bài viết trong chuyên mục "tài liệu"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy 2022 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn tài liệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Đạo Mẫu Việt Nam, Tục Thờ Mẫu, đạo mẫu tứ phủ, tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Nay kính tựa,Saì Gòn, mùa hạ 1971
Đoàn Trung Còn

Bản của Trình Di_ Dịch bởi :  Đoàn Trung Còn


01
Nhân sanh bá nghệ
Văn học vi tiên
Nho sĩ thị trân
Thi thơ thị bảo

Ý- NGHĨA :
Người đời làm cả trăm nghề
Văn học là nghề đứng đầu
Nho sĩ là người đáng trọng
Thi thơ là sách đáng quý

02
Cổ giả thánh hiền
Dịch tử nhi giáo
Đức hạnh thuần hòa
Trạch vi sư hữu
Ý- NGHĨA :
Các vị thánh hiền thủa xưa
Đổi con với nhau mà dạy
Những trang đức hạnh thuần hòa
Đáng chọn làm thầy và làm bạn

03
Dưỡng nhi bất giáo
Nai phụ chi quá
Giáo nhi bất nghiêm
Nãi sư chi đọa
Học vấn bất cần
Nai tử chi ác Ý- NGHĨA :
Nuôi mà chẳng dậy
Là lỗi của cha
Dậy mà chẳng nghiêm
Là lỗi của thầy
Học hỏi chẳng cần
Là lỗi của con

04
Hậu tùng tiên giác
Giám cổ chi kim   Ý- NGHĨA :
  Người hậu giác theo người tiên    giác
   Soi việc xưa mà biết việc nay

05
Học hữu tam tâm
Bất khả thất nhứt
Phụ mẫu hậu thực
Tử học cần mẫn
Nghiêm sư tác thành   Ý- NGHĨA :
   Học giả có ba niềm
   Bỏ sót một chẳng được:
   Cha mẹ phúc - hậu thật
   Phận con học cần mẫn
   Thầy nghiêm chỉnh chỉ dạy


06
Nhân hữu tam tình
Khả sự như nhứt
Phi phụ bất sinh
Phi quân bất vinh
Phi sư bất thành





07
Hữu đạo đức giả
Tử tôn thông minh
Vô đạo đức giả
Tử tôn ngu muội


Ý- NGHĨA :
Người ta có ba ơn
Nên thờ trọng như một:
Không cha, mình chẳng sanh
Không vua, mình chẳng vinh
Không thầy, mình chẳng nên



Ý- NGHĨA :
Người có đạo đức
Con cháu thông minh
Kẻ không đạo đức
Con cháu ngu muội



08
Dưỡng nam bất giáo
Bất như dưỡng lư
Dưỡng nữ bất giáo
Bất như dưỡng trư
Ý- NGHĨA :
Nuôi con trai chẳng dạy
Chẳng bằng nuôi lừa
Nuôi con gái chẳng dạy
Chẳng bằng nuôi heo


09
Giáo huấn chi sơ
Tiên thủ lễ pháp
Bất chi vấn đáp
Thị vị ngu si
Ý- NGHĨA :
Việc giáo huấn sơ đẳng
Trước hết giữ lễ phép:
Kẻ chẳng biết thưa dạ
Gọi là đứa ngu si



10
Bất giáo nhi thiện
Phi thánh nhi hà ?
Giáo nhi hậu thiện
Phi hiền nhi hà ?
Giáo nhi bất thiện
Phi ngu nhi hà ?
Khốn nhi tri chi
Phi trí nhi hà ?
Ý- NGHĨA :
Chẳng học mà hay
Chẳng phải thánh sao ?
Có học mới hay
Chẳng phải hiền sao ?
Học mà không thông
Chẳng phải ngu sao ?
Chịu khó mới thông
Chẳng phải trí sao ?


11
Hữu điền bất canh
Thương lẫm không hư
Hữu thơ bất giáo
Tử tôn ngoan ngu
Thương lẫm không hề
Tuế thời phạp thực
Tử tôn ngu hề
Lễ nghĩa toàn vô
Ý- NGHĨA :
Có ruộng chẳng cầy
Kho lẫm trống rỗng
Có sách chẳng dạy
Con cháu ngu ngốc
Kho lẫm trống không
Năm tháng nghèo đói
Con cháu ngu ngốc
Lễ nghĩa chẳng thông


12
Phàm nhân bất học
Minh như dạ hành
Thinh thơ như tủng
Vọng tự như manh
Ý- NGHĨA :
Hễ người chẳng học
Mờ như đi đêm
Nghe sách như điếc
Trông chữ như đui


13
Ấu nhi cần học
Trưởng tắc thi hành
Tránh tâm tu thân
Tề gia trị quốc
Ý- NGHĨA :
Nhỏ thì siêng học,
Lớn thì thực hành.
Rèn lòng, sửa mình,
Yên nhà, trị nước.

