bài viết trong chuyên mục "phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường"

12 con giáp năm bính thân 2016 12 cung hoàng đạo chòm sao tử vi tây phương Áo Dài âm dương tổng luận bát trạch bát tự bếp bí ẩn giấc mơ biểu phí bủa trú phù ấn phong thủy Căn duyên tiền định câu chuyện phong thủy câu hỏi hay quan tâm Cầu Tự Pháp - Phép Đặt Bếp Cầu Con cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ Chọn tuổi xông đất chuyện phật giáo chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học khai trương và cúng giao thừa năm Đinh dậu khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lễ hội đền phủ lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nghi nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phật giáo tổng hợp phong thủy 2021 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy tân sửu phong thủy tân sửu 2021 phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH PHONG-THUY-DUONG-TRACH phongthuyviet Quan Họ sao và vận hạn 2021 thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch tu vi 2017 TU-VI-DAU-SO tử bình tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi 12 con giáp từng năm tử vi năm 2021 tử vi tổng hợp tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem bói tổng hợp xem chân gà Xem Mũi biết bệnh xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo Xem tuổi xông nhà xông đất năm 2021 xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường. Hiển thị tất cả bài đăng


Những điều cấm kỵ khi đặt ban thờ và bát hương

Phong thủy nhà : Cách đặt bàn thờ & bát hương

Phong thủy nhà  phần đầu tiên quan trọng nhất là ban thờ và bát hương. Hôm nay Tử vi 12 con giáp sẽ giúp bạn tổng hợp và liệt kê chi tiết nhé! 

Chọn ngày chọn vị trí: Cần dựa vào tuổi của gia chủ để chọn ngày đặt bát hương. Đồng thời lấy vị trí đại cát của năm xây nhà là phương vị của bài vị, bát hương. Nếu không có vị trí đại cát thì có thể chọn hướng của bếp để đặt bàn thờ, bát hương. 

Đồ cúng: Chuẩn bị ngũ quả, bánh kẹo, trà và hoa tươi. Nếu có bài vị tổ tiên thì phải thêm 3 loại gia súc. Khi cúng thì trà, nước cần rót đầy. Sau khi đặt xong bàn thờ, bài vị thì bánh kẹo nên đặt trên bàn thờ ba ngày hãy mang xuống. 

Vị trí bài vị: Dùng thước văn công lấy đuôi tài lộc, rồi bắt đầu đo từ dưới đất cho tới độ cao có chữ cát là được. Khoảng cách từ tủ thờ cho tới cửa cần dài gấp đôi độ cao của tủ thờ. Độ dài hai bên trái phải của tủ thời thì lấy ra phía ngoài chữ cát. Chú ý: trái Thanh Long, phải Bạch Hổ. Tường phải bên Hổ không được quá hẹp, tránh Bạch Hổ bức người.

Phong thủy nhà : Cách chọn ngày đặt bàn thờ, bài vị 

Phương hướng của bát hương không thể phạm vào Năm, tháng, ngày và giờ Ngũ Hoàng, Mậu Kỷ Đô Thiên Sát, Tam Sát, tương xung. Năm sinh của gia chủ không thể tương xung, tam hình, lục xung, tam sát với ngày, giờ được chọn. Chọn ngày cát lợi đặt bát hương, bàn thờ thì dùng Sát Cống, Trực Tinh, ngày nhân duyên của Ngọc Hạp Ký, Kim Phù Kinh. Và chớ có phạm vào ngày Kim Thần Thất Sát. 

Cấm kỵ: Số lượng cúng chỉ được dùng số lẻ. Không được cúng ở trước cửa hay bên cạnh nhà bếp, nhà vệ sinh. Sau lưng bàn thờ không được có nhà tắm, nhà vệ sinh. Nơi đặt bát hương nhất định phải thanh tịnh, sạch sẽ, không ồn ào, không động. Không được trong phòng ngủ, không đặt dưới giầm, cột. Không được đặt hai bên cửa, không được đặt nơi góc nhọn. 

Sau lưng tủ thờ phải là tường kín, không có lối đi, không có thang máy. Trước mặt bát hương hay tủ thờ không được đặt gương. Vào ngày đặt bát hương không được để người không “sạch sẽ” đến gần. Ví dụ như phụ nữ tới kỳ kinh nguyệt. 

Độ cao của bếp không được cao quá bụng tủ thờ. Bụng không thấy bếp thì không thấy tiền. Thấp thì không được thấp quá chân tủ, bằng không chân đạp lên bếp. Vận tài lộc khó phát.

Nếu nhà thờ hai họ khác nhau thì dùng dây đỏ để ngăn cách. 

Ngày chuyển nhà thì cần chọn giờ dương (Buổi sáng từ 0 – 12h). Khi vào nhà thì phải đặt bàị vị, bát hương đầu tiên. Sau đó mới tới các dụng cụ khác. Sau khi nhập trạch thì trong vòng 20 ngày phải thắp hương liên tục. Bát hương không được di chuyển. 

Lần đầu tiên đặt bát hương cần “vượng”. Sắp xếp mỗi người trong nhà thắp 7 nén hương. Lời khấn có thể như sau: 

Giờ x ngày x tháng x năm x âm lịch, giờ lành ngày tốt. 

Chúng con là (đọc rõ họ tên)    

Đặt bát hương, bàn thờ, bài vị … đại cát hanh thông. Cúi xin tổ tông, ông bà phù hộ gia đình bình an hạnh phúc. Phật Quang phổ chiếu, trấn quang minh. Phù hộ toàn gia sự nghiệp thanh thông. Sức khỏe dồi dào, tài lộc đủ đầy, quý nhân giúp đỡ. Gia đình hạnh phúc, con cái ưu tú. 

Phong thủy nhà : Cách đặt bài vị tôn thần, bồ tát 

Quan Thế Âm Bồ Tát có tam bất hướng. Một không hướng nhà vệ sinh. Hai không hướng cửa. Ba không hướng bàn ăn cơm. Cần nhớ không thể đặt Quan Công và Quan Âm gần nhau để thờ. Vì Quan Thế Âm Bồ Tát là từ bi, kỵ sát sinh. Còn Quan Công lại là kỵ ác, trong huyết nghiệp là lập công cao. 

Quan Thế Âm Bồ Tát ăn chay nên khi cúng chỉ cần hoa tươi, quả và trà. 

Quan Công, thần tài thổ địa nên đặt mặt quay ra cửa lớn. Nhưng đấy ở đền, chùa, tự còn ở trong nhà, công ty thì lại không ổn. Thật chẳng khác nào ví chư thần như kẻ coi nhà, giữ cửa. Sẽ không có tác dụng lớn với sức khỏe và tài vận gia chủ. 

Thần và Phật là dùng để trấn trạch, hướng cát tránh hung. Chư Thần cần phải quan sát 4 phương 8 hướng căn nhà. Vậy nên tủ thờ nhất định phải đặt ở vị trí huyền quan. Phía trong cửa lớn, trái là Thanh Long, phải là Bạch Hổ, trước là Chu Tước, sau là Huyền Võ. 

Phật Dược Sư là đại y vương, vị Phật phương Đông. Ngài tu tại thế tịnh thổ, nên tọa hướng phải là tọa Đông hướng Tây.

Phong thủy nhà : Cấm kỵ 

Vị trí đặt tủ thờ nhất định phải hướng về phía cửa chính mở ra thấy mặt trời. Không thể dựa vào tường hoặc ban công. 

