bài viết trong chuyên mục "phong thủy địa danh"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng chuyên gia phong thủy Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy lục thập hóa giáp Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy 2022 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn phong thủy địa danh. Hiển thị tất cả bài đăng

1. LONG MẠCH

Long mạch được tạo nên do sự vận hành của âm dương, thiên địa, ngũ hành, can chi, bát quái đầy vẻ huyền bí nhưng các nhà phong thủy nhìn qua có thể biết được đất nào là đất long mạch? Long mạch loại đại địa cuộc cao quý đứng đầu địa linh được chia ra can long (thân), chi long (cành), cước long (nhánh)...

Can long: đất đế vương, đất kinh sư (nơi đóng đô).
Chi long: đất lập tỉnh, phủ lỵ.
Cước long: đất lập huyện, quận lỵ. Đại can long có hình thế khúc chiết vững vàng là yếu tố tiên quyết để lập quốc, hình thành một quốc gia.

Long mạch tạo nên sự vận hành của khí, tương quan với trời, đất, chòm sao, địa hình... Khí có chỗ bế, chỗ mở, chỗ phát tán, nơi ngưng tụ, có khi hung, khi kiết, biến đổi tùy thời. Long mạch là địa linh, đại can long là cực địa linh, muốn gắn bó lâu dài với nó phải lấy nhân nghĩa làm nền tảng bởi "Đức trọng quỷ thần kinh". Nếu chỉ biết bạo lực, hung tàn, đàn áp và khủng bố thì sợ e không bền bởi: "Thiện tất thọ lão, ác tất tảo vong".

Sau đây chúng tôi xin ghi lại đôi nét lịch sử qua các triều đại, để chúng ta có thể nhìn thấy quy luật lịch sử rất công bằng đã và đang vận hành chi phối mọi sự tồn vong của các triều đại mà không hề miễn trừ bất cứ một triều đại nào.

2. ĐÔI NÉT LỊCH SỬ QUA CÁC TRIỀU ĐẠI:

Nhà Hồng Bàng: (2879 TTL-258 TTL): 2621 năm 20 đời vua:
Lộc Tục Kinh Dương Vương cháu 4 đời Vua Thần Nông làm vua nước Xích Quỷ, truyền ngôi cho con là Sùng Lãm Lạc Long Quân. Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên bây giờ, truyền ngôi được 18 đời. Họ Hồng Bàng bắt đầu từ vua Kinh Dương Vương đến vua Hùng Vương thứ 18 gồm 20 đời kéo dài 2.621 năm. Như vậy 18 đời Vua Hùng Vương nước Văn Lang đóng đô ở Phong Châu phải có ít nhất 2.000 năm? Một con số huyền sử không xác thực, nhưng ý nghĩa mà huyền sử muốn nói là nguồn gốc Rồng Tiên cao quý của dân tộc, thời đại lập quốc của nước Văn Lang thái bình thịnh trị qua hàng nghìn năm và kinh đô Phong Châu là một đại can long, đại long mạch.

Nhà Thục (257 TTL-207 TTL) 50 năm 1 vua 1 đời:
Thục Phán An Dương Vương đặt tên nước là Âu Lạc đóng đô ở Phong Khê (thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An, Bắc Việt) hiện còn dấu tích thành Cổ Loa.

Nhà Triệu (207 TTL-111 TTL) 96 năm 5 vua 5 đời:
Triệu Đà Triệu Vũ Vương đặt tên nước là Nam Việt đóng đô tại Phiêng Ngung trên bờ Tây Giang gần Quảng Châu, Trung Hoa bây giờ.

Trưng Nữ Vương (40-43): 3 năm 1 vua 1 đời: đóng đô ở Mê Linh (làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên bây giờ).

Nhà Tiền Lý (544-602): 58 năm: 3 vua:
* Lý Bôn xưng Nam Việt Đế (544-548) đặt tên nước Vạn Xuân đóng đô ở thành Long Biên làm vua 4 năm.
* Triệu Việt Vương: (549-571) 22 năm: 1 vua 1 đời: tức Triệu Quang Phục xưng vương đóng đô ở thành Long Biên.

Hậu Lý Nam Đế: (571-602) 31 năm: 1 vua 1 đời: tức Lý Phật Tử xưng đế hiệu đóng đô ở Phong Châu (huyện Bạch Hạc tỉnh Hưng Yên).

Đời nhà Đường (618-907) bên Tàu, nước ta bị đô hộ:
Vua Đường đổi An Nam thành Tĩnh Hải phong cho Cao Biền làm Tiết Độ Sứ. Cao Biền trị dân có phép tắc nên được kính phục gọi tôn lên là Cao Vương. Cao Biền cho đắp lại thành Đại La 4 mặt cao hơn 2 trượng ở bờ sông Tô Lịch, 4 mặt có đường đê bao bọc dài hơn 2.000 trượng, cao 1, 5 trượng, dày 2 trượng. Trong thành cho dân làm nhà hơn 400.000 nóc. Ông là người ưa dùng phép phù thủy, sách VNSL ghi: "Tục lại truyền rằng Cao Biền thấy bên Giao Châu ta lắm đất đế vương, thường cứ cỡi diều giấy đi yểm đất, phá những chỗ sơn thủy đẹp, và hại mất nhiều long mạch. "

Nhà Ngô: (939-965): 26 năm: 4 vua:
* Tiền Ngô: Ngô Quyền (939-944) xưng vương mở đầu thời đại tự chủ, đóng đô ở Cổ Loa (huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên) làm vua 5 năm: đặt quan chức, chế triều nghi, định sắc phục, chỉnh đốn chính trị, vua mất thọ 47 tuổi.
* Dương Tam Kha (945-950) cướp ngôi xưng là Bình Vương làm vua 5 năm
* Hậu Ngô (950-965): Ngô Xương Văn xưng là Nam Tấn Vương (15 năm) mời anh là Ngô Xương Ngập cùng làm vua xưng là Thiên sách vương (4 năm). Nhà Ngô rơi vào loạn thập nhị sứ quân.

Nhà Đinh (968-980) 12 năm 2 vua 2 đời:
Đinh Bộ Lĩnh tức Đinh Tiên Hoàng Đế (làm vua 11 năm) đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư cho xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn võ.

Nhà Tiền Lê (980- 1009) 29 năm 3 vua 2 đời: Lê Hoàn xưng là Đại Hành Hoàng Đế, đóng đô ở Hoa Lư.

Nhà Lý: (1010-1225) 215 năm gồm 9 vua 9 đời:
Lý Công Uẩn lên ngôi Lý Thái Tổ, tháng bảy năm Thuận Thiên nguyên niên (1010) dời đô về thành Đại La, đổi Đại La thành Thăng Long tức Hà Nội bây giờ, cải Hoa Lư làm Trường An Phủ, và Cổ Pháp làm Thiên Đức Phủ.

Vua Lý Thái Tổ sùng đạo Phật, trọng đãi người tu hành, lấy tiền kho làm chùa đúc chuông. Năm 1018, vua sai quan Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang Tàu thỉnh kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng. Vua Tống phong làm Giao Chỉ quận vương, sau gia phong Nam Bình Vương. Chiêm Thành và Chân Lạp đều sang triều cống, việc bang giao được yên trị. Trong nước có đôi ba nơi làm loạn, nhà vua phải thân chinh đi dẹp mới yên. Các hoàng tử đều phong tước vương và phải cầm quân đi đánh giặc. Các công chúa thì coi việc thu thuế. Nhà vua lưu tâm việc sửa sang trong nước: đổi phép cũ của nhà Tiền Lê, chia nước ra làm 24 lộ. Định ra 6 hạng thuế. Vua trị vì được 18 năm, thọ 55 tuổi.

Năm 1044 Vua Lý Thái Tông đánh chiếm kinh đô Phật Thệ (làng Nguyệt Bậu, xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) bắt Vương phi Mị Ê, các cung nữ cùng 5.000 người và 30 con voi đem về. Vua Lý Thánh Tông làm vua 18 năm, đổi tên nước là Đại Việt, năm 1069 đánh Chiêm bắt vua Chiêm là Chế Củ, Chế Củ dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Quảng Bình, Quảng Trị) để chuộc tội. Vua Lý Nhân Tông khởi đầu đắp đê Cơ Xá, năm 1075 Lý Thường Kiệt sang đánh Tàu giết 10 vạn người, bắt người lấy của mang về. Chiêu Thánh Công Chúa mới 7 tuổi lên ngôi là vua Lý Chiêu Hoàng chỉ hơn 1 năm thì bị ép nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.

Nhà Trần: (1225-1400) 175 năm 12 vua 8 đời:
Năm 1225 Trần Cảnh lên ngôi Trần Thái Tông làm vua 38 năm đóng đô ở Thăng Long chia nước làm 12 lộ, đắp đê 2 bên bờ sông Hồng gọi là Đỉnh Nhĩ Đê đặt quan chánh phó coi việc đê. Thời Trần Thánh Tông năm 1272 Lê Văn Hưu làm xong bộ Đại Việt Sử 30 quyển chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng, nước ta có quốc sử từ đấy. Năm 1257, 1284, 1287 quân Mông Cổ sang đánh nước ta. Năm 1383 Chế Bồng Nga đánh chiếm Thăng Long.