14
Sĩ tu ư gia
Tự hương nhi quốc
Khoa mục triều tước
Hữu độc thơ nhân
Ý- NGHĨA :
Kẻ sĩ tu sửa việc nhà,
Việc làng rồi tới việc nước:
Những vị thi đậu làm quan,
Vốn là người đọc sách.

15
Bần nhi cần học
Khả dĩ lập thân
Phú quý cần học
Ích vinh kỳ danh
Khai quyển hữu ích
Chí giả cánh thành
Ý- NGHĨA :
Nghèo mà chăm học,
Nhờ đó lập thân - phận:
Dầu mà chăm học,
Nhờ đó danh - phận càng cao.
Dở quyển là có ích,
Có chí ắt thành công.


16
Bác học quảng văn
Khì trí ích minh
Bất sỉ hạ vấn
Nghĩa lý ích tinh
Độc học vô hữu
Cô lậu quả văn Ý- NGHĨA :
Học vấn càng cao rộng,
Trí tuệ càng thông suốt.
Chẳng thẹn hỏi kẻ dưới,
Nghĩa lý càng tinh thông.
Học một mình không bạn,
Kiến - văn cạn và ít.



17
Nhân hữu ngũ luân
Cang thường vi thủ
Bất chi cang thường
Hà dị cầm thú ?
Phong nghỉ hữu chủ
Huống như nhân hồ ?
Tam cang cửu trù
Cổ kim bất dịch
Vi quân chỉ Kính
Vi thần chỉ chung
Vi phụ chỉ từ
Vi tử chỉ hiếu
Vi huynh chỉ ái
Vi đệ chỉ cung
Vi phu chỉ hòa
Vi phụ chỉ thuận
Bằng hữu chỉ tín
Trưởng ấu chỉ khiêm
Hương đảng chỉ hòa
Lân bằng chỉ nhượng
Ý- NGHĨA :
Người đời có lăm luân,
Với cang thường là trọng.
Nếu chẳng biết cang thường,
Có khác gì cầm thú ?
Ong, kiến còn có chúa,
Huống chi là loài người ?
Ba cang với chín trù,
Xưa nay chẳng dời đổi.
Làm vua đứng ở mức kính,
Làm tôi đứng ở mức trung.
Làm cha đứng ở mức từ,
Làm con đứng ở mức hiếu,
Làm anh đứng ở mức ái,
Làm em đứng ở mức cung,
Làm chồng đứng ở mức hòa,
Làm vợ đứng ở mức thuận,
Bầu bạn đứng ở mức tín,
Lớn nhỏ đứng ở mức khiêm,
Làng xóm đứng ở mức hòa,
Láng giềng đứng ở mức nhượng.


18
Hành giả nhượng lộ
Canh giả nhượng bạn
Quá khuyết tắc hạ
Quá miếu tắc xu
Ý- NGHĨA :
Đi đường nhường bước
Cày ruộng nhường bờ
Qua đình xuống ngựa
Qua miếu nhẹ chân

19
Xuất nhập khởi cư
Phi lễ bất chỉnh
Ngôn ngữ ẩm thực
Phi lễ bất túc Ý- NGHĨA :
Khi ra vào, lúc đứng lúc ngồi,
Sái lễ - phép thì chẳng tề - chỉnh.
Khi nói năng, lúc ăn uống,
Sái lễ phép, chẳng nghiêm - trang.


20
Tu thân quả dục
Cần kiệm tề gia
Cấm chỉ xa hoa
Tu phòng hậu dụng
Ý- NGHĨA :
Sửa mình, ít dục,
Cần kiệm , tề gia,
Ngăn ngừa lãng-phí se-sua,
Dự phòng tiền của sắm mua lúc cần.