Tủ thờ không để đặt nơi quá hẹp, hay đối diện với tường. Sau lưng tủ thờ phải vững, không được di động hay thường xuyên có va chạm. 

Tủ thờ không thể hướng vào cửa phòng, cửa nhà vệ sinh, cửa bếp. Sau lưng không được dựa giường ngủ, bếp hay nhà vệ sinh. Càng không thể đặt tủ thờ vào phòng ngủ. 

Tủ thờ phải được thiết kế trang nghiêm, đơn giản, sạch sẽ. Không được tùy tiện đặt đồ linh tinh lên. Trước tủ thờ phải giữ sạch sẽ, mỗi ngày nên chuyên cần dâng trà, quả, hoa tươi. Không có điều kiện thì thay nước trắng mỗi ngày là được. 

Phong thủy nhà : Đồ dùng dâng cúng 

Đồ cúng dùng cho thần linh thì tùy vào từng tôn giáo mà gia chủ theo đuổi. Ví dụ như Chư vị Phật & Bồ Tát thì dùng ngũ quả. Gồm táo, cam, chuối, bồ đề, xoài … Kỵ dùng lê và hạt. Nếu đạo giáo thì Quan Thánh Đế Quân, Lỗ Tổ tiên sư, Hoàng Đại Tiên … thì phải dùng tam sac và rượu để cúng. Như lợn quay 1 con, gà, thịt lợn, cá 1 đôi, rau, rượu trắng và hoa quả …

Cách đặt bát hương, bài vị phong thủy nhà tự xây có liên hệ quan trọng tới gia trạch. Thờ cúng chủ yếu để cầu sự yên ổn trong cõi lòng. Cũng là một phong tục từ lâu đời nay của người Việt ta. tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829

Nhà đối diện chùa chiền, nhà thờ
  



Tiếp tục loạt bài về nhà xung khắc Âm – Dương, xin viết tiếp về nhà đối diện chùa chiền, nhà thờ, các cơ sở tôn giáo…Thường thì người ta nghĩ khi xây nhà mà ở gần chùa chiền, nhà thờ,…thì tốt chứ sao! Chẳng những được ở gần Phật, Thánh, Chúa…để các vị phù hộ, giúp đỡ cho; vả lại cũng không sợ ma quỷ đến phá phách vì oai lực của Thần Thánh trấn giữ thì có gì mà không tốt.



Thực ra thì từ ngày xưa, ông bà ta có câu “Góc ao đao đình” hay “Góc ao dao đình” để chỉ một trong những cấm kỵ về phong thủy nhà cửa là không nên ở gần chùa chiền, miếu mạo, đình miễu…Lý do là vì ở chùa thường có Phật tử đến gửi bài vị hay tro cốt ở nhà linh.Sau khi chôn thì người thân thường có gửi thêm hình ở chùa; thế nên người đã mất ngoài một “biệt thự” ổn định, lâu dài ở khu đô thị “thành phố buồn nghĩa trang” thì cũng có một căn hộ chung cư cao cấp ở chùa (lý do mình gọi là căn hộ là vì mỗi người có 1 ô vuông để hình trong 1 cái kệ cao cao giống như ở tầng cao) Lúc nào buồn buồn họ cũng có thể khóa cửa nhà biệt thự để qua ở căn hộ cao cấp này. Mà dĩ nhiên là phải có hình ở đó thì các ông thần hộ pháp giữ chùa - tượng hai ông mặt dữ dằn đằng đằng sát khí dựng ở hai bên hông trước cửa chính của chùa (gọi nôm na là security hay bảo vệ) mới cho vào vì là chủ sở hữu chứ không họ cũng không cho vào đâu vì lý do sợ quấy rối trật tự trị an “chung cư chùa” chứ không phải là chùa thì muốn ra vô lúc nào cũng được đâu.



Tôi  lúc nào cũng khuyến khích mọi người đầu tư cho ông bà quá cố của mình thêm một căn hộ cao cấp ở chung cư chùa. Vì lý do là ở đây một ngày được phục vụ 2 bữa ăn trưa-chiều, được nghe kinh, nghe nhạc Phật Om Mani Pade Hum; tối còn được xem TV; cải lương; nghe đọc kinh trước khi đi ngủ. Vậy quả xứng đáng gọi là “cao cấp” phải không? Còn nếu chỉ cấp cho ông bà một căn biệt thự ở khu đô thị “thành phố buồn” thì thường một năm 1 lần mình mới làm đám giỗ mời ông bà về ăn hay tiết Thanh Minh mới ra nhổ cỏ, tảo mộ, dọn vệ sinh cho căn biệt thự của ông bà thì ông bà quanh năm bị nhịn đói hay nhà ở bị dơ bẩn…



Do đó ở chùa cũng thường xuyên tập trung mật độ dân cư hồn ma đông. Dù nơi đây tập trung nhiều ma hiền do tối ngày được nghe kinh, tu tập nên thuần tính nhưng mà tính tình con người thì “nhàn cư vi bất thiện” nên cơm no ấm cật, dễ rậm rựt đi chơi. Thường thì các chùa chỉ cúng ăn 2 bữa trưa, chiều; nhất là các chùa theo phái Nam Tông Phật Giáo Nguyên Thủy thì thường chỉ cúng bữa trưa nên lúc nào không ăn các vong đói bụng, hay đi dạo chơi vòng quanh các nhà xung quanh chùa để quậy phá.



Thường thì các vong thích quấy phá nhà đối diện cửa chùa vì dễ đi lại nên các nhà đối diện dễ bị phá phách nhất. Còn các nhà bên hông hay sau lưng chùa thường ít bị hơn vì ma cũng làm biếng nhảy qua tường hay đi đường vòng xa nên ma thường dễ đến “thăm” nhà đối diện nhất.



Vì thế nếu chúng ta để ý nhà đối diện cửa chùa thường không buôn bán được gì vì mấy con ma hay quấy rối, khách muốn ghé vào mua hàng mà tự nhiên thấy khó chịu, không thoải mái trong người nên chạy xe đi luôn nên cửa hàng thường ế khách. Chỉ trừ các nhà nào bán nhang đèn,…thì còn sống được vì ma luôn khuyến khích ai bán gì có lợi cho họ thôi.



Cách hóa giải:

Bên cạnh cách dùng bát quái có thần mộc trấn ngay cửa, lau nhà bằng nước quế pha loãng, đun bếp than làm không khí trong nhà ấm áp hay trồng xương rồng như ở bài nhà đối diện nghĩa trang có trình bày thì còn 2 cách sau.



Thứ nhất, có thể dùng gương tráng thủy đặt ở phòng khách, xoay cho mặt soi nhìn hướng ra đường. Theo lời lý giải thì người chết đi vẫn có thể nhìn thấy được cái bóng lờ mờ của mình ở trong gương khi soi. Do đó khi nhà nào có người xấu số qua đời tại nhà thì người nhà lập tức dùng vôi, phấn vẽ hay trét lên gương để cho gương dơ. Là vì người chết rồi nhưng thần thức có khi vẫn níu kéo cuộc sống dương gian, chưa biết hay chưa tin là mình đã mất đi nên khi thấy vợ con khóc lóc thương tiếc mình thì họ chỉ muốn gào thét lên là tôi vẫn còn ở đây và chạy đến gương để nhìn hình của mình trong gương xem có hình bóng hay không. Khi thấy gương dơ bẩn, họ khó chịu muốn lấy tay bôi đi phấn, vôi trên bề mặt gương thì phát hiện là mình không thể bôi xóa như khi còn sống nữa, đến lúc đó mới hiểu là mình đã chết, nên buông xả mà ra đi chứ không nên nuối tiếc nữa. Hiện nay nhiều nhà khi có tang lại không hiểu nguồn gốc sâu xa của việc ông bà ta dạy dùng phấn, vôi bôi lên các tấm gương, cửa kính trong nhà nên cũng bắt chước nhưng sợ là dơ kính nên dùng giấy báo dán che lại; kỳ thực là hiểu sai ý ông bà dạy dẫn đến việc làm không có ý nghĩa gì hay cho là đó là mê tín dị đoan.