Năm 1396, Hồ Quý Ly bắt vua Trần Thuận Tông dời đô vào thành Tây Đô (thuộc xã Yên Tôn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, hiện còn di tích) . Thành Thăng Long gọi là Đông Đô. Hồ Quý Ly bắt vua Trần Thuận Tông nhường ngôi cho con mới 3 tuổi làm vua là Trần Thiếu Đế đi tu tiên ở cung Bảo Thanh, núi Đại Lại (Thanh Hóa), sau Quý Ly sai người giết vua Trần Thuận Tông, năm 1400 bỏ Trần Thiếu Đế tự xưng làm vua.

Nhà Hồ: (1400-1407) 7 năm 2 vua 2 đời:
Năm 1400 Hồ Quý Ly xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng, đổi quốc hiệu là Đại Ngu (Hồ thuộc dòng dõi nhà Ngu bên Tàu) làm vua được 1 năm nhường ngôi cho con để làm Thái Thượng Hoàng.

Nhà Hậu Trần: (1407-1413) 6 năm 2 vua 2 đời: Giản Định Đế và Trần Quý Khoách kháng chiến chống giặc Minh thất bại.

Nhà Hậu Lê (1428-1527) 99 năm 10 vua 6 đời:
Sai giết Trần Cao chết rồi, Bình Định Vương Lê Lợi có công dẹp giặc Minh lên ngôi vua là Lê Thái Tổ năm 1428, đặt quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long làm vua được 5 năm: chia nước làm 5 đạo. Xã 10 người gọi là tiểu xã, xã 50 người gọi là trung xã, xã 100 người gọi là đại xã. Nước ta xưa nay không có bản đồ, đến đời vua Lê Thái Tông, vua sai quan các đạo vẽ địa đồ núi sông, ghi chép sự tích gởi về bộ Hộ để làm quyển địa dư nước ta. Đến đời Vua Lê Thánh Tông (vị minh quân) vua sai Ngô Sĩ Liên làm bộ Đại Việt Sử ký chia làm 2 bản 15 quyển chép từ đời Hồng Bàng đến đời vua Lê Thái Tổ. Cuối đời Hậu Lê loạn lạc: Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dục lập vua Lê Chiêu Tông rước vào Tây Đô; Nguyễn Hoằng Dụ đem binh về đốt phá kinh thành Thăng Long, Trần Cao đem quân sang chiếm Đông Đô tự xưng làm vua, triều đình họp binh đánh, Trần Cao bỏ chạy... Vua Lê Chiêu Tông nhờ Mạc Đăng Dung dẹp loạn, Mạc Đăng Dung chuyên quyền, vua bỏ chạy lên Sơn Tây, Mạc Đăng Dung lập vua Lê Cung Hoàng rước về ở Gia Phúc tỉnh Hải Dương. Năm 1524 Mạc Đăng Dung đem quân vào Thanh Hóa đánh Trịnh Tuy bắt vua Chiêu Tông về Đông Hà sai người giết đi, năm 1527 bắt các quan nhà Lê thảo chiếu truyền ngôi cho mình, Cung Hoàng và bà Hoàng Thái Hậu đều bị giết.

Bắc Triều Nhà Mạc (1527-1592) 65 năm 5 vua 5 đời:
Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi lên làm vua là Mạc Thái Tổ được 3 năm thì nhường ngôi cho con về Cổ Trai làm Thái Thượng Hoàng. Nhà Mạc đến năm 1592 thì bị Trịnh Tùng dứt, nhưng Mạc Kính Cung và con cháu 2 đời được nhà Minh bênh vực còn giữ được đất Cao Bằng.

Nam Triều Nhà Lê Trung Hưng: (1532-1599) 66 năm, 4 vua:
Năm 1532 Nguyễn Kim tôn Lê Duy Ninh lên ngôi là Lê Trang Tông ở Ai Lao về đóng ở Sầm Châu (Thanh Hóa), năm 1543 chiếm Tây Đô (Thanh Hóa), năm 1545 lập hành điện ở đồn Vạn Lại (huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hóa), Trịnh Kiểm giữ binh quyền.

Nhà Hậu Lê thời Trịnh Nguyễn phân tranh: (1600-1788) 188 năm 12 vua 8 đời:
Vua Lê Kính Tông lên ngôi làm vua được 19 năm thì bị Trịnh Tùng giết. Đến đời vua Lê Mẫn Đế niên hiệu Chiêu Thống năm 1788 bị Tây Sơn đánh bại chạy sang Tàu cầu cứu.

Đời Nhà Trịnh (Chúa Trịnh): (1592-1786) 194 năm 10 chúa 8 đời:
Trịnh Tùng tranh quyền của anh nối nghiệp Trịnh Kiểm, năm 1592 dứt nhà Mạc lấy lại thành Thăng Long, rước vua Lê ra. Năm 1599 thông sứ tốt với nhà Minh chịu nhường đất Cao Bằng cho con cháu nhà Mạc, tự xưng Bình An Vương phù Lê lập nên nghiệp chúa Trịnh. Nhà Trịnh đánh nhau với chúa Nguyễn 7 lần, năm 1775 sai Hoàng Ngũ Phúc vào đánh chiếm Phú Xuân, Quảng Nam, chúa Nguyễn chạy vào Gia Định. Năm 1786 Nguyễn Huệ ra đánh Bắc Hà bắt được Chúa Trịnh Khải, Khải tự vẫn.

Nhà Nguyễn (Chúa Nguyễn): (1558-1777) 219 năm 9 chúa, 9 đời:
Năm 1558, Chúa Tiên Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa đóng dinh tại xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị. Năm 1570 dời vào làng Trà Bát cùng huyện gọi là Cát Dinh, làm Chúa được 55 năm. Năm 1626 chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên dời vào làng Phúc An huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên đổi chỗ tư sở thành phủ. Năm 1636, chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan dời phủ vào làng Kim Long huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên. Năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Trăn dời phủ về làng Phú Xuân tức Cố Đô Huế bây giờ gọi là chính dinh. Chỗ phủ cũ làm Thái Tông Miếu thờ chúa Hiền. Năm 1702, chúa Nguyễn Phúc Chu sai người sang cống vua Thanh để xin phong, nhưng Thanh triều nói rằng nước Nam còn họ Lê nên không phong được. Nguyễn Phúc Chu tự xưng là Quốc Chúa đúc ấn Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa Vĩnh Trấn Chi Bảo để truyền quốc bảo đến đời vua Gia Long mới thôi. Năm 1744 Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu, đổi phủ ra điện, sửa sang phép tắc, đổi lại chế độ, định triều nghi, chia nước thành 12 dinh.

Đất Đàng Trong tuy độc lập nhưng Họ Nguyễn chỉ xưng chúa và không đặt quốc hiệu nên người ngoại quốc thường gọi là Quảng Nam Quốc. Năm 1692, lấy hết đất Chiêm, năm 1757 lấy hết đất Thủy Chân Lạp.

Nhà Nguyễn Tây Sơn (1778-1802) 24 năm 3 vua 2 đời:
Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng đế ở Qui Nhơn làm vua từ Quảng Nam trở vào, từ Phú Xuân trở ra thuộc nhà Lê. Năm 1784, Nguyễn Huệ đánh tan quân Tiêm La ở đất Gia Định. Năm 1786, Nguyễn Huệ lấy thành Phú Xuân ra Bắc Hà diệt họ Trịnh. Năm 1788, quân Thanh sang đánh chiếm thành Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế đặt niên hiệu Quang Trung dẫn quân ra Bắc đánh tan quân Thanh, sau cho người sang dâng biểu xin phong, vua nhà Thanh sai sứ sang phong Ngài làm An Nam Quốc Vương, làm vua 4 năm thì mất.

Nhà Nguyễn: (1802-1945) 143 năm 12 vua 7 đời:
Vua Nguyễn Thế Tổ Gia Long khởi binh tại Gia Định năm 1778, năm 1780 xưng vương, năm 1801 chiếm thành Phú Xuân, dứt nhà Tây Sơn. Năm 1802 lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Việt Nam đóng đô ở Phú Xuân tức nội thành Huế bây giờ. Năm 1804, vua Thanh sai sứ sang phong vương, năm 1806 làm lễ xưng đế hiệu ở đền Thái Hòa, định triều nghi cứ rằm mùng một thiết đại triều, mồng 5, 10, 20, 25 thiết tiểu triều, không đặt ngôi hoàng hậu chỉ có hoàng phi và các cung tần, bỏ chức tể tướng, mọi việc đều do lục bộ trông coi, chia nước làm 23 trấn 4 doanh. Đến đời Vua Minh Mạng đổi quốc hiệu là Đại Nam, năm 1836 đặt Tôn Nhân Phủ, đặt quan chức coi mọi việc trong họ nhà vua, đặt 7 miếu thờ tiên tổ, miếu bên tả gọi là chiêu, miếu bên hữu gọi là mục, con cháu dòng chiêu hay mục phải phân biệt chi nào ra chi nấy. Mọi người trong hoàng tộc đều được nuôi nấng cấp tước lộc.

Năm 1858 chiến thuyền Pháp và I-Pha-Nho đánh Đà Nẵng. Năm 1862 ký hòa ước Nhâm Tuất 12 khoản cắt 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp. Năm 1867, quân Pháp đánh chiếm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử. Năm 1873, quân Pháp hạ thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương tử tiết. Năm 1882 quân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội, Hoàng Diệu thắt cổ tự tử.

Nhà Nguyễn truyền ngôi đến năm 1883 là năm vua Tự Đức mất cũng mất quyền tự chủ, tuy ngôi vua còn nhưng đất nước bị Pháp đô hộ. Năm 1884 Hòa ước Patenôtre định thể lệ bảo hộ.