21
Đắc vinh tư nhục
Cư an tư nguy
Đạo cao đức trọng
Bất sỉ tệ y
Ý- NGHĨA :
Được vinh hiển, lo hờ lúc nhục,
Được ở yên, phòng bị cơn nguy.
Người đạo cao đức trọng,
Chẳng thẹn áo cũ rách.


22
Tích cốc phòng cơ
Tích y phòng hàn
Kiệm tắc thường túc
Tĩnh tắc thường an
Cần bị phòng gian
Dương tử phòng lao
Ý- NGHĨA :
Chứa lúa phòng khi đói,
Cất áo phòng cơn lạnh,
Kiệm-ước thường đủ dùng,
Bình-tĩnh thường yên-ổn,
Dè-dặt phòng kẻ gian,
Nuôi con phòng lúc già.


23
Sự thân ký hiếu
Tử diệc hiếu chi
Ý- NGHĨA :
Mình đã thảo với cha mẹ,
Con cũng sẽ thảo với mình.

24
Phụng đường lễ nghi
Mạc tỵ ô uế
Phụ mẫu thượng tại
Bất khả viễn du
Thân thể phát phu
Thọ chi phụ mẫu
Bất cảm hủy thương
Hiếu chi thủy giã
Lận thân hành đạo
Dương danh ư hậu
Dĩ hiển phụ mẫu
Hiếu chi chung giã
Ý- NGHĨA :
Phụng dưỡng đủ lễ-nghi,
Chớ tránh đồ dơ-dáy.
Cha mẹ còn hiện tại,
Chẳng nên đi chơi xa.
Mình, vóc, tóc, gia,
Thọ nơi cha mẹ.
Chẳng giám hủy hoại,
Là nết hiếu đầu.
Lập thân, hành đạo,
Rõ tiếng hậu lai.
Thơm lây cha mẹ,
Là nết hiếu sau.

25
Dục hòa thượng hạ
Nhẫn tự vi tiên
Quân thần nhẫn chi
Quốc thế bảo toàn
Phụ tử nhẫn chi
Tự toàn kỳ đạo
Phu phụ nhẫn chi
Linh tử bất cô
Huynh đệ nhẫn chi
Gia trung vô hại
Bằng hữu nhẫn chi
Kỳ tình bất sơ
Tự thân nhẫn chi
Nhơn nhơn ái lạc
Ý- NGHĨA :
Muốn cho trên dưới hòa,
Lấy chữ nhẫn làm đầu.
Vua với tôi nhẫn nhịn,
Thế nước được giữ yên.
Cha với con nhẫn nhịn,
Giữ vẹn được gia đạo.
Chồng với vợ nhẫn nhịn,
Con cái khỏi bơ vơ.
Anh với em nhẫn nhịn,
Gia đình khỏi hư hại.
Bầu bạn nhẫn nhịn nhau,
Tình bạn chẳng nhạt-phai.
Tự mình nhẫn nhìn được,
Ai nấy đều mến yêu.


26
Gia trung đổ bác
Nam nữ giai ác
Gia trung hữu cầm
Nữ tử bất dâm
Gia trung hữu kỳ
Nam tử tất suy
Gia trung hữu chế
Nam nữ thủ lễ
Ý- NGHĨA :
Trong nhà bài bạc,
Con cái đều hư.
Trong nhà đờn ca,
Con gái động tình.
Trong nhà mê cờ,
Con trai suy bại.
Trong nhà nề nếp,
Con cái giữ lễ.

27
Sự vô đại tiểu
Vô đắc tranh thành
Tài sản phân minh
Quân cấp quần chúng
Ý- NGHĨA :
Đừng ngại phần lớn nhỏ,
Không được tranh lấn nhau.
Tiền của phân rành rẽ,
Ai nấy được cấp-đều.

28
Mạc ái châu ngọc
Ái tử tôn hiền
Hòa mục vi tiên
Thành vi mỹ tục
Ý- NGHĨA :
Đừng ham châu ngọc,
Ham con cháu hiền.
Hòa-mục là đầu,
Nên phong- tục tốt.


