọi là tứ cục. Theo phép tăng giảm của Âm Dương, bốn loại long cục đều có phân Âm Duơng, bắt đầu là Âm long, thịnh là Dương long.

4. Huyệt trường phân minh, huyệt hình đa dạng 

Môi trường âm trạch về mặt vĩ mô phải là nơi khí thế to lớn, về mặt vi mô phải có huyệt trường rõ ràng. Phạm vi của huyệt trong phong thuỷ rất nhỏ thường gọi là “Huyệt tám thước”, là một miếng đất tấc vuông “Thừa sinh khí, trú tử cốc”. Vị trí rất khó tìm chuẩn, vì vậy trong ca dao cổ có câu:  “Nhìn thế tìm long dễ, muốn biết huyệt điểm khó”. 
Huyệt hình của huyệt phong thuỷ thường có sự khác nhau do địa hình cục bộ, vì vậy chia ra làm oa huyệt, kiềm huyệt, nhũ huyệt, đột huyệt. 

Oa huyệt hình giống như tổ chim yến, chôn ở nơi lõm xuống , thường gặp ở nơi núi cao. 
Kiềm huyệt hình dáng giống như hai chân bắt chéo lên nhau như gọng kìm, còn gọi là khai cước huyệt, ở núi cao bình địa. 
Nhũ huyệt thì huyệt tinh mở ra, ở giữa có nhũ, còn gọi là huyền vũ huyệt, hoặc cũng gọi là nhũ đầu huyệt, ở bình địa núi cao. 
Đột huyệt, tinh huyệt bằng, ở giữa nổi lên, còn gọi là bào huyệt. Nó có hình nồi úp, đỉnh có nhiều kiểu, thường gặp ở bình địa.

5. Núi bao nước vòng, bốn mặt vây bọc

 Môi trường âm trạch tốt hay xấu, ngoài long thế long cách, che chắn, huyệt trường còn phải có núi non bao bọc, sơn thủy hữu tình, tạo thành tiểu môi trường hài hòa. 

Nơi có chính huyệt núi phải trẻ, minh đường mở rộng, hình thế bốn bên chụm, kín gió,  nước tụ. Sơn minh thuỷ tú mưa thuận gió hoà , đất trời sáng sủa, thanh tịnh trong ồn ào, phồn hoa trong thanh tịnh, trông thấy là muốn nhìn, đến gần thấy lòng vui tươi, khí phải tích, tinh phải tụ. Đó là thế đất cực tốt để đặt huyệt. 
Sa thuỷ đồng hành với nhau. Thanh Long, Bạch Hổ là hai sa sơn bên trái, bên phải. Ở gần phía trước huyệt là núi thấp gọi là án, ở xa phía trước huyệt là núi lớn gọi là triều (có nghĩa là triều bái). 
Nơi nước uốn lượn chảy ra gọi là thuỷ khẩu, hai bên thuỷ khẩu phải có núi cao dựng đứng khép lại gọi là thuỷ khẩu sa. Núi của thuỷ khẩu phải cao và lớn, vòng mà khép lại. Nước chảy ra phải chậm rãi uốn lượn, không được chảy nhanh, nếu không sẽ tổn sinh khí.
Vì vậy tại thuỷ khẩu càng nhiều lớp núi càng tốt. 
Sự phân hợp của sơn thuỷ tạo thành môi trường lớn với núi bao nước vòng, kết hợp với sa, triều, án tạo thành môi trường nhỏ trấn giữ bốn mặt.

Chọn hướng xây mộ tốt trong nghĩa trang theo phong thủy khi bị Quy hoạch

Phong Thủy cho Lăng Mộ

Phong thủy lăng mộ

Các cụ truyền miệng trong dân gian chắc sẽ không bao giờ sai được : " Có thờ có thiêng, có kiêng có lành" .
Đương nhiên là có, song thật khó mà cầu cho được Phong Thủy thật sự hoàn toàn theo ý của gia đình bạn.
Đại bộ phận các nghĩa trang quy hoạch hoặc đang được đưa về các vùng bán sơn địa để xây dựng, thường lấy dựa sơn làm căn bản, có một số ít không nhiều huyệt vị ở tại vị trí tốt, chính như kinh văn xưa có câu: “Nhất Cá Sơn Đầu Táng Thập Phần, Nhất Phần Phú Quý Cửu Phần Bần – Một Núi Chôn Mười Ngôi Mộ, Một Mộ Phú Quý Chín Mộ Nghèo”.
Có rất nhiều gia đình có quan niệm sai lầm cho rằng khi sống ở vị trí cao thì chết cũng chọn chỗ cao để “đè đầu cưỡi cổ thiên hạ”, đó thật sự là sai lầm vì mộ càng ở chỗ cao càng dễ phạm cái gọi là “Cô Phong Sát” đón gió bốn phương, Thủy không có thì hỏi làm sao có thể Tụ được Khí.
Đặc biệt trong nghĩa trang quy hoạch thường được chia làm nhiều khu, mà trong mỗi khu thì bia mộ chỉ có thể quay về cũng một hướng.
Cho nên đây cũng là một vấn đề nan giải để Phong Thủy Lý Khí lựa chọn. Cho nên chọn lựa đất mộ trong khu nghĩa trang, rất khó mà theo các lý luận thông thường của Lý Khí phong thủy học.
Ngược lại các Phong Thủy Sư rất cần thông biến linh hoạt sử dụng các biện pháp thông thường để chọn lựa, như vậy cần có các kiến thức Lý Thuyết và Thực Hành rất sâu sắc vận dụng mới đạt đến mức tối đa. Sau đây là một số đặc điểm mà chúng tôi đã tổng kết:
 