Từ năm 1945 đến nay nước ta có 3 thủ đô:

* Huế: Thủ đô của Chính phủ Thủ tướng Trần Trọng Kim, Quốc trưởng Bảo Đại.

* Sài Gòn: Thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa: (1954-1975): 21 năm gồm các thời chính: Tổng thống Ngô Đình Diệm, Đại tướng Dương Văn Minh, Đại tướng Nguyễn Khánh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

* Hà Nội: Thủ đô của Nhà Nước **** Việt Nam (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam): đến nay là 60 năm gồm 1 đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, và 6 đời Tổng bí thư: Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh.

Trong suốt lịch sử, nước ta có nhiều quốc hiệu: Văn Lang, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Việt Nam, Đại Nam...

Nhiều kinh đô, thủ đô: Phong Châu (Vĩnh Yên), Phong Khê (Phúc An), Mê Linh (Phúc Yên), Long Biên, Vạn Xuân, Đại La (Hà Nội), Cổ Loa (Phúc Yên), Hoa Lư, Thăng Long (Hà Nội), Tây Đô (Thanh Hóa), Đông Đô (Hà Nội), Vạn Lại (Thanh Hóa) Ái Tử (Quảng Trị), Phú Xuân (Huế), Qui Nhơn (Bình Định), Gia Định, Sài Gòn, Huế, Hà Nội.

Nước Văn Lang và kinh đô Phong Châu kéo dài hàng ngàn năm.

Nước Đại Việt: xuất hiện từ thời nhà Lý do vua Lý Thánh Tông (1054-1072) đặt, đến hết đời nhà Lý (171 năm) đời Trần (175 năm), đời Hậu Lê (255 năm), đời Tây Sơn (14 năm) tổng cộng trên 600 năm.

Thủ đô Hà Nội xuất hiện từ thời Lý Nam Đế gọi là Long Biên (4 năm), thời Triệu Quang Phục gọi là Long Biên (22 năm), thời nhà Đường đô hộ bắt đầu từ Cao Biền xây thành Đại La khoảng năm 866 đến hết thời Đường đô hộ khoảng 40 năm, năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long đến năm 1788 Tây Sơn diệt nhà Hậu Lê khoảng 700 năm, Hà Nội từ năm 1945 đến nay: 60 năm, tổng cộng thời gian Hà Nội được sử dụng làm kinh đô khoảng trên 800 năm.

Tóm lại trải qua hàng ngàn năm lịch sử có 3 quốc hiệu được dân tộc ta sử dụng lâu dài nhất là Văn Lang, Đại Việt, Việt Nam. Có 3 kinh đô được sử dụng lâu dài nhất là Phong Châu, Hà Nội, Huế. Phong Châu, Huế đã trở thành cố đô, Hà Nội hiện đang là thủ đô.

3. THĂNG LONG ĐẤT ĐẠI CAN LONG, ĐẠI LONG MẠCH

Nếu Thủ đô Hoa Thịnh Đốn là đất đại can long, đại long mạch của Hoa Kỳ nằm trên bờ sông Potomac, thì Hà Nội tức Thăng Long xưa là đất đại can long, đại long mạch của Việt Nam nằm trên bờ sông Hồng Hà. Người Hoa Kỳ không biết có học phong thủy không nhưng khi xây Tòa Nhà U.S. Capitol họ đã xây trên ngọn đồi nhìn về hướng Tây trông ra dòng sông Potomac, nơi có Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, Đài Kỷ Niệm Washington, Đài Tưởng Niệm A. Lincoln, Đài Tưởng Niệm T. Jefferson, Đài Tưởng Niệm F.D. Roosevelt, (những biểu tượng của hồn thiêng sông núi) và thực hiện đúng câu "Tiền đê hậu cao" (trước thấp sau cao) trong phong thủy.

Mùa Thu năm Canh Tuất (1010) từ kinh đô Hoa Lư, Vua Lý Thái Tổ ban lệnh dời đô, thuyền ngược dòng Hồng Hà cập bến Đại La nơi đô cũ của Cao Biền lúc trước. Khi ra đến La Thành, Vua Thái Tổ lấy cớ nằm mộng trông thấy rồng vàng hiện ra bèn đổi thành Đại La thành thành Thăng Long. Việc xây dựng kinh thành theo Giáo sư Phan Huy Lê: "Buổi đầu đã sử dụng tòa thành này cùng một số kiến trúc có sẵn rồi sửa sang xây dựng thêm những cung điện mới".

Kinh thành đại thể được giới hạn bằng ba con sông: mặt Đông là sông Hồng, mặt Tây mặt Bắc là sông Tô Lịch, mặt Nam là sông Kim Ngưu. Kinh thành chia 2 phần:

Hoàng Thành nằm trong lòng kinh thành, gần Hồ Tây nơi có cung điện hoàng gia và chỗ thiết triều, cấm thành nơi ở của hoàng gia gọi là Long thành. Điện Kiền Nguyên là điện chính nơi vua làm việc, hai bên tả hữu là điện Tập Hiền, Giảng Vũ. Bên trái mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân. Bên phải mở cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn. Chính Bắc dựng điện Cao Minh, đằng sau là cung Thúy Hoa nơi các cung phi ở. Bao bọc các cung điện là một bức tường thành bảo vệ gọi là Long Thành với 10 cấm quân canh gác ngày đêm. Các công trình thổ mộc đẹp đẽ, cách chạm trổ trang sức khéo léo.

Qua các triều đại sơ lược trên đây, chúng ta thấy Nhà Lý là một triều vua nhân đức hơn hết, do đó cũng được thịnh trị hơn hết, lâu dài hơn hết.

Lý Công Uẩn lên ngôi không giết một sinh mạng, trong khi Nhà Trần, Trần Thủ Độ giết gần hết hoàng tộc nhà Lý. Nhà Hồ, Hồ Quý Ly giết vua Lê Thuận Tông, công thần: Trần Khát Chân cùng 370 người. Nhà Lê, Lê Lợi giết Trần Cao, công thần Trần Nguyên Hãn, Phạm văn Xảo. Nhà Mạc, Mạc Đăng Dung giết vua Lê Chiêu Tông, vua Lê Cung Hoàng, bà Hoàng Thái Hậu và vô số triều thần Nhà Lê khác. Nhà Nguyễn, Vua Gia Long tùng xẻo vua tôi Nhà Tây Sơn, đào mồ cắt đầu anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc bỏ giam trong ngục tối, giết hại công thần Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường.

Hoàng tộc nào được ngồi không hưởng bổng lộc xa hoa? Riêng hoàng tộc nhà Lý thì hoàng tử phải đi đánh giặc, công chúa phải đi thu thuế, cung nữ phải học nghề thêu dệt gấm vóc.

Vua Lý Thái Tổ lên ngôi cho xây chùa thỉnh kinh.

Vua Lý Thái Tông "bao giờ cũng để lòng thương dân. Hễ năm nào đói kém hay là đi đánh giặc về, thì lại giảm thuế cho hàng hai ba năm - VNSL" nhà vua không giết hai người em phản nghịch mà còn phục lại chức cũ, nhà vua hạ chiếu cấm không cho ai được mua người để làm nô lệ. Còn Lý Thánh Tông là "một ông vua nhân từ, có lòng thương dân; một năm trời rét, Thánh Tông bảo những quan hầu gần rằng: "Trẫm ở trong cung ăn mặc như thế này còn rét, nghĩ những tù phạm giam trong ngục, phải trí buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm." Nói rồi truyền lấy chăn chiếu cho tù nằm và mỗi ngày cho hai bữa ăn. Lại có một hôm Thánh Tông ra ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên Công Chúa đứng hầu bên cạnh. Thánh Tông chỉ vào công chúa mà bảo các quan rằng: "Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi." Vua Thánh Tông có nhân như thế cho nên trăm họ mến phục, trong đời Ngài làm vua ít có giặc giã. Ngài lại có ý muốn khai hóa sự văn học, lập văn miếu, làm tượng Chu Công Khổng Tử và 72 tiên hiền để thờ. Nước ta có văn miếu thờ Khổng Tử và chư hiền khởi đầu từ đấy. - VNSL ".

Việc binh chính, binh pháp nhà Lý thời Lý Thánh Tông "có tiếng là giỏi, nhà Tống bên Tàu phải bắt chước, ấy là sự vẻ vang cho nước mình bao nhiêu? - VNSL" Nhà Lý đem binh đánh tới Quảng Đông Quảng Tây nước Tàu là lần duy nhất trong lịch sử và cũng là triều đại mở đầu cuộc Nam Tiến chiếm đất bắt vương phi Chiêm Thành. Trần Trọng Kim viết:

"Nhà Lý có công làm cho nước Nam ta nên được một nước cường thịnh: ngoài thì đánh Tàu, bình nước Chiêm, trong thì chỉnh đốn việc võ bị, sửa sang pháp luật, xây vững cái nền tự chủ."

Vua Lý Thái Tổ là một vị minh quân nhân đức mới 3 tuổi đem cho nhà sư chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn làm con nuôi đặt tên là Lý Công Uẩn, sau theo học sư Vạn Hạnh. Lớn lên vào Hoa Lư làm quan nhà Tiền Lê đến chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi lên ngôi ngài thấy Hoa Lư chật hẹp và cũng sáng suốt nhìn thấy thành Đại La đô cũ của Cao Biền khi xưa nằm trên bờ sông Hồng Hà là một đại can long, một "thắng địa" thuộc hàng đại long mạch lý tưởng:

"Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.... - Chiếu dời đô - Lý Công Uẩn".