29
Hôn nhân trạch phối
Tiên tề gia phong
Thanh khiết khuê phòng
Chủ quỹ tần tảo
Quả ngôn cần hậu
Chấp thuận xướng tùy
Đức hạnh biểu nghi
Bất tu nhan sắc
Tử tư mẫu đức
Nữ xuất cung phi
Tử hiếu tôn từ
Thê hiền tửi quý
Ý- NGHĨA :
Cưới vợ nên chọn kỷ,
Trước lo việc tề gia.
Khuê-phòng gìn tiết sạch,
Đơm-quải giữ siêng năng.
Nói ít và cẩn hậu,
Vui thuận ý-tứ chồng.
Đức hạnh khuôn-phép đủ,
Chẳng cần gương mặt đẹp.
Con trai nhờ đức mẹ,
Con gái lấy vua quan.
Nhà con thảo cháu lành,
Vợ hiền sinh con quý.


30
Nghiệt thê bại tự
Đố phụ loạn gia
Xảo quyệt thị tà
Kiêu ngoa thị trá
Phụ nhân nội trợ
Thạnh suy chi do
Ý- NGHĨA :
Vợ giữ không trai nối họ,
Gái gen gây rối nhà chồng.
Xảo-quyệt mới là tà vậy,
Kiêu-ngoa tức thị gạt lừa.
Đờn bà đỡ bớt bề trong,
Do đó nhà suy hoặc thạnh.


31
Hiền nữ kính phu
Sỹ nhân úy phụ
Ý- NGHĨA :
Gái hiền kính chồng
Trai ngu sợ vợ.


32
Bất chánh chi nữ
Tu dĩ vi thê
Bất trung chi nhơn
Tu dĩ vi thần
Ý- NGHĨA :
Gái bất chánh,
Khiến chồng xấu hổ.
Trai bất trung,
Khiến chúa thẹn-thùa.


33
Nữ chi thủ tiết
Do sĩ thủ thân
Hiền thê gia bảo
Hiền thần quốc trân
Ý- NGHĨA :
Làm gái giữ tròn tiết-hạnh,
Như sĩ phu gìn lấy thân-danh.
Vợ hiền là báu trong nhà,
Tôi hiền là báu của nước.


34
Nam quý trung cần
Nữ quý trinh thuận
Ý- NGHĨA :
Làm trai quý ở trung, cần,
Làm gái quý nơi trinh, thuận.


35
Giáo phụ sơ lai
Giáo tử anh hài
Ý- NGHĨA :
Dạy vợ khi mới về,
Dạy con lúc còn trẻ.

36
Dục bất khả túng
Dục túng thành tai
Lạc bất khả cực
Lạc cực sanh ai Ý- NGHĨA :
Chẳng nên phóng túng ham dục,
Ham dục nhiều thì mang họa.
Chẳng nên vui sướng thái quá,
Vui quá sanh ra buồn khổ.

37
Nữ vật tham tài,
Nam vật tham sắc.
Sắc dị sát nhân,
Tài dị sát thân.
Ý- NGHĨA :
Gái đừng ham tiền của,
Trai đừng ham nhan sắc.
Nhan sức dễ giết người,
Tiền của dễ hại thân.

38
Thuật trá di chi,
Tử tôn giả vong.
Đạo đức di chi,
Tử tôn giả xương.
Bổn cố chi trường,
Lưu truyền vạn đại.
Ý- NGHĨA :
Gian trá để lại tiền của,
Con cháu ắt phải tiêu vong.
Chẳng bằng để lại đạo đức,
Cháu con sẽ được thành đạt.
Gốc có vững cành mới dài,
Nước nhà bền bỉ, muôn đời truyền lưu.

39
Bất hiếu giả tam,
Vô hậu vi đại.
Hữu thân bất ái,
Hữu huynh bất kính.
Cầu tha ái kính.
Khởi khả đắc hồ ?
Ý- NGHĨA :
Bất- hiếu có ba thứ tội,
Tuyệt tự là tội lớn nhất.
Có cha, chẳng yêu cha,
Có anh, chẳng yêu anh.
Mong con em yêu kính,
Hás mong cầu được sao ?


40
Tử quả hiền hỹ,
Kim tuy bần tiện,
Hậu tất phú quý,
Tử bất tiểu hỹ,
Kim tuy phú quý,
Hậu tất bần tiện.

Ý- NGHĨA :
Phận làm con hiền đức,
Tuy nay chịu nghèo hèn,
Sau ắt được giàu sang.
Kẻ làm con bất hiếu,
Tuy nay được giàu sang,
Sau trở nên nghèo hèn.


41
Cốt nhục bần giả,
Tình bất khả sơ.


Ý- NGHĨA :
Bà con thân-thích dẫu nghèo,
Tình nghĩa chẳng nên lợt lạt.