Vì người chết vẫn thấy bóng lờ mờ ở trong gương nên khi ma đi vào nhà đối diện chùa để “thăm” thì thấy trong phòng khách có sẵn con ma khác đang có sẵn trong nhà (tức là cái bóng của mình) nên bỏ sang nhà khác để chơi; chứ không phải thấy liền nhảy vô làm quen chơi cho có thêm bạn đâu.



Thứ 2, có thể dùng đèn pha cực mạnh chiếu rọi vào nhà, chiếu thẳng vào mặt tiền nhà vào ban đêm để tạo một lớp ngăn cách không cho người âm vào nhà. Thỉnh thoảng đi ở ngoài đường, nếu để ý các bạn có thể thấy có nhiều nhà không bật đèn ở trong nhà rọi ra vườn hay cổng mà lại bố trí đèn ở ngoài vườn hay ngay cổng mà chiếu ngược ánh sáng vào cửa nhà thì đừng ngạc nhiên. Mấy căn đó thường là đã có “khách không mời mà tới” viếng thăm mấy lần nên chủ nhà mới bố trí như vậy..





Nói thêm về miếu, miễu thì miếu là nơi thờ thành hoàng trong làng, xã; nói chung là những người có công với đất nước, nhiều người, ví dụ như Miếu Bà Chúa Xứ,…còn miễu là những cái am nhỏ dựng gần mép đường thường là để nhân dân địa phương cúng những người chết trẻ, chết oan mà người ta tin là chết linh hay hiện hồn về; miễu thì ta hay thấy hai bên đường nhất là những đoạn đường oan nghiệt hay xảy ra tai nạn giao thông, ví dụ như Miễu Ba Cô ở đường đèo đi lên Đà Lạt. Nói chung thì đình, miếu là nơi thờ cúng thần nên bình thường thì cũng ít cô hồn, ma quỷ nào xuất hiện ở gần; trừ những ngày rằm, lễ lớn thờ cúng thì ngoài cúng thần linh thường có thêm cúng bố thí cho cô hồn, ngạ quỷ,..nên người âm tụ tập về xung quanh và phía ngoài đình miếu cũng không ít. Miễu thì dĩ nhiên là nơi thường xuyên người âm xuất hiện rồi. Riêng về nhà thờ thì tùy, tôi không theo đạo Thiên Chúa, Tin Lành nên không rành lắm. Hình như ở một số nhà thờ thì có cho gửi cốt, hình vào – nếu như vậy thì cũng giống như ví dụ chùa chiền đã nói ở trên; còn nhiều nhà thờ thì hình như không. Nếu như nhà đối diện nhà thờ nào chỉ chuyên tổ chức đám cưới thì đó là cát địa rồi; mấy ông chồng thường xuyên thấy đám cưới thì được nhắc nhớ “ngày đó chúng mình…”, làm sao dễ tơ tưởng hình bóng khác..



Tuy nhiên, trên đây cũng chỉ mới xét theo Loan Đầu Hình Thể, nếu muốn biết tốt hay xấu còn phải xem thêm về Lý Khí, tức xét theo Tam Nguyên mới thật sự tỏ tường

Phân biệt Đình, Chùa, Miếu, Phủ, Đền, Điện, Nhà thờ và các công trình tín ngưỡng khác Vào ngày đầu năm, mọi người thường hay đi lễ chùa cầu an. Đình, đền, chùa, miếu mạo ...là những địa điểm thờ cúng trong đời sống tâm linh của người Việt. Nhưng không phải ai cũng biết ý nghĩa của các công trình này thờ ai Văn khấn khi vào chùa, điện,... Dưới đây là các cách phân biệt Đình, Đền, Chùa, Miếu, Phủ... Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị thần hoặc một danh nhân quá cố. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng lên theo truyền thuyết dân gian. Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc. Đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh…thờ các vị thánh theo truyền thuyết dân gian. Đền kiếp bạc Hải Dương Đền Kiếp Bạc-Hải Dương thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, có quy mô nhỏ hơn đền. Miếu thường ở xa làng, yên tĩnh, thiêng liêng và là nơi thờ các vị thánh thần. Khi miếu phối hợp với thờ Phật thì được gọi là Am, ở Nam bộ gọi là Miễu. Miếu và đền về kiểu mẫu thì giống nhau, chỉ khác nhau về quy mô. Các miếu thường thờ các vị thần như miếu thổ thần, thủy thần, sơn thần, miếu cô, miếu cậu… Miếu bà chúa xứ An Giang Miếu bà chúa xứ - An Giang Chùa là công trình kiến trúc phục vụ mục đích tín ngưỡng của đạo Phật, đây là thờ Phật đồng thời là nơi ở sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng ni. Đây là nơi những tín đồ đạo Phật lui tới để nghe thuyết giảng và thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Ở một số nơi, chùa cũng là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị đại sư. Việt Nam có một số chùa lớn như chùa Bái Đính, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Tây Phương… Chùa bái đính ninh binh Chùa Bái Đính Tỉnh Ninh Bình Đình là công trình kiến trúc cổ truyền của làng quê Việt Nam, là nơi thờ Thành hoàng và cũng là nơi hội họp của người dân. Ban đầu, đình là điểm quán để nghỉ của các làng mạc Việt Nam. Đến khoảng giữa thế kỷ 13, vua Trần Nhân Tông cho đắp các tượng Phật ở các đình quán. Sau đó, đến thời Lê sơ, các đình làng bắt đầu là nơi thờ thành hoàng làng và là nơi hội họp của dân chúng. Đình làng thường được bố trí ở trung tâm làng xã, địa điểm thoáng đãng nhìn ra sông nước. Trong tiềm thức văn hóa người Việt, đình làng gắn liền với hình ảnh cây đa, giếng nước, là địa điểm sinh hoạt chung và hồn vía của làng xã. Các ngôi đình nổi tiếng như Đình Bảng, đình Thổ Hà, đình Bát Tràng… Đình bảng từ sơn bắc ninh Đình Bảng -Từ Sơn Bắc Ninh Phủ: Thường là nơi thờ Mẫu - phủ Gầy, phủ Tây Hồ... một số nơi thờ tự (không nhất thiết thờ Mẫu) ở Thanh Hóa cũng gọi đền là phủ. Suy cho cùng phủ là một nơi thờ tự Thánh mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương (tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật). Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần vũ nhân ở chùa Bút Tháp, có niên đại vào giữa thế kỷ VVII. phủ tây hồ Phủ Tây Hồ Hà Nội- Thờ Mẫu Liễu Hạnh Quán: Một dạng đền gắn với đạo Lão (Đạo giáo). Tùy theo từng thờ mà có các dạng thức thờ tự khác nhau. Vào các thế kỷ XI và XIV đạo Lão ở Việt nặng xu hướng thần tiên nên điện thờ thực chất chỉ như của một ngôi đền thờ vị thần thánh cụ thể. Như Bích Câu đạo quán thờ Tú Uyên, rồi đền thờ Từ Thức... Sang tới thế kỷ XVI và XVII, sự khủng hoảng của Nho giáo đã đẩy một số nhà Nho và một bộ phận dân chúng quan tâm nhiều tới Lão giáo, và điện thờ đạo Lão có nhiều sự phát triển mới, với việc thờ cúng các thần linh cơ bản theo Trung Hoa. Đó là Tam thanh (Nguyên Thủy Thần Tôn, Linh Bảo Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân), Ngũ Nhạc mà nổi lên với Đông Phương Sóc và Tây Vương Mẫu, rồi Thánh Phụ, Thánh Mẫu. Cửu Diệu Tinh Quân (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Mặt Trời, Mặt Trăng, Hồ phủ, Kế đô) đồng thời trên chính điện cũng có cả tượng của Hoàng Quân giáo chủ (Ngọc Hoàng) - Có thể kể tới các quán điển hình như: Hưng Thánh Quán, Lâm Dương Quán, Hội Linh Quán, Linh Tiên Quán... đều ở Hà Tây. Am: Hiện được coi là một kiến trúc nhà thờ Phật. Gốc của Am được nghĩ tới từ Trung Quốc, được mô tả như ngôi nhà nhỏ, lợp lá, dùng Làm nơi ở của con cái chịu tang cha mẹ, về sau đổi kết cấu với mái tròn, lợp lá, làm nơi ở và nơi đọc sách của văn nhân. Từ đời Đường, Am là nơi tu hành và thờ Phật của ni cô đặt trong vườn tư gia. Với người Việt, Am là nơi thờ Phật (Hương Hải am tức Chùa Thầy, Thọ Am tức Chùa Đậu - Hà Tây...) cũng có khi là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của xóm làng - Vào thế kỷ XV (thời Lê sơ) Am còn là nơi ở tĩnh mịch để đọc sách làm thơ của văn nhân. Như vậy, đền, miếu, đình là những công trình kiến trúc xuất phát ban đầu từ tín ngưỡng thờ cúng dân gian, nơi đây thờ các vị thánh thần theo truyền thuyết dân gian hoặc những vị anh hùng có công với đất nước, với địa phương được nhân dân tôn xưng là thánh (Đức Thánh Trần, Thánh Gióng, thành hoàng làng…). Ở mỗi đơn vị đình, miếu, đền thường chỉ thờ 1 vị thánh thần theo tín ngưỡng của địa phương (đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo, miếu thủy thần thờ thần nước, đình làng thờ Thành hoàng là của mỗi địa phương…). Chùa là nơi thờ Phật, Bồ Tát cùng những nhân vật trong hệ phái Phật giáo. Do ảnh hưởng tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo) từ thời nhà Lý nên một số ngôi chùa còn thờ đồng thời cả Phật, Thái thượng Lão quân và Khổng Tử. Việc thờ Phật ở chùa, thờ thánh thần ở đình, đền, miếu và tục thờ cúng tổ tiên của người Việt có điểm chung đó là đều xuất phát từ lòng biết ơn, thành kính hướng tới những người có công cứu rỗi cho cộng đồng, địa phương, những người có công tái tạo và dưỡng dục những thế hệ con người. Đó đều là những hoạt động tâm linh quan trọng trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Việt