Thường với công ty Hải Long chúng tôi đi làm mộ đácho khách hàng, rất hay có những Thầy phong thủy cầm " La bàn phong thủy" định hướng gió và định hướng tốt - Vậy nên nó cũng là mộ điều có nghĩa lý chứ.
La bàn phong thủy
Nên tránh Gió (Tỵ Phong) nên chọn lựa chỗ không có gió thổi hoặc ít gió thổi vào trực tiếp vào mặt mộ, đặc biệt tránh xa chỗ có Ao Phong ở đằng sau lưng;
Cố gắng tránh trước mộ có nước xung xạ hoặc thẳng đến thẳng đi;
Tốt nhất là trước mặt có Triều Sơn và đê án lấy làm Quan Nội Khí;
 Trái Phải tốt nhất có Sa hộ vệ.
 Lập đương vận vượng sơn vượng hướng hoặc lập hướng thu cát thủy trước mặt.
 Lấy độ số hướng bia lập Tinh bàn Huyền không, lấy tọa mộ lập Tinh bàn Đại Huyền không sao cho được thu Thủy, khứ Thủy ở vào Lý Khí tốt, lại phù hợp Thiên Tinh.
 Tránh gần nơi có cây to.
 Không trồng cây to trên phần mộ ( nên trồng cỏ mát, và hoa... .
Trên đây là những điểm khá quan trọng, bởi vì bốn điều trên (Hình Thế) khả năng có những cái làm không được, song Vượng sơn Vượng hướng thì có thể làm được.
Những điều khác không đủ, nhưng có được Vượng sơn Vượng hướng hoặc thu Cát Thủy, tuy không thành đại phú đại quý, nhưng cầu nhân tài lưỡng vượng, thuộc nhà khá giả cũng không thành vấn đề.
Điều này tất cần có Phong Thủy Sư cao minh mới có thể làm nổi.
Chính là câu “Giang Sơn Nghìn Dặm ! Không Gian Một Hướng”.

Chết rồi mai táng, Chân Khí của người ta hội với Huyệt Khí tạo thành Sinh Khí, thông qua Âm Dương giao lưu hình thành đường lối, ảnh hưởng trong sâu thẳm, lảng vảng xung quanh vận khí của người thân.

am-duong.jpg

Hai Khí Âm Dương sóng đôi, thở ra tạo thành gió, bay lên tạo thành mây, rơi xuống mà thành mưa móc, chảy trên mặt đất mà thành Sinh Khí. Sinh Khí đi trên mặt đất, khi sinh phát thì nuôi dưỡng vạn vật.

Con người là do tinh cha huyết mẹ kết lại mà thành, cho nên bản thân mình là tinh hoa của hai khí Âm Dương. Mỗi người khi sống là hai khí Âm Dương hoạt động nơi toàn thân, khi mất rồi thịt da tiêu hết, hai khí Âm Dương không hề tiêu mất. Ấy bám trên người, Khí tụ nơi xương, xương người quá vãng không mất, cho nên khí của họ vẫn hoạt động.

Khi hạ táng, cần nhất tìm nơi âm trạch có Sinh Khí, làm cho Sinh Khí kết hợp với hai Khí Âm Dương tồn lưu trong cốt, bảo hộ cho thân nhân đang sống.

Kinh Thư nói: “Người mất rồi có Khí, Khí có thể cảm ứng, ảnh hưởng đến mọi người.” Thế nên sự cảm ứng giữa người sống và người đã khuất là có căn cứ thực sự. Ví như vào đời nhà Hán, quả chuông đồng ở cung Vị Ương kêu thành tiếng, thì núi chỗ đã khai thác đồng để đúc chuông nơi miền tây bị sụp đổ, chính là sự cảm ứng vậy.

Lại như vào tiết trời xuân, cây cối bên ngoài đâm chồi khai hoa, thì các hạt lúa mạch để trong nhà cũng nảy mầm. Khí đi trên mặt đất, khi nó vận hành, tùy theo địa thế mà chạy. Khi tụ tập lại, cũng theo địa thế mà dừng chân.

Cốt đá nơi núi non thung lũng, sống đất đột khởi nơi bình địa, đều là có Khí vận hành nơi đó. Kinh Thư nói: “Khí có gió thổi mà tản mát, gặp chỗ thủy dừng thì đứng tụ. Người xưa làm cho Khí dừng laị mà không để thất tán, dùng giới thủy hạn chế để cho nó không di chuyển đi mất, cái đó gọi là Phong Thủy.