42
Tha nhân phú giả,
Tâm bất khả ố.

Ý- NGHĨA :
Đối kẻ khác giàu có,
Lòng chớ khá ghét ganh.

43
Thủ trọng ư nhơn,
Thị trọng kỳ thân.
Ý- NGHĨA :
Đem lòng kính trọng người ta,
Đó là mình trọng chính mình.


44
Mặc hiệu tiểu nhân,
ố nhân thắng kỷ.
khả hiệu quân tử,
thành nhân chi mỹ.
Ý- NGHĨA :
Đừng bắt trước phường tiểu-nhân,
Họ ghét những ai hơn họ.
Hãy bắt chước trang quân-tử,
Giúp người làm nên việc tốt.


45
Cầu vô dã nhân,
Mặc dưỡng quân tử.
Cầu vô quân tử,
Mặc thị dã nhân.
Ý- NGHĨA :
Nếu không có kẻ quê mùa,
Lấy ai nuôi người quân-tử ?
Nếu không có người quân-tử,
Lấy ai dạy kẻ quê mùa ?



46
Cự tất trạch lân,
Giao tất trạch hữu.
Hoạn nạn tương cửu,
Quá thất tương quy.

47
Dụng nhơn vật nghi,
Nghi nhơn vật dụng.
Dụng nhân bất cẩn,
Hại tùy nhi chí.
Tiểu nhân thất ý,
Khởi vi cửu-thù.
Ý- NGHĨA :
ở phải chọn xóm,
chơi phải chọn bạn.
hoạn-nạn cứu nhau,
lỗi-lầm khuyên nhau.

Ý- NGHĨA :
Dùng người đừng nghi,
Nghi ai đừng dùng.
Không cẩn thận dùng người,
ắt cáo hại về sau.
Kẻ tiểu-nhơn bất-mãn,
Họ trở nên cửu-thù.

48
Tiểu nhân tự-kiêu,
Thị tài căng kỷ.
Vô ố tiểu-nhơn,
Thị vi quân-tử.
Tài thượng phân-minh,
Thị vi trượng-phu.
Ý- NGHĨA :
Tiểu nhân tự-kiêu,
Ỷ tài khoe mình.
Chẳng ghét tiểu-nhân,
Mới là quân-tử.
Tiền-bạc rành-rẽ,
Mới đáng trượng-phu.


49
Bần nhi vô siểm,
Phú nhi vô kiêu.
Thanh bần tương lạc,
Trọc-phú đa ưu.
Vật thị phú quý,
Tự khinh kỳ bần.
Thị phú khinh bần,
Thủ tiền lỗ nhĩ !


Ý- NGHĨA :
Nghèo chẳng đua-bợ,
Giầu chẳng kiêu căng.
Thanh-bần thường vui,
Trọc-phú hay lo.
Chớ cậy giầu sang,
Mà khinh kẻ nghèo.
Cậy mình giầu mà khinh kẻ nghèo,
Chẳng qua mình là mọi, giữ tiền.

50
Cùng nhân vật mạ,
Cùng khấu vật truy.
Điểu cùng tắc phi,
Khuyển cùng tắc phệ.
Nhơn tham tài tử,
Điểu tham thực vong.
Cơ hàn thiết thân,
Bất cố liêm sỉ !
Ý- NGHĨA :
Người ham tiền thì chết,
Chim ham mồi thì nguy.
Đói lạnh đương bức thân,
Chẳng kể gì liêm sỉ !

51
Tự tiên trách kỷ,
Nhị hậu trách nhơn.
Hàm huyết phún nhân,
Tiên ô ngã khẩu.
Ý- NGHĨA :
Trước hãy trách mình,
Sau hãy trách người.
Ngậm máu phun người,
Trước dơ miệng mình.


52
Ác ngôn xuất khẩu,
Hung-thần giám lâm.
Thiện-niệm vu tâm,
Cát-thần tự hiện.
Ý- NGHĨA :
Lời dữ ra ngoài miệng,
Hung-thần liền soi tới.
Niệm lành khởi trong tâm,
Cát-thần tự-nhiên hiện.