Nhiều người mang quan niệm rằng, ở gần chốn linh thiêng như đình chùa, miếu mạo, nhà thờ… sẽ có cảm giác rất yên tâm bởi được thần linh che chở do đó là nơi xua đuổi tà ma, quỷ dữ. Tuy nhiên đó là quan niệm sai lầm.

Thực ra, ở những nơi cận kề đình chùa miếu mạo nhà thờ thì theo thuyết phong thuỷ, đó là những nơi rất không thích hợp cho việc đặt nhà cư trú.

1. Phong thuỷ học truyền thống cho rằng, ở gần những nơi như đình chùa, miếu mạo, nhà thờ, đó là những nơi âm khí nặng nề nhất. Bởi phần lớn các “âm linh” đều tập trung ở nơi đây, đều thuộc đất “Âm sát” bởi vậy mà “âm khí” nặng nhất.

Quan niệm như vậy xem ra không mấy khoa học, nhưng ảnh hưởng của nó thì không thể coi thường. Nhiều người chịu ảnh hưởng của quan niệm thần linh, nếu nhà ở nhìn thẳng vào đình chùa, miếu mạo, nhà thờ, thì trong tâm linh luôn cảm thấy lấn cấn, sợ hãi. Những người như vậy nếu cơ thể vốn không được khoẻ, hoặc vốn tính khá nhạy cảm thì lại càng không nên lựa chọn nhà ở những nơi như vậy. Nếu không sẽ khiến tâm lý luôn bị phủ bóng đen và gánh nặng sợ hãi.

2. Con người thường khi gặp phải bức xúc, u sầu phiền não hoặc gặp phải những trắc trở riêng tư, thường tới những nơi mình cảm thấy linh thiêng như đình chùa, miếu mạo, nhà thờ khấn vái, khẩn cầu thần linh che chở, phù hộ độ trì như trút được gánh nặng trong thâm tâm họ, nơi đó là chốn ngự trị của các đấng thần linh tối cao và cả lũ yêu ma quỷ quái, vậy nên nhà ở cận kề chốn miếu đường là điều không nên, sẽ ảnh hưởng tới tâm lý của cư dân, nhất là với những cháu nhỏ còn “yếu bóng vía”.

file.392835 Có nên xây nhà gần đền chùa, miếu mạo ?

3. Nhiều quan niệm cũng cho rằng, bởi đình chùa, miếu mạo, nhà thờ thường được xây cất nơi phong cảnh u tịch, môi trường tốt nhất, toạ lạc nơi phong thuỷ bảo địa, bởi vậy mà dồn tất thảy vượng khí trong vùng, dư khí chẳng sót là bao. Nếu cất nhà ở cận “ghé hơi”, nơi có kết cấu trong mạnh ngoài yếu ấy, sinh khí sẽ bạo lực “thoi thóp”, thì chẳng thể có vận khí tốt. Với môi trường như vậy, nhất là đối với những người sẵn lòng tin tưởng thần linh, đương nhiên là không thích hợp bám trụ, và càng không có lợi cho sức khoẻ, cả về thể xác lẫn tâm hồn.

4. Đình chùa, miếu mạo, nhà thờ đều thuộc những nơi công cộng, thường tập trung đông đúc con nhang đệ tử, tín đồ, ồn ào đủ mọi thứ âm thanh (tiếng cầu kinh, mõ khua, trống rung, chuông đổ hồi …), môi trường thiếu sự yên tĩnh, bởi vậy đó không phải là nơi cư trú lý tưởng.

5. Nơi đô thị sầm uất, rất nhiều am thờ được thiết lập trong những nhà lầu trong ngõ, môi trường rất ồn ào, uế tạp. Phong thuỷ học cho rằng, ở những nơi thờ cúng ấy dù có khói hương nghi ngút, đèn nến sáng choang cùng tiếng mõ, tiếng cầu kinh râm ran, cũng chẳng phải là nơi giáng lâm của chính thần, chính phật mà có tới thì phần lớn là những thần linh cấp thấp, lại có những kẻ đồng bóng lừa bịp mượn danh thần phật, rêu rao cầu được ước thấy để loè thiên hạ, khiến người ta nhẹ dạ cả tin tưởng thật. Tuy về mặt khoa học mà nói thì chẳng có trở ngại gì với mọi người, nhưng về mặt môi trường nó sẽ tạo nên cảm giác âm u, không có lợi cho sự cư trú cùng sức khoẻ của cả thể xác và tâm hồn của con người.