Càng đắc địa hơn, trước khi chảy đến Thăng Long, dòng Hồng Hà ngoằn ngoèo uốn khúc để tạo nên một vùng cát địa có đại long mạch tầm cỡ "thượng đô kinh sư". Và trước khi ra biển, dòng sông ngoái lại nhìn rồi tỏa ra tạo thành những chi long, cước long, bàng long lung linh như một bức gấm thêu giữa vùng non nước hữu tình. Địa huyệt kết nơi cao nhất có tên là núi Nùng. Thiên huyệt kết chỗ thấp nhất có tên là Hồ Hoàn Kiếm nơi Thần Kim Quy hiện ra báo hiệu điềm lành. Tuy nhiên khác với Hoa Lư, địa thế Thăng Long trống trải, đã bao lần bị quân Tàu, quân Pháp đánh chiếm, ngay Chế Bông Nga vua Chiêm cũng đã 3 lần ra chiếm Thăng Long đốt phá lấy sạch vàng bạc châu báu và bắt con gái mang về.

Muốn đại can long, đại long mạch lưu phúc trạch lâu dài cho con người, con người phải có đại nhân đại đức, lấy đức báo oán, lấy đức đối đãi với bá tánh và mưu cầu cho bá tánh có một đời sống xứng đáng là con người đúng với hai chữ hạnh phúc ấm no. Hễ đức càng nhiều thì vận càng dài, đức cạn thì vận tuyệt.

4. CON SỐ 8 HUYỀN BÍ

Niên hiệu Thuận Thiên năm 1010, Vua Lý Thái Tổ thỉnh Thiền sư Vạn Hạnh về làm Quốc sư, sau khi dời đô về Thăng Long, Ngài nhanh chóng thiết lập nền tảng cơ sở đạo đức và tôn giáo: xây 8 ngôi chùa tại phủ Thiên Đức, năm 1018 sai người sang Tàu thỉnh kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng. Các nhà phong thủy cho rằng Ngài đã thông hiểu những bí mật của đại can long đại long mạch Thăng Long. Con số 8 huyền bí như một lời khẩn cầu cho quốc thái dân an tu nhân tích đức và cũng là con số giới hạn đối với chủ nhân của đại can long đại long mạch Thăng Long. Quả là một con số 8 huyền bí nếu chúng ta chịu khó lược qua sự tồn vong của các triều đại:

Nhà Lý do Vua Lý Thái Tổ dựng lên đóng đô trên đất đại can long đại long mạch Thăng Long 215 năm tính từ đời Ngài cho đến đời Lý Huệ Tông bỏ cung vàng đi tu vừa đúng 8 đời thì cơ nghiệp triều chính lọt vào tay Nhà Trần. Tính thêm đời vua Lý Chiêu Hoàng là 9 đời, nhưng đời vua này trên thực tế có cũng như không, vì do Trần Thủ Độ đạo diễn đưa lên làm vua mới có 7 tuổi và chỉ 14 tháng sau thì bị ép phải nhường ngôi.

Nhà Trần làm chủ Thăng Long từ đời Trần Thái Tông đến Trần Thiếu Đế được 175 năm gồm 12 vua 8 đời.

Nhà Hồ 7 năm 2 vua 2 đời

Nhà Hậu Lê 99 năm 10 vua 6 đời

Nhà Mạc 65 năm 5 vua 5 đời

Nhà Lê Trung Hưng 66 năm 4 vua 4 đời

Nhà Hậu Lê Thời Trịnh-Nguyễn: 188 năm 12 vua 8 đời

Nhà Trịnh 194 năm 10 chúa 8 đời

Đại can long đại long mạch là gì mà có một sự tác động ghê gớm như thế? Và con số 8 kể từ thời Lý Thái Tổ đến nay đã gần 1.000 năm mà vẫn chưa có một triều đại nào (đóng đô trên đất Thăng Long) vượt qua kể cả những triều đại hiễn hách trong lịch sử?

Phải chăng sự tác động của đại can long đại long mạch là điều có thật? Phải chăng kiến thức huyền bí về long mạch đã bị chiến tranh thiêu hủy hay thất truyền nên ngày nay chúng ta không thể lý giải nổi dù chúng ta vẫn tin vào quy luật nhân quả đang hiện hữu và chi phối con người từng giờ từng phút.

5. DẤU XƯA XE NGỰA HỒN THU THẢO

Nhắc đến hai chữ Thăng Long, người ta ngậm ngùi nhớ đến Bà Huyện Thanh Quan thời Nhà Nguyễn với bài thơ trầm buồn Thăng Long Thành Hoài Cổ:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Và mới đây trên báo Trẻ Florida số 83A ngày 21/10/2005 có đăng bài viết "Cổ Thụ, Dấu Vết Của Lịch Sử" của tác giả Dương Quốc Trung, khi đọc đoạn văn viết về Thăng Long xưa-Hà Nội nay sau đây chắc chúng ta không khỏi thấm thía bùi ngùi:

"Chùa Một Cột hay đình Diên Hựu xưa sử sách chép niên đại có từ rất sớm gắn với triều Lý thịnh Phật, những kiến trúc hôm nay chứng kiến mới chỉ được dựng lại chưa đầy nửa thế kỷ, sau khi đã bị phá hủy hoàn toàn vào năm 1954. Thành Thăng Long xây từ đời Lý qua đời Trần, Lê... sử sách mô tả bề thế mà đến cuối thế kỷ trước, đầu thế kỷ này bị chiến tranh tàn phá không còn gì. Một mảnh tường ngoài cổng thành cửa Bắc còn lưu vết đạn (...)
Gở tấm bản đồ xưa của Thăng Long-Hà Nội, ta sẽ thấy hình vẽ, tên gọi những con sông. Tô Lịch, Kim Ngưu, Lũ, Thiên Phù, Sét... mà nay đã biến mất hoặc chỉ còn dấu tích tàn tạ. Những dấu vết kiến trúc của nơi tụ cư xưa nhất mà ta hay gọi là "36 phố phường" còn lại là bao?".

Tại sao dinh thự trăm tỷ ở Hà Giang được xây dựng trên quả đồi hình con rùa?

Dinh thự có hình mai rùa vững chắc bao quanh là những hàng cây sa mộc vươn cao làm nổi bật lên nét vương giả giữa vùng cao nguyên Đồng Văn.

Dinh thự trên lưng thần kim quy là biểu tượng của sự vĩnh cửu
Dinh thự nhà Vương được xây dựng suốt ngày đêm trong vòng 8 năm mới hoàn thành. Toàn bộ dinh thự vua Mèo có diện tích gần 3.000 m2.
Theo tư liệu từ gia đình, cụ Vương Chính Đức sinh năm 1865, được người H’Mông gọi là Vàng Dúng Lùng. Gia cảnh nghèo khó, ông phải lang thang nay đây mai đó kiếm kế sinh nhai.
  • Cận cảnh dinh thự 150 tỷ đồng của họ Vương tại Hà Giang

Cụ Vương Chính Đức tham gia vào tổ chức Hươu nai của người H’Mông ở Đồng Văn để chống lại quân Cờ Đen (Trung Quốc).
Sau quá trình chiến đấu, cụ Vương Chính Đức được người H’Mông suy tôn làm thủ lĩnh, gọi là Vua H'Mông, hay Vua Mèo.
Để xây dựng tòa dinh thự ở Sà Phìn, năm 1890, vua Mèo - Vương Chính Đức đã cho mời thầy địa lý người Hán tên là Trương Chiếu tìm địa điểm.
Cuối cuộc khảo sát, thầy đã tìm được nơi đắc địa, đó là một thung lũng nhỏ, ở giữa có hình mai rùa - một trong tứ linh theo phong thủy.
Tại sao dinh thự trăm tỷ ở Hà Giang được xây dựng trên quả đồi hình con rùa? - Ảnh 2.
Cổng chính để bước vào dinh thự vua Mèo.
Theo thầy phán, nơi đây có vượng khí của bậc đế vương. Xây dinh lũy ở đây đảm bảo trọn vẹn 2 chức năng công, thủ. 
Những cung núi dựng đứng xung quanh chỉ có con đường nhỏ độc đạo sẽ ngăn quân thù giáp công 4 mặt. Khi tấn công quân thù khó thoát bởi nghĩa binh Mèo thông thạo các đường ngang ngõ tắt trên các triền núi, di chuyển cơ động chặn và tiêu diệt kẻ thù dễ như trong lòng bàn tay.
Dinh thự trên lưng thần kim quy là biểu tượng của sự vĩnh cửu. Hai ngọn núi phía Bắc nhô lên như 2 mâm xôi là sự đầy đặn, no đủ. Thế núi bao quanh là sự vững chãi, sâu rễ, bền gốc mãi về sau.
  • Cháu nội vua Mèo nói về dinh thự hàng trăm tỷ đồng: “Tôi có ký văn bản hiến nào đâu"