53
Tích thiện phùng thiện,
Tích ác phùng ác.
Tử-tế tư lường,
Thiên địa bất thác.
Nhân-hậu ngộ hậu,
Xứu xứ tương phùng.
Mưu thâm họa thâm,
Oan oan tương báo.
Nhược trì bất báo,
Thời-thần vị đáo.
Chủng qua đắc qua,
Chủng đậu đắc đậu.
Thiên võng khôi-khôi,
Sơ nhi bất lậu.
Ý- NGHĨA :
Chứa lành gặp lành,
Chứa dữ gặp dữ.
Xét kỹ mà coi,
Trời đất chẳng lầm.
Nhân-hậu gặp nhân-hậu,
Chốn chốn thường gặp nhau.
Mưa sâu họa sâu,
Oán vay oán trả.
Chậm chạm chẳng trả,
Thời kỳ chưa tới.
Trồng dưa được dưa,
Trồng đậu được đậu.
Lưới trời lồng lộng,
Thưa mà chẳng lọt.


54
Hoàng thiên bất phụ,
Hữu độc thơ nhân.
Hoàng thiên bất phụ,
Hữu đạo tâm nhơn.
Hoàng thiên bất phụ,
Hữu hảo tâm nhơn.
Ý- NGHĨA :
Ông trời chẳng bỏ,
Những người đọc sách.
Ông trời chẳng bỏ,
Những người tâm đạo.
Ông trời chẳng bỏ,
Những người lòng tốt.




55
Thương nhân chi ngữ,
Phân thương kỳ thân.
Dụng tâm bất lương
Khởi vô quả-báo ?
Cha mẹ làm ác,
Để họa con cháu.
Ý- NGHĨA :
Lời nói hại người,
Trở lại hại mình.
Dụng tâm chẳng lành,
Há khỏi quả báo ?
Cha mẹ làm ác,
Để họa con cháu.


56
Họa phước vô môn,
Duy nhơn sở triệu.
Dục chi họa phước,
Tiên khán tử tôn :
Tự gia nhi tri,
Hà tất vấn thùy ?


Ý- NGHĨA :
Họa phước không nhà,
Tại người vời tới.
Muốn biết họa phước,
Trước xem con cháu :
Nhà mình mình biết,
Cần gì hỏi ai ?

57
Khắc thâm thái thậm,
Trầm bệnh nan y.
Mưu lự đa tư,
Tinh thần lao kiệt.
Âm mưu giá họa,
Âm mưu quỷ thần.
Ích kỷ hại nhơn,
Minh hữu vương hiển.
Nhân tâm như thiết,
Quan pháp như lô !
Văn pháp bất cô,
Sát nhân giả tử. Ý- NGHĨA :
Người nào sâu-sắc nước đời,
Khi mang bệnh nặng, khó bài thuốc thang.
Người nào mưu tính nhiều bề,
Tinh thần hao-tổn, ê-chề, suy-vi.
Mưu thầm kín, gieo họa người,
Quỷ-thần âm-cảnh mười-mười chép rành.
Lợi mình mà hại người ta,
Phép đời luật nước trị là công-minh.
Lòng người như sắt khéo chui,
Phép công lò lửa đốt thui cũng xì !
Án văn chẳng có tư vì,
sát nhân, xử tử luật ghi rõ ràng.
58
Nhơn vô viễn lự,
Tất hữu cận ưu.
Ý- NGHĨA :
Kẻ không lo xa,
ắt có buồn gần.


59
Cẩn tắc vô ưu,
Nhẫn tắc vô nhục.
Ý- NGHĨA :
Cẩn-thận thì khỏi lo,
Nhẫn-nhịn thì khỏi nhục.


60
Nhơn gian tù ngục,
Hoàn thị vô lương.
Thiên-hạ công hầu,
Giai do hữu đức.
Ý- NGHĨA :
Những kẻ tù ngục ở nhân gian,
Đa số là người không lương thiện.
Những công-hầu trong thiên-hạ,
Đều là những vị có đức lành.

61
Cận chu giả xích,
Cận mặc giả hắc.
Hiền đức chi nhơn,
Thân nhi cận chi,
Chung tự hữu ích.
Hung ác chi nhơn,
Xích nhi viễn chi,
Tự miễn họa-hoạn.
Ái hiền như lan,
Úy ác như hổ.
Thành trung thất hỏa,
Họa cập trì ngư. Ý- NGHĨA :
Gần son thì đỏ,
Gần mực thì đen.
Những người hiền đức,
Ta nên thân cận,
Có ích về sau.
Những kẻ hung ác,
Ta nên tránh xa,
Khỏi vướng tai họa.
Mến người hiền như hoa lan,
Sợ kẻ dữ như cọp hùm.
Hỏa hoạn sảy ra trong thành,
Họa lây tới cá dưới ao.