Cốt lõi của phong thuỷ học truyền thống là chú trọng vào việc nghiên cứu vấn đề trạng thái khí trường, mà 2 loại khí âm dương có cân bằng nhau không, thì đối với sức khoẻ về thể xác và lành mạnh về tâm lý của con người đều có thể sản sinh ảnh hưởng rất lớn. Lý thuyết phong thuỷ cho rằng, nơi cận kề với miếu đường (đình chùa, miếu mạo, nhà thờ …) bởi tập trung quá dầy, quá nhiều khí u oán, tức “Âm khí”, bởi vậy mà sống quá gần những nơi đó là không tốt. Những nơi đó thường làm cho trường khí hoặc năng lượng sát chung quanh bị nhiễm mà ảnh hưởng tới môi trường sinh thái của cư dân. Qua đó cho thấy tại sao xưa kia các cụ ta thường xây dựng đình chùa biệt lập ngoài cách đồng xa làng xóm một chút.

Có điều, ngày nay dân số ngày một tăng, quỹ đất dành cho thổ cư ngày một thu hẹp, nên xuất hiện cư dân ngày càng tiến sát tới những nơi linh thiêng cấm kỵ, thậm chí có kẻ còn ngang nhiên biến cả đất đình chùa thành đất ở, đó là một thực tế, khó thay đổi. Là những người hiện đại, chúng ta cần có cách nhìn khoa học về vấn đề này. Khi chúng ta thiết lập một thế giới quan khoa học, lấy chính khí áp tà khí, thông thương thì đình chùa, nhà thờ là nơi phong cảnh u nhã, đắc địa, cho ta cảm giác đó là môi trường thích hợp cho sự sinh sống, nhưng phải hiểu rằng đó là nơi sinh hoạt tâm linh của cộng đồng, là tài sản công cộng, không vì lấy nệ “khoa học” mà xâm phạm.