Nhìn tổng thể, toàn bộ dinh thự có hình mai rùa vững chắc, bao gồm hàng trăm toà ngang, dãy dọc quy mô, bề thế với nhiều công trình phụ trợ khác, cùng với những hàng cây sa mộc vươn cao làm nổi bật lên nét vương giả giữa vùng cao nguyên.
Sau lưng quả đất hình con rùa là dãy núi hình ghế tựa, có đất để co duỗi chân. Bên phải, bên trái đều có núi cao. Đằng trước có hai núi tượng trưng cho văn, võ đứng hầu.
Sau hai quả núi là một dãy núi chắn ngang như rồng uốn lượn. Trương Chiếu kết luận "đây là mảnh đất ở của bậc anh kiệt", theo miêu tả trên báo VnExpress.
Dinh thự tiêu tốn 15 vạn đồng bạc trắng Đông Dương
Tòa dinh thự khởi công năm 1898 đến 1903 thì khánh thành với ổng kinh phí hết khoảng 15 vạn đồng bạc trắng Đông Dương của Pháp, tương đương với 150 tỷ đồng tiền Việt Nam lúc bấy giờ.
Khu dinh thự được xây kiểu pháo đài phòng thủ. Xung quanh được bao bọc bởi lớp tường đá dày 60-70 cm, cao 2 m, có nhiều lỗ châu mai. Phía sau nhà có 2 lô cốt kiên cố.
Theo miêu tả trên báo Lao động, dinh thự vua Mèo có ảnh hưởng kiến trúc của 3 nền văn hóa: Trung Quốc, người Mông và Pháp.
Toàn dinh thự có 3 cung Tiền, Trung, Hậu với 64 phòng dành cho 100 người ở.
Khu Tiền cung là nơi ở của lính bảo vệ, gia nhân. Trung cung và Hậu cung là nơi ở, làm việc của con cháu dòng họ Vương. Toàn bộ gỗ của ngôi nhà trước đây đều được làm từ gỗ thông đá.
Tại sao dinh thự trăm tỷ ở Hà Giang được xây dựng trên quả đồi hình con rùa? - Ảnh 4.
Dinh thự có 3 cung Tiền, Trung, Hậu với 64 phòng
Theo ông Vương Duy Bảo, trước khi mất, cụ Vương Chính Đức chia tòa dinh thự ở Sà Phìn thành ba phần.
Tiền dinh do cháu đích tôn Vương Quỳnh Sơn quản lý. Trung dinh do con thứ ba Vương Chí Chư quản lý. Hậu dinh do con út Vương Chí Sình quản. Việc này có sự chứng dám của các đầu dòng, đầu họ người H’Mông.tư vấn phong thủy thiết kế kiến trúc thi công xây dựng dân dụng thi công đình chùa miếu mạo vật phẩm phong thủy.0988611829