62
Nguy bang bất nhập,
Loạn bang bất cư.
Binh cách chi gian,
Thủ thân vi đại.
Ý- NGHĨA :
Nước nguy đừng vào,
Nước loạn đừng ở.
Trong cơn giặc giã,
Giữ mình làm trọng.

63
Tiểu lợi nhược tham,
Bất thành đại sự.
Tiểu sự bất nhẫn,
Tất loạn đại mưu.
Ý- NGHĨA :
Nếu ham lợi nhỏ,
Chuyện lớn chẳng thành.
Chẳng nhịn việc vặt,
Mưu to phải hỏng.

64
Lợi bất khả độc,
Lợi độc tắc ly.
Mưu bất khả chung,
Chúng mưu khắc tiết.
Ý- NGHĨA :
Lợi chẳng nên hưởng riêng,
Hưởng riêng thì ly tán.
Mưu chẳng khả bàn chung,
Bàn chung ắt tiết lộ.


65
Thành sự bất thuyết,
Ý mạc cượng cầu.
Nhơn vô vọng giao,
Túc vô vọng tẩu.
Thực vô cầu bão,
Cư vô cầu an.
Vô khởi tranh đoan,
Vô đấu khẩu thiệt. Ý- NGHĨA :
Chuyện rồi đừng nói,
Ý chớ gượng cầu.
Người giữ đừng chơi,
Chân đừng chạy bậy.
Ăn chẳng cần món ngon,
Ở chẳng cần nhà đẹp.
Không tranh cạnh phải quấy,
Không đấu chiến miệng lưỡi.

66
Ư ngã thiện giả,
Ngã diệc thiện chi.
Ư ngã tác giả,
Ngã diệc thiện chi.
Ngã hữu thiện niệm,
Thiên tất tùy chi.
Bỉ ký vi ác,
Hữu ác nhơn trị.
Ý- NGHĨA :
Người tốt với mình,
Mình cũng tốt lại.
Người xấu với mình,
Mình cũng tốt lại.
Ta nghĩ điều lành,
Trời chiều ý ta.
Họ làm việc dữ,
Kẻ dữ trị họ.

67
Văn nhân chi ác,
Khẩu bất đắc ngôn.
Văn nhân chi báng,
Tâm bất túc nộ.
Ý- NGHĨA :
Nghe việc quấy của người,
Miệng mình đừng nói ra.
Nghe người phỉ báng mình,
Lòng đừng sanh nóng giận.

68
Ác nhân vật mạ,
Cùng nhơn vật ngôn.
Nhược khởi tranh đoan,
Thị vô trí lự.
Ý- NGHĨA :
Đừng mắng kẻ ác.
Đừng nhiếc kẻ cùng.
Nếu tranh phải quấy,
Là không trí lự.

69
Quân-tử cẩn ngôn,
Thận kỳ ngôn-ngữ.
Bất can kỷ sự,
Mặc khả đương đầu !
Vô ích chi ngôn,
Tự hưu trước khẩu. Ý- NGHĨA :
Quân-tử thận trọng ngôn ngữ,
Khéo nói trong khi luận-đàm.
Chuyện không can dự đến mình,
Chẳng khá chống đối làm chi !
Lời nói xét ra vô ích,
Bỏ đi chẳng để dơ miệng.


70
Quả ngôn trạch giao,
Đa ngôn vật kết.
Đa ngôn thị nguyệt.
Quả ngôn thị trung.
Nhất ngôn bất tín,
Thiên ngôn vô dụng.
Sàm ngôn vật tín,
Phản gián vật hành.
Khứ thực khứ binh,
Tín bất khả khứ.


Ý- NGHĨA :
Người nói ít ta nên làm bạn,
Kẻ nói nhiều ta chớ kết giao.
Kẻ nói nhiều là phường xảo-quyệt,
Người nói ít là bực ngay-thật.
Một lời hứa mà bất tín,
Muôn lời cũng là vô dụng.
Kẻ sàm-nịnh chớ tin cậy,
Kẻ đâm-thọc đừng nghe theo.
Bỏ lương-thực bỏ quân-binh,
Niềm tin chẳng được bỏ mất.