Cội rễ, gốc gác với nhiều người Việt Nam thật đơn giản mà ý nghĩa vô cùng to lớn. Cùng với gốc đa, giếng nước, sân đình, những hình ảnh tiêu biểu của làng quê Việt Nam, cội rễ với đa phần người Việt còn là sự gắn kết và tiếp nối của bao thế hệ qua những bộ gia phả, nhà thờ họ. Gia phả và nhà thờ họ là điểm tựa tinh thần của hiện tại từ quá khứ.
Nhà có phả cũng như nước có sử, phả nhà để ghi chép thế thứ các đời theo hệ thống huyết mạch, trên dưới, mà thuật lại phân minh về bản chi, khiến cho muôn đời con cháu nhìn vào thì thấy rõ ràng như ở trước mắt…
Phong tục thờ cúng của người Việt:
Đạo lý “ Uống nước nhớ nguồn” luôn có trong lòng của mỗi con người Việt Nam. Dù ở nơi đâu trên trái đất này, dù bạn giàu hay nghèo, dù bạn là ông quan cao cả hay một thường dân nghèo khó cũng có một bàn thờ, ấy là thể hiện một lòng thành kính với tổ tiên.
Nhà thờ:
Các con cháu dòng dõi trong một họ thiết kế, xây dựng chung một nhà thờ Thủy Tổ gọi là mỗ tộc từ đường (Trần tộc, Nguyễn tộc, Lê tộc, Vũ tộc, Đặng tộc, Phạm tộc, Lưu tộc …). Khi xây dựng xong nhà thờ ấy chỉ thờ riêng một Thủy Tổ, khi tế tự thì lấy các tổ tông biệt chi, biệt phái mà phối hưởng. Có họ không thiết kế xây dựng nhà thờ thì xây một cái bàn lộ thiên kiên cố, dựng bia đá ghi tên thụy hiệu các tổ tiên để khi tế tự thì ra tại đó mà tế. Có họ thì làm nhà thờ để cho chi trưởng nam đời đời hương hỏa, chi trưởng nam tuyệt thì mới chuyển sang cho chi thứ.
Những họ về chi khác nhau, cũng thiết kế xây dựng nhà thờ tổ tông trong bản chi, gọi là bản chi từ đường.
Những gia đình dòng họ phú quý có gia từ, phụng thờ cao, tằng, tổ, khảo tại bàn chính giữa ( hay gian giữa), các bàn bên cạnh ( hay các gian bên ) thì thờ Thổ công, Táo quân, Nghệ sư, Bà cô, Ông Mãnh …
Nhà Từ đường đã có từ xa xưa, có lẽ từ khi chúng ta có nghĩa gia tộc và có tục thờ cúng tổ tiên. Phần nhiều các nhà Từ đường xưa đều được xây dựng bằng gạch, theo lối kiến trúc đình miếu: chạm trổ ở nóc (thường là hình mặt nhật hay hình mặt nguyệt), góc mái hình lưỡi đao; phía trước có sân gạch, hàng rào, cổng ngõ; phía sau có công trình phụ và vườn tược. Nội thất của nhà Từ đường rộng rãi với nhiều đồ chạm trổ kỳ khu và sơn son thếp vàng rực rỡ. Không gian đó được đóng lại bằng hàng cửa bàn khoa, hay hàng cửa ván gỗ sơn nâu hoặc đỏ. Nhà Từ đường khác với nhà ở là phía trước nhà có hàng cột vôi vữa đắp liễn đối, quanh sân có trồng nhiều bụi hoa trang, hoa điệp đủ mầu sắc và cái nhà ngõ thường đóng kín để tạo vẻ thâm nghiêm cho ngôi nhà thờ.
Từ đường là nơi chốn tâm linh của một tộc họ. Ở đó, dòng họ thờ các vị cao tằng thủy tổ và các tiên linh khác của họ tộc. Mỗi vị có thần chủ hoặc bài vị đặt trên bàn thờ. Ðọc thần chủ, bài vị, mới biết vị nào cũng có công trạng; hoặc với nước, hoặc với địa phương, ít nhất cũng với tộc họ. Những vị được thờ, nếu làm quan cho triều đình thì có treo bằng sắc; riêng quan võ còn thờ cả đồ binh khí mà sinh thời các vị vẫn dùng
Nhà Từ đường nào cũng có một số ngày tế tự thường niên, như: Ngày giỗ ông thủy tổ và ngày hiệp tế (giỗ chung cho hết thảy các vong linh của những người quá cố trong tộc họ).
Ðến ngày cúng tế, nhà Từ đường có hình thức lễ hội: trong sân có cắm nhiều cờ đuôi nheo, cờ lồng, treo băng, biểu ngữ (mang tên ngày tế tự) và cảnh con cháu nhộn nhịp tụ hội về. Rất nhiều người, nhất là các cụ bà, các cô gái, thường đội trên đầu lễ vật dâng cúng là những hương hoa trà quả… Khi tế tự có kèn trống, văn tế kể công nghiệp tổ tiên, các trình tự lễ lạy… Tất cả đặt dưới quyền điều hành của Chủ tế là tộc trưởng hoặc người cao niên nhất trong họ và vài người trung niên làm bồi tế. Kết thúc tế tự là lễ hóa vàng mã và bắt đầu tiệc ẩm thực. Người ngồi mâm cỗ nhà Từ đường luôn tuân theo tôn ti trật tự: Ông bà, bác, chú ngồi trên, con cháu ngồi dưới. Con cháu mà có học, có bằng cấp cũng được phép ngồi trên để làm gương hiếu học cho cả họ. Những ngày trong Tết Nguyên đán và các ngày sóc vọng hằng tháng, nhà Từ đường chu đáo hương khói và cúng kính. Người giữ việc hương khói cho Từ đường thường là một người trong tộc họ, có điều kiện hơn các người khác ở chỗ có nhà ở gần Từ đường.
Gia phả:
Nhà thờ nào cũng có cuốn sổ ghi chép theo thứ tự trước sau và họ tên chức tước ngày tháng sinh tử của tổ tông và người trong nhà gọi là gia phả. Nhà giàu có, có công trạng… thì gia phả ghi chép cả công nghiệp sự trạng cả tổ tông, mả táng tại đâu …
Gia phả để tại nhà thờ, cũng có nhà in phát ra cho mỗi chi một bản để cho con cháu được biết sự tích của tổ tông.
Nội dung Gia phả gồm các phần sau đây : Nội dung , ý nghĩa của gia phả : thường được ghi trong bài tự ( tựa ) , do một người trong họ hoặc một người ngoài họ có tên tuổi viết .Mục đích ý nghĩa chủ yếu của gia phả là giáo dục cho con cháu hiểu rõ nguồn gốc của dòng họ mình , công lao của các đời trước để tu dưỡng , tiến bộ về mọi mặt , ngõ hầu làm rạng rỡ cho dòng họ mình . Một một đích khác thiết thực hơn , nhưng có khi không nói đến trong lời tựa là gia phả cho con cháu biết ngày mất của ông bà để nhớ cũng giỗ và vị trí của phần mộ ông bà để chăm sóc
Những người đi đâu xa hoặc công tác về đều thắp hương để thông báo cho tổ tiên biết, đó cũng là nét hiếu thuận trong nếp sống của người Việt
Nhà thờ họ thờ Ai? :
Nhà thờ phải có ” Một thần chủ ” không bao giờ thay đổi . Nhà phú quý thờ Cao , tằng , tổ , khảo .Thần chủ bằng gỗ táo tượng trưng nghìn năm . Dài độ 1 thước ở giữa ghi tên họ , chức tước và hai bên ghi ngày tháng năm sinh tử. Có hộp vuông che kín và để trong long khám , khi nào cũng tế mới mở ra . Thờ cho gọn : Một bộ ỷ để thờ
Đồ thờ nhà thờ họ : 
Nhà thờ họ thông thường cần có 1 bộ đèn nến , lư hương , bình hoa, mâm quỳ , mâm bồng , có đài rượu , hộp trầu , đài nước .
Hoành biển khắc 3 bốn chữ đại tự , đôi liễn bên bàn thờ hoặc khảm trai hoặc sơn thiếp.
Nhà thờ Họ là nơi Ghi tụng công đức tổ tông
Như một lời nguyền , người Việt nam dù nghèo khổ đến chết đói cũng không bao giờ bán đồ thờ .
Gia phả của Họ : Ghi họ tên chức tước , ngày sinh tử mai táng ở đâu ? và người trong nhà . Gia phả để ở nhà thờ và các chi giữ bản sao .
Về kiến trúc của Nhà thờ họ, có thể phân thành hai loại: Nhà thờ họ được xây dựng từ xưa và Nhà thờ họ mới xây dựng trong vài chục năm gần đây. Nhà thờ họ được xây dựng từ xưa, gần như đã được tôn tạo lại, mở rộng cho phù hợp với điều kiện hiện nay. Còn Nhà thờ họ mới xây dựng thì thường được làm một tầng, ba gian, lợp ngói. Phổ biến là làm nhỏ và có trang trí nhiều hoa văn Rồng, Phượng. Ngôi nhà được đặt trong một khuôn viên có hàng rào bao quanh. Khuôn viên là một miếng đất nhỏ có vườn trồng hoa hoặc những cây Đại, cây Ngâu. Đó là những nhà thờ họ phổ biến ở nông thôn.
Trong nội thất, ở giữa là bàn thờ chính. Ở đây thờ vị Tổ dòng họ, thường là có bài vị đặt trên một ngai thờ. Hai bên và phía dưới là đèn, nến, hương hoa. Ở đây có thể có những kỷ vật cổ xưa, những sắc phong của vua chúa. Ngoài ra có thể có những bàn thờ ở gian bên thờ những vị danh nhân của dòng họ.
Trước hết, Nhà thờ họ mang tính chất Nhà thờ tổ tiên, sau là Nhà bảo tàng, Nhà tưởng niệm của dòng họ. Do đó, ngoài bàn thờ còn phải có không gian trưng bày tranh ảnh, hiện vật lưu niệm của những thành viên nổi tiếng, có công lớn trong dòng họ.
Về mặt khuôn viên nên khiêm tốn, giản dị, nghĩa là miếng đất không cần lớn nhưng đủ xây dựng một ngôi nhà nhỏ, chung quanh có vườn cây. Nếu có điều kiện thì đào một hồ nhỏ trước Nhà thờ Họ, nếu không đủ rộng thì làm một bể non bộ có nước để cải tạo vi khí hậu.
Để thuận tiện cho việc tiến hành lễ nghi và họp đông con cháu, Nhà thờ họ bao giờ cũng cần một sân gạch trước nhà. Sân này có thể dựng nhà bạt che mưa nắng khi có lễ. Trong khuôn viên của Nhà thờ Họ nên có một Nhà phụ trợ nằm ở sau Nhà thờ họ. Nhà này là nơi có bếp, kho, bể nước (giếng nước, nếu chưa có nước máy) và khu vệ sinh.
Chức năng chính của nhà thờ họ:
– Gốc nhà thờ họ là để thờ thuỷ tổ họ mình hoặc thờ vọng về thuỷ tổ họ mình .nhưng nó có thể còn có các chức năng sau đây : Đây là chức năng gốc , bất di bất dịch không khác gì ngày xưa .
– Bảo tàng dòng họ: có ghi Danh các Liệt sĩ chống Pháp , Chống Mỹ , Chống Polpot và chống Tàu .Hoặc lưu giữ Chứng chỉ của Đảng và Nhà nước những người làm to hoặc thành Danh của dòng họ mình .
– Nhà văn hoá : Nơi tổ chức nói truyện về truyền thống dòng Họ mình , những gương sáng , những nết tốt cần nêu gương cho toàn họ học tập , Nơi nêu gương học tập tốt và thành tích xuất sắc cần khuyến học .
– Hội trưòng: Nơi gặp gỡ để bàn việc Họ . Nếu tụ tập ở một nhà nào cũng rất chật chội . Có việc gì cần bàn kéo ra nhà thờ họ bàn việc riêng của họ là hợp lý . Có thể chi họp trưởng chi , hoặc chỉ họp hội đồng gia tộc hoặc họp toàn Họ này.
Ý nghĩa cao cả của Nhà thờ họ và Gia phả trong dòng tộc và trong cộng đồng:
Cội rễ, gốc gác với nhiều người Việt Nam thật đơn giản mà ý nghĩa vô cùng to lớn. Cùng với gốc đa, giếng nước, sân đình, những hình ảnh tiêu biểu của làng quê Việt Nam, cội rễ với đa phần người Việt còn là sự gắn kết và tiếp nối của bao thế hệ qua những bộ gia phả, nhà thờ họ. Gia phả và nhà thờ họ là điểm tựa tinh thần của hiện tại từ quá khứ. Nhà có phả cũng như nước có sử, phả nhà để ghi chép thế thứ các đời theo hệ thống huyết mạch, trên dưới, mà thuật lại phân minh về bản chi, khiến cho muôn đời con cháu nhìn vào thì thấy rõ ràng như ở trước mắt.