” Phép tắc Phong thủy, được nước hàng đầu, có thể tích chứa gió là thứ hai. Tại sao lại nói vậy ? Bởi vì khi nó dừng lại thì lợi ích thịnh đạt lớn, nên đem khí tản mát các nơi mà tụ tập một chỗ.

Kinh Thư nói: “Thủy chảy trên mặt đất, gọi là Ngoại Khí.” Ngoại Khí dọc ngang là Giới Thủy, Nội Khí trong đất tự nhiên cũng theo đó mà dừng, nói dừng là ở ý này.

Kinh Thư lại nói: Cạn sâu được thừa, Phong Thủy tự thành. Đất là mẹ của Sinh Khí, có đất rồi mới có Khí. Khí là mẹ của Thủy, có Khí rồi mới có Thủy. Cho nên chôn tại nơi khô ráo nông cạn Khí cần nông, chôn tại nơi đất bằng Khí cần sâu.

Các chuyên gia phong-thủy ngày xưa và ngày nay chuyên nghiên cứu về âm trạch, đã chiêm nghiệm và đúc kết ra một số trường hợp không tốt về mộ phần, dẫn đến con cháu gặp nhiều điều bất hạnh…
cay-co-thu.jpg
Sau đây là một số trường hợp không tốt về mộ phần để các bạn tham khảo:
– Mộ chôn gần cây cổ thụ, để rễ cây đâm vào hài cốt: Con cháu bị mổ xẻ, bại liệt, đui mù, câm điếc, giảm thọ.
– Mộ chôn gần đường cao tốc, đường xe lửa, bến tàu, hay nhà máy công nghiệp nặng, làm nhiễu động âm phần: Con cháu gian xảo, buôn gian bán lận, cờ bạc, hút sách.
– Mộ chôn chỗ quanh năm ngập nước phèn, hay sình lầy: Con cháu bị bịnh phì mập, phù thủng, đau thận, đau lưng, hư răng hay mục răng.
– Triệt địa là đào ao nuôi cá, khai mương nước, làm đường xe lửa, xây xa lộ trên đầu mộ, long mạch bị cắt đứt: Con cháu chết bất đắc hay tuyệt tự, không con trai nối dõi.
– Mộ chôn ở diên địa (đất có pha quặng chì), bị phá khí thái cực, gây điên đảo âm dương: Con cháu có người bất phân phái tính, bán nam, bán nữ, đồng tính luyến ái.
– Quan quách mà đóng đinh sắt, thép hay chôn theo vàng bạc, châu báu: Con cháu điên khùng, ung thư.
– Quan tài bằng đá hay kim khí: Con cháu ngỗ nghịch, dâm đãng, giang hồ, tâm thần loạn trí, phạm pháp.
– Mộ xây bằng bê tông cốt sắt mà bít kín mặt nấm, sẽ tạo ra áp lực của nước, của khí. Khi nhục thể bắt đầu thối rữa, phát sinh ra nhiệt, khiến: Con cháu bị huyết áp cao, tiểu đường, hay cholesterol.
– Dùng quế, trầm, tro, củi tẩm liệm: Con cháu bị bệnh lở lói, phung cùi, xấu xí.
– Dùng lụa tơ tằm để tẩm liệm hài cốt, bỏ nhiều giấy vàng bạc có bột kim khí: Con cháu hay trở thành đồng cô cốt cậu, chồng con lận đận.
– Bỏ hột xoàn hay vàng vào miệng người chết để phạn hàm: đời sau tuyệt tự, không con trai nối dõi.
– Long hổ giao nhau. Núi đồi bên trái mộ và những gò đồi bên tay phải mộ, đụng vào nhau ở tiền án hay minh đường: Loạn luân, anh em dòng họ lấy nhau.
– Mộ nghịch long, tức là đầu mộ để dưới thấp, chân hướng về tổ sơn trên cao: Con cháu loạn thần tặc tử, bất hiếu, bất trung.
– Mộ đang kết khí, kết thủy, kết mối mà bốc mộ dời đi: Con cháu suy sụp, chết bất đắc.
– Trùng táng hay trùng huyệt, tức là chôn nhằm chỗ mà trước đây đã có người chôn rồi; hoặc có xương thú như voi, trâu, bò: Con cháu bị bệnh nan y và chết trùng tang liên táng (Nghĩa là nhiều người chết liên tục trong vòng 3 năm. Nếu nút áo của người chết bằng xương thú hay kim khí, cũng phải cắt bỏ, chứ không để nguyên như vậy mà chôn theo người chết).
– Xây mộ bằng đá ong, dùng tà thuật chôn theo người chết những tượng sa thạch, và an táng trên nọa địa hay thiết địa, (đất khô cứng vì có quặng kim khí): con cháu tàn ác dã man, chết vì gươm đao, súng đạn.
– Hỏa thiêu rồi giữ lại hài cốt mà không chịu chôn cất: Con cháu đời sau là nạn nhân của chiến tranh và tai ương.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.