Sự kiện đó có đúng không ? Nếu đúng, thì thời gian Vũ Hồn được cử làm Đô Hộ Sứ ở An Nam là năm nào, mà vị đại thần Trung Quốc ấy lại có thể tìm được đất, di cư đem con cháu qua lập nghiệp, phát đạt hiển hách làm được cả đền thờ, viết được cả câu đối, ghi nhớ công ơn người khai sáng, để khi Cao Biền có dịp đi qua, chỉ còn biết ngẫn ngơ, trước kiểu đất văn học tuyệt vời đó !
Nếu bảo rằng Vũ Hồn sang An Nam sau Cao Biền, thì giả thuyết ấy e rằng không đúng !
Vì cái chức An Nam Đô Hộ Sứ chỉ được đặt ra về đời Vua Cao Tôn nhà Đường, đồng thời với danh từ An Nam Đo Hộ Phủ.
Nhưng đến khi Cao Biền đánh thắng được quân Nam Chiếu, nước ta trở lại nội thuộc nhà Đường, thì vua Đường lại đổi An Nam làm Tỉnh Hải và phong cho Cao Biền làm Tiết Độ Sứ.
Do đấy mà chúng tôi tin rằng ngôi Mả Táng Treo chỉ có thể được an táng từ trước ngày Cao Biền qua nước ta, căn cứ vào số quan Trung Quốc "Thiên Triều" phải qua đây, trong những thời kỳ nước ta bị Bắc thuộc, không đời nào còn thấy có chức An Nam Đô Hộ Sứ nữa !
Tóm lại chúng tôi không tin rằng : ngôi mả táng treo, được táng sau thời Cao Biền đem binh sang đánh quân Nam Chiếu, vì một lẽ dể hiểu : nếu được thấy kiểu đất ấy thì một người tinh thông phong thủy như họ Cao, có đâu lại chịu bỏ qua, nhường chốn cát địa cho người khác hưởng thụ.
Nhưng ngôi mộ nếu đã không được táng trong thời kỳ Cao Biền sang bình định nước ta, thì mả ấy được táng từ đời nào ? trước đấy hay sau đấy.
Điều đáng cho ta thắc mắc nhiều hơn hết là cái chức An Nam Đô Hộ Sứ của Vũ Hồn, vì như chúng tôi đã trình bày trong kỳ trước : Xứ Giao Châu chỉ được đổi tên là An Nam từ đời Vua Cao Tôn Nhà Đường cũng như chức vị Đô Hộ Sứ, chỉ được đặt trong thời gian ít năm gần đây, cho đến khi Cao Biền dẹp tan quân Nam Chiếu, dâng biểu về triều báo tiệp, thì vua Đường lập tức đổi An Nam là Tỉnh Hải, và đặt ra chức Tiết Độ Sứ để cai trị nước ta.
Nếu bảo khu đất "Cửu Thập bát Tú triều dương" và làng Mộ Trạch, còn là những vùng hoang địa cho đến khi Cao Biền đi qua thì thật là vô lý !
Một nhà phong thủy kỳ tài lỗi lạc như Cao Biền, lại mang nặng chiếu mạng của vua Đường : phải triệt hạ trấn yểm cho kỳ hết, những kiểu đất trong những miền sơn thủy kỳ khu, quy tụ long mạch đế vương, hay công hầu, khanh tướng, thì có bao giờ lại chịu bỏ qua một kiểu đất văn học tuyệt vời như nơi có ngôi mả táng treo của Vũ Hồn và nơi quy tụ con cháu dòng họ Vũ tức là làng Khả Mộ, mà theo tài liệu ghi chú trong gia phả họ Vũ, sau được đổi tên là làng Mộ Trạch. Nhất định Cao Biền không thể nào giữ thái độ thản nhiên, bất động như thế được.
Một là nhà địa lý tài ba ấy phải chiếm đoạt lấy, để an táng hài cốt tổ phụ, nhất là vào hoàn cảnh của họ Cao lúc đó, đang bị kẻ thù âm mưu hãm hại, tìm đủ cách sàm tấu với triều đình thì một nhân vật lổi lạc văn võ song toàn, trí mưu gồm đủ như Cao Biền, rất có thể xưng hùng một cõi bằng cách tạo lập riêng biệt cho mình một sự nghiệp, bắt đầu bằng ngôi mả "Cửu Thập bát Tú", và sau đó, dùng làng Mộ Trạch để quy tụ con cháu làm vây cánh, há không phải là mưu kế vạn toàn sao ?
Hai là, nếu Cao Biền không muốn hoạt động cho sự tư lợi của mình, thì chiếu theo chiếu mạng của nhà vua, nhà phong thủy đó cũng phải phá huỷ kiểu đất, triệt hạ long mạch, để không cho một ai, lợi dụng khu cát địa ấy, ngóc đầu lên được ?
Vậy mà cả hai giải pháp trên, đều không được Cao Biền xử dụng, thì đủ hiểu vùng đất đai kỳ tú đó đã có chủ từ lâu, hoặc giả Cao Biền không hề được đặt chân đến vùng Lương Đường, Ngọc Cục một lần nào hết !
Đặt giả thuyết là ngôi mả táng treo được an táng từ khi bắt đầu có chức Đô Hộ Sứ và xứ Giao Châu được mang tên là xứ An Nam, nghĩa là vào đời vua Cao Tôn nhà Đường bên Tàu.
Đồng thời ta cũng cứ tạm tin Vũ Hồn là quan Đô Hộ Sứ đầu tiên do nhà Đường bổ nhiệm sang cai trị đất An Nam, theo như lời ghi chú trong gia phả họ Vũ mà tài liệu còn được đặt thờ trên ngai, mặc dầu trong sử sách, chúng tôi đã tốn công tra cứu, không hề thấy một viên quan văn võ, lớn nhỏ nào của nhà Đường, được phái qua đất An nam, mang họ Vũ, chứ đừng nói là chức Đô Hộ Sứ, một chức vụ nếu chúng tôi không lầm, không thua kém gì chức Thái Thú về trước, hay chức Tiết Độ sứ sau này, cũng do nhà Đường đặt ra.
Nếu tạm tin là có quan Đô Hộ Sứ Vũ Hồn, từ bên Tàu qua cai trị đất này, rồi đặt thêm một câu hỏi phụ : họ Vũ đóng doanh trại ở đâu mà lại có thể tìm được kiểu đất " Cửu Thập bát Tú triều dương" và làng Mộ Trạch để có thể sau đấy, về triều đình xin phép nhà vua cho di cư con cháu qua An nam lập nghiệp ?
Thời gian tìm kiếm được đất, trở về Tàu, rồi lại qua An Nam, theo sự chuyển vận ngày xưa, đường lối giao thông không thuận tiện, nào qua suối băng rừng, nào trèo non, vượt bể liệu mất bao nhiêu ngày tháng ?
Đó là chưa kể đến những sự trở ngại khác, rất có thể xãy ra, về phương diện chính trị, cho một viên quan nhận mệnh vua đi trấn nhậm phương xa chưa làm được điều gì đặc biệt đã lại về triều xin đem con cháu qua lập nghiệp ở nơi mình đang cai trị, thì há không sợ nhà vua nghi ngờ, và các bạn đồng liêu dị nghị rồi tìm cách ngăn cản sao ?
Ai cũng biết rằng cái nghề làm quan ỡ bên Tàu, một khi được bổ đi trấn nhậm các vùng bị nội thuộc là có một cơ hội làm giàu chắc chắn, tha hồ mà vơ vét, đục khoét, làm mưa, làm gió với đám dân đen bản xứ !
Vậy thì trước miếng mồi ngon béo bở ấy, các triều thần văn vỏ nhà Đường, đâu có dại gì mà để cho Vũ Hồn được độc quyền hưởng thụ ? Mà không những chỉ hưởng thụ một mình, Vũ Hồn lại còn về đem con cháu, họ hàng qua An nam lập nghiệp, một cách quá dể dàng, khiến cho giờ đây, khi đọc đến đoạn này, người ta đã phải bâng khuâng tự hỏi : Trong thời đại phong kiến cực thịnh, vấn đề di dân lại thực hiện nhanh chóng đến thế sao ?
Nếu tính cộng tất cả thời gian từ lúc Vũ Hồn sang An Nam làm Đô Hộ Sứ, cho đến khi tìm được đất về Tàu, xin nhà vua đem con cháu qua thành lập làng Mộ Trạch, rồi lại tiếp tục cai trị dân An Nam, cho đến lúc chết để được mai táng trong kiểu đất Cửu Thập Bát Tú triều dương, thì thời gian tổng cộng đó là mấy năm ?, mà đến khi Cao Biền qua đấy, mọi việc đã đâu vào đấy cả rồi, nghĩa là đã có ngôi mả táng treo và làng Mộ Trạch đàng hoàng rồi, khiến cho Cao Biền đành chỉ còn nhìn kiểu đất mà tỏ ý tiếc hận.
Qua mấy kỳ vừa rồi, chúng tôi đã trình bày những nghi vấn về thời gian chính xác, của ngôi mả táng treo, và tin rằng, nếu Vũ Hồn có quả là người Trung Hoa thật sự, được làm quan tới chức Đô Hộ Sứ, thì ngôi mả ấy phải được táng trong khoảng thời gian từ năm quan Đô Hộ Sứ Khâu Hòa được bổ qua đấy đến năm quan Đô Hộ Sứ (sau là Tiết Độ Sứ) Cao Biền đem quân sang đánh quân Nam Chiếu, mặc dầu trong số các quan lại nhà Đường (xin nhắc lại thêm một lần nữa) đặt chân lên đất An nam , không hề có một ai mang họ Vũ hết, kể cả các quan lớn, nhỏ văn, võ !
Vả lại, nếu tài liệu được ghi trong gia phả của họ Vũ là đúng, thì Vũ Hồn đã xuất chinh làm quan to từ trước khi thấy kiểu đất Cửu Thập bát Tú triều dương và vùng Khả Mộ, nghĩa là họ Vũ vẫn là một thế gia lệnh tộc ở Trung Quốc từ lâu rồi, chứ đâu phải do kiểu đất Cửu Thập bát Tú triều dương đem lại được sự kết phát, tạo ra cho Vũ Hồn cái địa vị vinh quang, hiển hách ấy ?
Vậy thì những linh khí nhật nguyệt, kết tụ thành kiểu đất đặc biệt, có một không hai ở dưới gầm trời này, há chẳng bị giảm mất một phần nào sự hiệu nghiệm ư ?
Rút kinh nghiệm của những kiểu đất quý báu từ xưa tới nay, mà sự kết phát kỳ dị, qua những hiện tượng lạ lùng, có khi gần như hoang đường, quái đản, đã được phổ biến sâu rộng trong dân gian, khiến cho những giai thoại ấy được truyền tụng, thông thường không kém gì những câu ca dao tục ngữ, hoặc do tự chúng tôi sưu tầm được, thì những kiểu đất đặc biệt, phần nhiều điều đem lại sự kết phát rất bất ngờ, huyền diệu : từ dây rơm, áo vải đến mũ mảng, cân đai, từ hàn sĩ, không có đất cắm dùi, đến ông Nghè, ông Bảng nghênh ngang, võng lọng chớ ít khi thấy một kiểu đất quý đem lại sự kết phát cho một gia đình, đang được kết phát như trường hợp của quan An Nam Đô Hộ Sứ Vũ Hồn lúc mới được bổ nhiệm qua đây.
Hơn thế nữa, các Cụ nhà ta trước kia, mỗi khi có cơ hội đề cập đến chuyện mồ mả, đất cát, thường bao giờ cũng đem câu : "Tiên tích đức, hậu tầm long" ra, để khuyên bảo con cháu, không phải dụng ý khuyến thiện : cần phải tu nhân, tích đức, làm điều lành, tránh điều dữ trước đi, rồi sau mới có thể nghĩ đến truyện tìm thầy địa lý để nhờ kiếm cho một kiểu đất kết phát !
Ở đời, ai cũng biết đồng tiền có sức mạnh vô biên !
Vì đồng tiền, người ta có thể thay đen, đổi trắng, vẻ phấn bôi son mặc sức mua danh, bán lợi theo ý muốn của mình !
Nhưng riêng về việc mồ mả, đất cát thì đồng tiền quả thật không tạo được nổi một mảy may ảnh hưởng nào dù cho những nhà đại phú giàu có vào loại Thạch Sùng, Vương Khải ngày xưa, cũng đành tâm bó tay chịu phép, không thể ỷ mình dư vàng ngọc, dư tiền bạc, để mà tha hồ mượn thầy địa lý tìm những kiểu đất quý báu, hầu hy vọng một sớm, một chiều, từ địa vị phú hộ, nhảy lên quan lớn, muốn chém giết ai tùy thích !
Lão còn phân trần rành rẻ cho mọi người khỏi nghi ngờ thắc mắc :
- Sở dĩ lão muốn dùng kiểu đất có một không hai ở dưới gầm trời này, để an táng hài cốt họ Vũ, mà không chiếm đoạt lấy cho riêng mình, là vì lão đã biết chắc rằng tổ tiên họ Vũ rất dày âm công, phước trạch, nên Trời Phật mới dành riêng kiểu đất ấy cho họ Vũ, không một ai được phép xâm phạm.
Vả lại, Vũ Nghĩa là con trai thứ của Vũ Hồn, từ nay đã mang họ Vương, là con nuôi của lão, thì nhiều ít, dù muốn, dù không, sau này vận mạng của nó cũng phải liên hệ với mộ phần thân phụ nó.
Như vậy, lão dù có tặng họ Vũ kiểu đất đặc biệt song nghĩ cho cùng không thiệt thòi gì, vì chính con nuôi lão (Vũ Nghĩa) cũng được hưởng thụ một phần phước trạch của ngôi mả kết phát.
Trần thị vui vẻ bằng lòng. Họ Vương chọn ngày cải táng xong xuôi, rồi đem Vũ Nghĩa, nay đổi là Vương Nghĩa về Tàu !
Trần thị nhắn tin mời thân phụ nàng qua chơi để tiếp đải họ Vương, hầu tránh những lời dị nghị của dân làng, vì dù đã có hai con với Vũ Hồn, lại thêm mang vòng khăn tang trên đầu với chuổi ngày buồn tẻ của kiếp sống vị vong, người trong thôn xóm cũng vẫn không quên mối tình duyên ngắn ngủi giữa nàng với thầy lang họ Vương năm trước.
Đêm hôm ấy, nhân bàn đến chuyện cải táng Vũ Hồn, họ Vương vui miệng, đã thú thật các việc đã qua : từ khi lão theo dõi long mạch cho đến lúc tìm thấy huyệt quý, nhưng thử đi, thử lại nhiều lần, lão đành khoanh tay khuất phục số mạng, không sao cưỡng nổi mệnh trời, vì qua bao nhiêu hiện tượng quái đản, dị kỳ, lão tự biết, nhà mình bạc phước, chưa đủ âm công hưởng thụ kiểu đất kết phát hiển hách đó, mà Thượng Đế đã dành riêng cho Vũ Hồn.
Lão cũng không dấu những sự hiển linh ghê ghớm, khi bị sét đánh trúng tróc long, một mảnh lực huyền ảo nào đó đã phá tan luôn cả bùa phép, ngăn cản không cho lão hô thần, chiêu tập âm binh, và sau đấy, còn báo mộng cho lão biết lòng trời, chỉ ban kiểu đất cho họ Vũ, ai cố tình chiếm đoạt nhất định sẽ gặp tai họa.
Nghe lão thuật chuyện người nông dân xuất hiện, giữa một cơn mưa gió, gió mưa tầm tả, lúc lão phải vào tạm trú trong miếu cô hồn, để mách bảo rành mạch cho lão biết đích xác danh tánh người được hưởng thụ phước trạch của thánh thần, cả hai cha con Trần thị cùng ngơ ngác nhìn nhau nhu dò hỏi, nhưng cả hai đều không biết người nông dân kỳ dị ấy là ai, mặc dù họ Vương đã phác tả lại rõ ràng tỷ mỷ nét mặt và giáng điệu của người nông dân lạ lùng đó.
Cả hai cha con cùng một lượt, điểm danh dân làng ở từng thôn, từng xóm, xem có ai vào cở tuổi ấy, có tầm vóc người và nét mặt như thầy lang vừa phác tả.
Song họ chỉ thất vọng, ngao ngán nhìn nhau, lắc đầu, vẻ băn khoăn in hằn trên hai khuôn mặt một già, một trẻ !
Thấy thế, họ Vương chỉ còn biết kết luận mơ hồ : đó có lẻ là thổ thần hiển linh, chứ nếu là người ở trong vùng thì cha con họ Trần, vốn là dân sở tại, lẻ tất nhiên phải biết chứ có lý đâu lại chẳng có thể nào đoán ra được là ai ?
Họ Vương thuật tiếp đến sự dò hỏi cố tìm cho kỳ được Vũ Hồn.
Lão thú thật: Khi chưa tìm thấy họ Vũ , thâm tâm lão vẫn hoài nghi, không tin chắc sự hiển linh của thổ thần mách bảo, cũng như sự tiết lộ dị kỳ của người nông dân ở miếu Cô hồn. Nhưng đến khi tìm được Vũ Hồn, mướn được họ Vũ về làm quản gia cho tiệm thuốc, nhất là sau nhiều cuộc dò xét kín đáo, biết được rõ ràng về lai lịch, gốc tích cùng nền tảng âm công, tu nhân tích đức của tổ tiên họ Vũ thì lão mới thật sự giật mình, hoảng kinh hồn vía trước lẻ trời huyền bí, và bàn tay an bài kỳ diệu của Hóa Công. Nhờ đấy, lão mới tự nguyện, khấn vái cùng thánh thần, xin tuân theo mệnh trời, nhường kiểu đất quý đã tìm được cho Vũ Hồn, mà chỉ xin ghé hưởng một phần phước trạch.
Qua bao nhiêu đêm thao thức không ngũ, lão suy tính kỷ lưỡng, để tìm cơ mưu thực hiện ý định trên. Mãi sau mới suy nghĩ được cách mượn giống, nghỉa là cố sức gầy dựng cho Vũ Hồn sớm thành gia thất, rồi xin một đứa con họ Vũ đem về Tàu làm con nuôi cho mang họ Vương chính thức. Như vậy, vừa nên tình, nên nghĩa, lại vừa tạo được phước trạch cho riêng họ Lão mà vẫn không trái với lòng trời.