Thật cảm động khi nhìn thấy từ gia phả những lời nhắn nhủ, răn dạy đạo đức của các bậc tổ tiên đối với con cháu cho đến hôm nay vẫn còn nóng hổi ý nghĩa: “Con cháu nhà ta, ai nấy đều phải biết tôn trọng lời dạy của ông bà, phải lấy việc cày cấy, đọc sách, học hành làm nghiệp… phải lấy điều hiếu thuận làm đầu, thì sẽ hạnh phúc”. Ngoài việc ghi chép đầy đủ lịch sử của gia tộc và thế thứ các nhánh, các chi của mỗi dòng họ, gia phả còn mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Trong nền văn hóa Phương Đông, lịch sử gia phả đã có trên 3000 năm, châu Âu đã có gần 500 năm. Gia phả được coi như một bức tranh lịch sử thu nhỏ của một dòng họ, thậm chí lớn hơn là của một làng, một vùng đất cùng với những sự kiện lịch sử, những biến đổi xã hội liên tục, sự tham gia và những ảnh hưởng của dòng họ đến tiến trình của lịch sử xã hội của những vùng, miền khác nhau.
Là lịch sử văn hóa của dòng họ, gia phả còn được coi như một di sản văn hóa quý giá. Không chỉ là cơ sở để dòng họ, các chi họ lần tìm về gốc rễ, chắp nối cội nguồn, gia phả còn luôn giữ vai trò quan trọng xuyên suốt trong việc củng cố gia tộc, gia đình và giáo dục đạo đức cho con cháu. Bởi vì, gia phả không chỉ giúp cho con cháu biết gốc gác của mình từ đâu, họ hàng là ai, tổ tiên công đức ra sao, gia phả còn được gọi là gia bảo vì đó là lịch sử của tổ tiên nhiều đời truyền lại, chứa đựng những điều tổ tiên muốn gửi gắm lại cho đời sau. Từ gia phả, từ gia tộc, từ tiểu chi đến đại tông, cả dòng họ. Đó chính là sự đa hướng, đa lớp để bảo vệ nề nếp gia phong, truyền thống dòng họ, thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc hôm nay và mai sau.
– Gia phả có giá trị về lịch sử
– Gia phả có giá trị về đạo đức
– Gia phả có giá trị khuyến khích học hành.
Gia phả được các nhà sử học coi là nguồn bổ sung cực kỳ quan trọng cho chính sử bởi những thông tin từ những nhân vật, sự kiện của dòng họ đều được ghi lại một cách trung thực, cụ thể và rõ ràng trong gia phả. Việc thờ cúng tổ tiên là nền tảng của gia đình Việt Nam, gia đình từ ông cố, bà cố, xuống cháu chắt đều sống chung trong một mối dây liên hệ hết sức chặt chẽ về huyết thống, máu mủ. Làm người ai cũng có cha mẹ, ông bà, tổ tiên như cây có cội nguồn, có gốc, có rễ. Hướng về nguồn cội là những cảm xúc, những tâm tư cùng một thế giới tâm linh trong sáng, thiêng liêng với những cảm hứng vang vọng, xuất phát từ đáy lòng qua sự khôi phục, bổ sung và duy trì sự liên tục của gia phả dòng họ, nhà thờ họ là trào lưu văn hóa đang phát triển ở nước ta hiện nay. Có những bộ gia phả của một số dòng họ được viết các đây vài trăm năm nay vẫn được lưu giữ cẩn thận, để lưu giữ truyền qua nhiều thế hệ thì thật không phải là dễ. Gia phả cùng với nhà thờ họ luôn sống mãi trong từng con người Việt Nam:
– Nhà thờ họ trường tồn tượng trưng cho một dòng họ bền vững, lâu đời – Nhà thờ họ nơi lưu giữ những giá trị tinh thần to lớn.
Nhà thờ họ cũng là nơi lưu giữ gia phả, văn tự cổ cùng những sắc phong, tượng thờ, bài vị cùng những điển tích về dòng họ. Nhà thờ họ cũng là nơi lưu giữ những di vật của tổ tiên. Đây có thể được coi như một bảo tàng thu nhỏ của dòng họ bởi nó chứa đựng rất nhiều thông tin về dòng họ. Nội thất bên trong nhà thờ được sắp đặt trang nghiêm, có thứ tự rõ ràng và sự sắp sếp có chủ ý thể hiện những thông tin về gia đình, dòng họ được kết cấu một cách chu đáo, đầy đủ để con cháu trong họ cũng như người ngoại tộc có thể hiểu khá tường tận về lịch sử của dòng họ cùng những con người, những danh nhân của dòng họ.
Nhà thờ họ được coi như điểm hội tụ, thờ cúng tổ tiên, ông bà, những người anh hùng, những danh nhân, những người có công với đất nước, làm lưu danh dòng họ trong sử xanh của đất nước, của dân tộc. Nhà thờ họ luôn có một vị trí đặc biệt trong thế giới tâm linh của những người con trong dòng họ bởi đó là nơi giúp họ nhớ lại những đỉnh cao vinh quang của dòng họ, những tấm gương sáng của tổ tiên và đồng thời những ước vọng của mỗi còn người trong dòng họ được nguyện cầu tại đây. Truyền thống cả dân tộc cũng như mỗi dòng họ, mỗi gia đình cần phải gìn giữ là: “Uống nước nhớ nguồn, nhân hậu thuỷ chung, thương người như thể thương thân, đoàn kết tương thân tương ái làng xóm khi tối lửa tắt đèn, hiếu học, sẵn sàng hy sinh vì đất nước, vì dân tộc, lao động cần cù, sáng tạo …”.
1. Nhận thức: Điều quan trọng nhất là cần nhận thức đúng đắn y nghĩa của việc xây dựng nhà thờ không phải chỉ để ngắm nhìn, khoe khoang với thiên hạ, hay để tổ chức tiệc tùng linh đình mà tạo nên công trình mang dấu ấn tốt đẹp về nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản chất dân tộc, nhắc nhở con cháu giữ gìn, phát huy những giá trị truyền thống đạo lý, gia phong tốt đẹp của tổ tiên ông bà truyền lại:
+ Đó là long yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm, làm cho dân giàu nước mạnh.
+ Đó là tình đoàn kết sắc son, ý chí cộng đồng trong xã hội, biết gạt bỏ những cái nhỏ nhen tầm thường trong quá khứ và trong cuộc sống hằng ngày để giữ lấy cái nghĩa tình cao đẹp trong gia đình họ tộc, trong cộng đồng xã iội.
+ Đó là lòng nhân Ái bao dung, thương người như thể thương thân, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, giúp nhau khi ốm đau hoạn nạn.
+ Đó là tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động và học tập, sống và làm giàu bằng bàn tay và khối óc của mình, khuyến khích làm giàu chính đáng, động viên tạo điều kiện cho con cháu được học hành, có nhiều con cháu học giỏi.
Trong nền kinh tế thị trường, mặt tích cực là thúc đẩy kinh tế phát triển, mặt khác cũng phát sinh những biểu hiện tiêu cực trong xã hội, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn, ma lực của đồng tiền đã len lỏi vào các ngõ ngách của giá trị đạo đức truyền thống. Chúng ta nhất quyết không để cho những cạm bẫy của đồng tiền làm cho tình cảm thiêng liêng đối với ông bà, cha mẹ, anh em ruột và thân thích bị mai một và đem tai họa cho gia đình.
2. Lễ nghi: Theo quy ước và tục lệ ông bà để lại, nhà thờ tộc đảm trách việc thờ tự đức Thủy Tổ đến các vị nhiều đời kế tiếp đã về nơi an nghỉ cuối cùng trong những ngày giờ nhất định giỗ chạp hằng năm, còn các chi phái và các gia đình đều có bàn thờ riêng để cúng giỗ theo ngày riêng của từng vị, từng chi phái. Con cháu cần sắp xếp thời gian để ngày Tết về nhà thờ cúng viếng ông bà.
3. Việc lập tôn đồ, phổ hệ: Theo phổ hệ đã có đủ đời 13, từ đời thứ 14 trở về sau, các chi phái cần lập danh sách theo thứ tự hết đời này đến đời tiếp theo, mỗi đời viết theo thứ tự: tên vị đời đó, đến tên chánh thất, kế thất đến tên các con (viết hết con chánh thất đến con kế thất) mỗi vị có các nội dung: ngày sinh, ngày mất, nơi an tang, người còn sống thì ghi them nơi cư trú, làm gì. Dâu, rể thì ghi họ tên, quê quán, ngày sinh, ngày mất.
4. Chăm lo đời sống: Để có cơ sở làm việc nghĩa và khuyến khích việc học hành của các cháu học giỏi nhưng khó khăn, cần xây dựng một quỹ gọi là quỹ công ích của tộc mong được hưởng ứng của tất cả bà con
5. Nghĩa vụ, trách nhiệm: Cần quan tâm việc phân công trách nhiệm quản lý chăm sóc từ đường, bảo quản tốt tài sản đã có, trồng cây và hoa làm cho nhà từ đường ngày càng đẹp đẽ và ấm cúng. Việc tu bổ, sửa chữa hay xây dựng mở mang nhà thờ họ là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người con trong dòng họ. Khi việc cần là phải quyết tâm, đoàn kết cùng nhau làm, không được thoái thác, bàn lùi – nếu không là có lỗi với tổ tiên. Việc thành bại cốt ở cái tâm. Cứ phát huy truyền thống thương yêu “lá lành đùm lá rách” là sẽ làm được hết. Có thế mới làm được trọn vẹn chữ HIẾU với tổ tông.
Thay cho lời kết:
Chừng hai thập kỷ gần đây, việc xây dựng Nhà thờ họ rộ lên khắp mọi miền đất nước, nhất là ở nông thôn. Truyền thống xây dựng Nhà thờ họ có từ lâu đời nhưng trải qua ba chục năm chiến tranh, công việc này dường như không được tiến hành trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước.
Cũng như những lễ hội truyền thống có từ lâu đời cũng chỉ nở rộ trong hòa bình và kinh tế phát triển. Chúng ta có truyền thống sinh hoạt cộng đồng rõ nét và mạnh mẽ, luôn thể hiện qua việc họp trường cũ, họp đồng môn, họp lớp, họp mặt cơ quan cũ, họp đồng hương, họp đơn vị… Những cuộc họp mặt giao lưu ấy củng cố khối cộng đồng bằng tình cảm, bằng những kỷ niệm trong quá khứ. Mối ràng buộc những con người với nhau là ký ức, là mảnh đất khi xưa cùng chung sống, hoạt động.
Họp mặt theo dòng họ thì lại có một yếu tố quan trọng khác là mối liên hệ huyết thống. Những cuộc họp mặt trên kia có thể có địa điểm là trường cũ, cơ quan cũ và thường là một địa điểm mượn nào đó, còn họp mặt theo dòng họ thì có một địa điểm thiêng liêng là Nhà thờ họ. Nếu ở xa không về được thì đành họp nhau tại một địa điểm nào đó, còn có điều kiện thì về Nhà thờ họ. Chính vì vậy, việc xây dựng Nhà thờ họ có ý nghĩa quan trọng và thiêng liêng. Các dòng họ rất mong muốn xây dựng một ngôi nhà thờ cho họ của mình, niềm khát khao đó âm ỉ từ lâu, nay có điều kiện sống trong hòa bình, gặp gỡ nhau bàn bạc, đóng góp trong điều kiện kinh tế khá hơn trước. Do đó, nở rộ một phong trào xây dựng Nhà thờ họ – song song với việc này, và còn có trước việc này là viết lại lịch sử dòng họ, vẽ lại cái cây Phả họ để lưu lại cho con cháu. Việc này ngày xưa ông cha ta hay làm và để vào trong những ống quyển bằng gỗ, đặt trên bàn thờ.
Xây dựng Nhà thờ họ là một việc làm có nhiều ưu điểm. Trước hết, đây là một hành động hướng về cội nguồn. Chúng ta biết rằng hạt nhân của xã hội là gia đình. Một dòng họ có nhiều gia đình, nhiều dòng họ hợp thành xã hội. Một xã hội tốt đẹp phải bắt nguồn từ những gia đình tốt đẹp, từ những dòng họ tốt đẹp. Giáo dục trong dòng họ là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong xã hội.