Đế vương xuất hiện trên đất bị trấn yểm: Thanh Hóa, Cao Bằng

 


Dưới lăng kính của các nhà nghiên cứu địa lý – phong thủy học, thì Thanh Hóa là đất đế vương chung hội, còn Cao Bằng là nơi các bậc đế vương ẩn náu.
Vùng đất của hai vua
Đất Thanh Hóa đã sinh cho đất nước hai vị hoàng đế anh hùng: Lê Đại Hành (Lê Hoàn) đánh thắng quân xâm lược Tống vào cuối thế kỷ 10 và Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đánh thắng quân Minh vào đầu thế kỷ 15.
Ở đây, chúng tôi đề cập đến một địa danh đã đi vào lịch sử là Lam Sơn, thuộc huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa (nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa), là nơi các nhà sử học, phong thủy học thường nhắc đến với những chiêm nghiệm về địa lý, về nguyên khí hun đúc nên vùng địa linh nhân kiệt này, để lại những ghi chép đáng để chúng ta ngày nay suy ngẫm.
Chẳng hạn, sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, ông tổ ba đời của vua Lê Lợi tên húy là Hối, một hôm đi dạo chơi đến vùng núi Lam Sơn nhìn quang cảnh quanh đó và chợt thấy có đàn chim đông đúc đang ríu rít bay lượn quanh chân núi như thể núi Lam Sơn có một lực thu hút vô hình, có sức thu phục nhân tâm nhiều như chim đàn về tổ, bèn nói: “đây hẳn là chỗ đất tốt” và quyết định “dời nhà đến ở đấy”.
Những ghi chép trên của Ngô Sĩ Liên tuy khá vắn tắt, song cũng đã thông tin về một trong các yếu tố liên quan đến phong thủy của vùng đất phát vương. Tức vùng đất không thuộc về nơi “sơn cùng thủy tận”, cũng không phải nơi “tuyệt địa” vắng vẻ. Mà là nơi “chim tụ hội thành đàn” đông vui, ríu rít, là đất “tụ khí tàng phong” khác hẳn với những miền hung địa.
Hung địa theo thuật ngữ phong thủy là đất chu tước bi khốc (chim cất tiếng kêu sầu), hoặc đất bạch hổ hàm thi (con hổ đang ngậm xác chết trong miệng), hoặc xương long vô túc(rồng không có chân, rồng bị tật nguyền)… Như thế, Lam Sơn là đất cát tường, đất tụ nghĩa, đất xưng vương, mà người đứng lên đảm đương việc mở đầu nghiệp đế của nhà Lê là Lê Lợi.
Thật vậy, khi tổ nhà Lê là cụ Hối dời về ở Lam Sơn thì chỉ sau 3 năm đã gây thành sản nghiệp lớn và từ đó trở đi họ Lê làm quân trưởng một phương, trong nhà lúc nào cũng có tới hơn 1.000 tôi tớ, trải các đời sau sinh ra Lê Lợi với “thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có nốt ruồi son, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, bước tới như hổ, kẻ thức giả đều biết vua là bậc phi thường” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Theo truyền thuyết, nhà họ Lê được các thầy địa lý và các nhà sư thượng thừa về khoa phong thủy chỉ dẫn và báo mộng cho biết một huyệt đất phát vương (ở động Chiêu Nghi). Theo cụ Tả Ao, đất phát vương phải là đất hợp đủ các điều kiện được cụ diễn ca qua mấy câu lục bát sau đây:
Ngũ tinh cách tú triều nguyên / Kim, mộc, thủy, hỏa bốn bên loan hoàn / Thổ tinh kết huyệt trung ương / Ấy đất sinh thánh sinh vương đời đời.
Muốn hiểu các câu lục bát của cụ Tả Ao về đất phát vương nêu trên hẳn phải chú trọng, quan sát hình dáng của cuộc đất (theo ngũ hành) gồm: hình tròn thuộc kim tinh (con Kim), hình doi thuộc mộc tinh (con Mộc), hình vuông thuộc thổ tinh (con Thổ), hình nhọn thuộc hỏa tinh (con Hỏa), hình sóng thuộc thủy tinh (con Thủy). Theo đó con Thổ phải ở vị trí chính giữa (kết huyệt trung ương) và các con Kim, Mộc, Hỏa, Thủy sẽ tuần tự vây quanh.
Thực hư về đất phát vương ở Chiêu Nghi như thế nào chưa bàn tới. Chỉ căn cứ trên chính sử, thì năm Lê Lợi lên 33 tuổi (Mậu Tuất 1418) đã dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, trong khoảng 10 năm sau đó đuổi sạch quân Minh xâm lược, bắt sống tướng tá và 10 vạn viện binh của nhà Minh đều thua cả, không giết, đại định thiên hạ, lên ngôi hoàng đế vào ngày rằm tháng tư (Mậu Thân 1428) và lập tức xuống chiếu tha thuế cho dân chúng cả nước: “các thứ thuế như tô ruộng, vàng bạc, đầm phá, bãi dâu trong cả nước đều tha (không thu thuế) trong 2 năm”. Và ban bố nhiều điều lợi ích cho dân chúng. Đó là cách tích đức của bậc đế vương, vừa tỏ lòng thương dân, thuận ý trời (thuận thiên) vừa để phúc cho con cháu đời sau.
Điều đó phù hợp hoàn toàn với lời giáo huấn lưu truyền từ lâu đời trong truyền thống nhân nghĩa và trong đời sống tinh thần của các thầy địa lý, các nhà phong thủy là “Tiên tích đức, hậu tầm long” – đại ý có nghĩa trước hết cần phải chứa đức, rồi sau đó hãy tìm long mạch… Phải chăng việc tích đức của Lê Lợi đã dẫn đến kết quả tốt đẹp là sự tồn tại của nhà Lê kéo dài từ thời Lê sơ với 10 đời, gồm 100 năm (1428 – 1527), đến thời Lê trung hưng với 16 đời, gồm 265 năm nữa (1533 – 1789) qua các triều Mạc, chúa Trịnh và chúa Nguyễn.
Đất ẩn náu của bậc đế vương

Trong khoảng thời gian đó, Mạc Đăng Dung ép vua Lê phải nhường ngôi cho mình, lập nên nhà Mạc từ năm 1527 đến 1592 thì sụp đổ. Trước khi sụp đổ, vua Mạc thứ năm là Mạc Mậu Hợp đã sai người đem lễ vật đến thăm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và xin hỏi về thế cuộc.
Trạng Trình chỉ đáp một câu ngắn gọn: “Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ thể” – nghĩa là đất Cao Bằng tuy là chật hẹp nhưng có thể giữ được về sau… Quả đúng như lời Trạng Trình nói, sau này khi nhà Mạc bị quân Trịnh đánh bật khỏi thành Thăng Long và bị truy đuổi tứ tán, thì con cháu nhà Mạc nghe theo lời chỉ dẫn của Trạng Trình đã chạy về cố thủ ở đất Cao Bằng và tồn tại thêm 96 năm nữa mới bị thôn tính, mất hẳn.
Theo các nhà phong thủy, những bậc thầy về địa lý, thì Cao Bằng là đất dung thân hiểm yếu, ẩn náu của bậc đế vương, nơi xuất phát của những cơn sấm sét về xuôi. Chính vì thế, từ thời Đường Ý Tông (Trung Quốc) khi Cao Biền xâm lăng nước ta đã cho xây thành Đại La (ở Thăng Long – Hà Nội) và thành Nà Lữ (ở Cao Bằng).
Về sau thành Nà Lữ được người Việt trấn giữ, trừ bùa yểm của Cao Biền. Đến nay di tích thành Nà Lữ vẫn còn ở làng Nà Lữ, xã Hoàng Tung, huyện Hòa An, có hình chữ nhật dài 800m, rộng 600m, xây bằng gạch và bằng đá tảng với 4 gò đất nổi mang tên: Long, Ly, Quy, Phượng. Gò Phượng nằm ở trung tâm. Khi nhà Mạc chạy về Cao Bằng đã chiếm thành Nà Lữ để đóng đô và xây thành đá trên núi để phòng ngự.
Cần ghi nhận thêm, đến thời hiện đại, Cao Bằng vẫn là mảnh đất “huyền thoại” về hai phương diện lịch sử và địa lý phong thủy. Vì Cao Bằng có hang Pắc Bó là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ lãnh đạo cách mạng Việt Nam thời kỳ 1941 – 1945, có rừng Trần Hưng Đạo ở xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, là nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp tuyên bố thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày 22.12.1944 – là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay. Xem thế từ Cao Biền, đến thời Lê – Mạc, cho tới nay đất Cao Bằng vẫn là nơi “tụ khí tàng phong” hết sức cát tường theo cách nhìn phong thủy.