Hoành phi Hán Nôm

Chữ Hán Nôm
Âm Hán Việt
Dịch nghĩa
                   van co anh linh
Vạn cổ anh linh
Muôn thủa linh thiêng
                   truy niem tiem an
Truy niệm tiền ân
Tưởng nhớ ơn xưa
                   luu phuc luu an
Lưu phúc lưu ân
Giữ mãi ơn phúc
                  hai duc son cong
Hải Đức Sơn Công
Công Đức như biển như núi
                 duc luu quang
Đức Lưu quang
Đức độ toả sáng
                  phuc lai thanh
Phúc lai thành
Phúc sẽ tạo nên
                  phuc man duong
Phúc mãn đường
Phúc đầy nhà
                  am ha tu nguyen
Ẩm hà tư nguyên
Uống nước nhớ nguồn
                 khac xuong quyet hau
Khắc xương quyết hậu
May mắn cho đời sau
                 bach nhan thai hoa
Bách nhẫn thái hoà
Trăm điều nhịn, giữ hoà khí

Một số Câu đối Hán Nôm

Chữ Hán Nôm
Dịch nghĩa
nhat nguyet quang chieu
Vầng nhật nguyệt chiếu mười phương rạng rỡ
Đức tổ tiên lưu muôn thuở sáng ngời.
moc xuat thien
Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
duc thua tien to
Tổ tiên tích đức nghìn năm thịnh
Con cháu ơn nhờ vạn đại vinh.
ban can sac thai
Sắc thái cội cành thế hiện ở hoa lá
Tinh thần tiên tổ lưu lại trong cháu trong con.
cuc duc an tham
Ơn nuôi dưỡng sâu tựa biển Đông
Nghĩa sinh thành cao như non Thái.
to tong cong duc
Công đức tổ tôn nghìn năm thịnh
Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.