Huyền thoại về đất phát công hầu đế vương của nước Việt



Đất Việt quả thật là nhiều quý địa. Chỉ tính từ Ninh Bình trở ra mà đã có tới 27 ngôi đất kết Đế vương, hơn 2.000 ngôi kết công hầu khanh tướng. Ngày nay lãnh thổ nước ta đã vượt qua Ninh Bình rất xa vào phía Nam với một đại cán long nữa là dãy Trường Sơn thì hẳn là phải thêm hàng ngàn ngôi đất quý nữa.
Mặc dù bị Cao Biền trấn yểm, khắp nước Việt Namvẫn còn hàng ngàn ngôi đất kết phát có thể sản sinh ra nhân tài anh kiệt xuất chúng. 
Đất kết là khái niệm để chỉ nơi có sinh khí tụ lại trong khoa phong thủy. Người xưa quan niệm ở những nơi có đất kết, nếu đặt tro cốt của ông bà, tổ tiên xuống đó thì do tú khí của đất đai, tro cốt sẽ lâu mục nát, do đó sẽ phát phúc cho con cháu.
Mức độ kết phát của đất tới đâu lại tùy thuộc vào các yếu tố tổng thể của cả cuộc đất. Có đất phát giàu có tiền tài, có đất phát quan tước công hầu khanh tướng và cao nhất là đất phát vương giả. Trong phần địa đạo diễn ca, cụ Tả Ao – người được xem là thánh địa lý của Việt Nammô tả về huyệt đất phát quan:
"Muốn cho con cháu nên quan
Thì tìm Thiên mã phương Namứng chầu
Muốn cho kế thế công hầu
Thì tìm chiêng trống dàn chầu hai bên"
Còn đất phát đến vương giả thì cụ nói:
“Ngũ tinh cách tú chiều nguyên
Kim Mộc Thủy Hỏa bốn bên loan hoàn
Thổ tinh kết huyệt trung ương
Ấy đất sinh Thánh sinh Vương đời đời”

Là mảnh đất phát tích của khoa Địa lý Phong thủy, các vua chúa Trung Quốc rất trọng vọng khoa này. Lý luận phong thủy được họ đem áp dụng cả vào trong việc ngoại trị. Một trong những ví dụ điển hình là việc vua Đường sai Cao Biền sang trấn yểm các long mạch của nước ta. 
Ngược dòng lịch sử, nước Việt ta từ đầu công nguyên cho đến đầu thế kỷ 10 nằm dưới ách đô hộ của người Hán. Thời bấy giờ Trung Quốc chia nước ta thành quận huyện và phái quan lại người Hán sang cai trị. Tuy nhiên, người Việt ta không chịu khuất phục mà luôn luôn tìm cách nổi dậy giành độc lập.
Vua chúa Trung Quốc tin rằng sở dĩ người Việt không chịu khuất phục mà liên tiếp nổi dậy là vì đất nước ta có nhiều huyệt đất kết nên sinh ra nhiều anh hùng. Để triệt tận gốc mầm mống chống đối, các triều đình Trung Quốc đã nghĩ đến chuyện triệt âm phần bằng khoa Địa lý Phong thủy. Đó chính là sứ mệnh mà Đường Trung Tông giao phó cho Cao Biền khi phái ông này sang làm quan cai trị ở bên nước ta.
Nội dung sự việc được tập Phong thủy địa lý Tả Ao – Địa lý vi sư pháp của Vương Thị Nhị Mười nói chi tiết: “Thời vua Đường Trung Tông đổi tên nước ta là An Nam đô hộ phủ và phong Cao Biền làm An Nam đô hộ sứ sang cai trị.
Trước khi Cao Biền sang nhậm chức, nhà vua cho triệu vào ngự điện và nói: Khanh học địa lý tối vi tinh diệu, trẫm nghe An Nam có nhiều quý địa, kết phát tới Thiên tử, sản xuất ra nhiều nhân tài, anh kiệt nên luôn luôn nổi lên chống đối. Qua đó khanh nên tường suy phong thủy, kiến lãm sơn xuyên và làm tờ biểu tấu kèm theo lời diễn ca các kiểu đất bên An Nam gửi ngay về cho trấm xem trước rồi ở bên đó khanh đem tài kinh luân, đoạt thần công, cải thiên mệnh, trấn áp các kiểu đất lớn đi, đó là cách nhổ cỏ thì nhổ cả gốc, để tránh hậu hoạn sau này”.
Cao Biền nhận lệnh sang nước ta liền tập trung đi xem xét các cuộc đất lớn nhỏ. Dân gian nói rằng Cao Biền ngày ngày cưỡi chim thần đi xem xét phong thủy, tài liệu nói trên của Vương Thị Nhị Mười thì nói Cao Biền dùng gỗ chế một cái diều rồi ngồi lên. Nhìn chung đó chỉ là những chi tiết làm tăng thêm sự thần bí cho nhân vật Cao Biền.
Tuy nhiên việc Cao Biền nhận lệnh trấn yểm phong thủy nước ta là có thật. Nó thể hiện qua một tập sách mang tên “Cao Biền địa lý tấu thư kiểu tự”. Tập sách này, theo như tài liệu của Vương Thị Nhị Mười đã nói ở trên thì năm 1427 Lê Lợi công phá thành Đông Quan bắt được Hoàng Phúc – Thượng thư bộ Công của nhà Minh nên thu được.
Sở dĩ Hoàng Phúc có nó là do vua Minh trao cho Y với nhiệm vụ xét duyệt lại xem còn huyệt lớn nào mà Cao Biền chưa yểm thì yểm nốt. Âm mưu của nhà Minh là hòng làm cho Đại Việt không thể nào sản sinh ra được những thế hệ như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo – những anh hùng đã gây khó khăn cho họ thời trước, để Đại Việt lại quay về thời là quận huyện của Tàu như mấy trăm năm trước.

 Cao Biền cưỡi diều đi xem long mạch - Ảnh Internet

Tập Cao Biền địa lý tấu thư kiểu tự này nói đến 632 huyệt chính cùng 1517 huyệt bàng từ Ninh Bình trở ra (thời Đường, lãnh thổ nước ta chỉ mới vào đến khu vực này). Những kiểu đất này đều là đất phát nhân tài anh kiệt, văn thì đến Tam khôi Trạng Nguyên, võ thì đến Quận công danh tướng… Tổng cộng là hơn 2.000 ngôi đất quý.
Ngoài tập Cao Biền địa lý tấu thư kiểu tự, Cao Biền còn một bản tấu nữa về phong thủy là Cao Biền tấu thư cửu long kinh. Bản tấu này đề cập đến 27 ngôi đại địa có thể phát đến đế vương ở nước ta. Trong 27 ngôi đất này có những ngôi đã kết phát rực rỡ như ngôi đất ở Tức Mặc – Nam Định đã tạo nên một Trần triều hiển hách võ công hay ngôi đất ở Cổ Pháp kết phát ra triều Lý. 
Về nhiệm vụ trấn yểm các mạch, dân gian còn lưu truyền nhiều câu chuyện. Trong đó có chuyện Cao Biền yểm thành Đại La và yểm thánh Tản Viên. Cả hai lần Cao Biền đều thất bại. Đối với các huyệt nhỏ chỉ phát công hầu khanh tướng không thấy tài liệu nào hay truyền thuyết nào nói Cao Biền có trấn yểm. Tuy nhiên, theo thiển ý của tác giả với số lượng quá lớn mà thời gian trị nhậm của Cao Biền chỉ trong quãng chục năm lại còn bận bịu việc quan lại chính trị thì sao có thể yểm hết được. 
Qua đó ta thấy đất Việt quả thật là nhiều quý địa. Chỉ tính từ Ninh Bình trở ra mà đã có tới 27 ngôi đất kết Đế vương, hơn 2000 ngôi kết công hầu khanh tướng. Ngày nay lãnh thổ nước ta đã vượt qua Ninh Bình rất xa vào phía Nam với một đại cán long nữa là dãy Trường Sơn thì hẳn là phải thêm hàng ngàn ngôi đất quý nữa.
Các nhà địa lý có quyền nói rằng nhờ vào những quý địa đó mà sản sinh ra các anh hùng hào kiệt để dựng nước và giữ nước suốt chiều dài mấy ngàn năm lịch sử.



Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.