71
Thính kỳ ngôn ngữ,
Quan kỳ mâu-tử.
Bạch nhãn giả hung,
Hắc nhãn giả thiện.
Hữu tâm vô tướng,
Tướng tự tâm sanh.
Hữu tướng vô tâm,
Tướng từng tâm diệt.
Thuận đức giả xương,
Nghịch đức giả vong.
Ý- NGHĨA :
Có tâm mà không tướng,
Tướng do tâm mà lộ.
Có tướng mà không tâm,
Tướng theo tâm mà lặn.
Thuận đức thì hưng thạnh,
Nghịch đức phải suy vong.

73
Quân-tử ngộ bần,
Thủ kỳ lễ nghĩa.
Tiểu-nhân sạ phú,
Tự vọng khinh nhơn. Ý- NGHĨA :
Quân tử gặp lúc nghèo,
Vẫn giữ tròn lễ nghĩa.
Tiểu-nhơn mới làm giàu,
Ngạo-ngễ khinh-chê người.


74
Ẩm thực chi nhơn,
Nhơn giai tiện chi.
Hiếu lợi chi nhơn,
Nhơn giai ố chi.


Ý- NGHĨA :
Kẻ ham ăn uống,
Ai nấy đều chê.
Kẻ ham thủ lợi,
Ai nấy đều ghét.



75
Tân lai dị sơ,
Tọa cửu dị yếm.
Ý- NGHĨA :
Đến thường dễ sơ,
Ngồi dai dễ chán.


76
Dĩ tiểu-nhơn tâm,
Đạc quân-tử phục.
Quân-tử sở vi,
Tiểu-nhân bất thức.
Ý- NGHĨA :
Lấy lòng tiểu-nhân,
Độ bụng quân-tử.
Hành vi quân-tử,
Tiểu-nhân chẳng biết.


77
Thánh-nhơn tích đức,
Bất tích kỳ tài.
Quân tử mưu đạo,
Bất mưu kỳ thực. Ý- NGHĨA :
Thánh nhơn chứa đức,
Chẳng chứa của tiền.
Quân-tử lo đạo,
Chẳng lo cơm gạo.





78
Phi kỷ chi sắc,
Quân-tử bất dâm.
Phi kỷ chi tài,
Quân-tử bất thủ.
Bất-nghĩa chi phú,
Thị như phù vân.
Ý- NGHĨA :
Chẳng phải vợ mình,
Quân-tử chẳng cần.
Chẳng phải của mình,
Quân-tử chẳng lấy.
Giầu-có bất-nghĩa,
Coi như mây rồi.


79
Cứu cấp trẩn bần,
Khoan tắc đắc chúng.
Ý- NGHĨA :
Cứu kẻ khổ, giúp người nghèo,
Lượng khoan hồng được lòng dân.


80
Bình thời giảng võ,
Loạn thế độc thơ.
Quân tử-kiến cơ,
Bất sĩ trung nhựt.
Ý- NGHĨA :
Thời bình tập võ,
Lúc loạn đọc sách.
Quân-tử nhắm dèo,
Chẳng đợi hết bữa.

81
Cùng tất hữu đạt,
Bỉ cực thái lai.
Đản hoạn vô tài,
Bất hoạn vô dụng.
Sự vô vọng động,
Tâm vô vọng tư.
Ý- NGHĨA :
Hết cùng tới đạt,
Hết bỉ tới thái.
Chỉ ngại không tài,
Chỉ lo vô dụng.
Tay không làm quấy,
Lòng không nghĩ bậy.

82
Quan bất tại ngu,
Phú bất tại lại.
Ý- NGHĨA :
Chẳng phải ngu dốt mà làm quan,
Chẳng phải lười biếng mà làm giầu.


83
Tự tri phận giả,
Bất khả vưu nhơn.
Tự tri mạng giả,
Bất khả oán thiên.
Ý- NGHĨA :
Tự biết phận mình,
Chẳng nên oán người.
Tự biết mạng mình,
Chớ khá trách trời.


84
Tri chỉ thường chỉ
Chung thân bất sỉ
Chi túc thường túc,
Trung thân bất nhục.
Ý- NGHĨA :
Biết nên thôi, cứ thôi,
Trọn đời Chẳng thẹn.
Biết là đủ, thường đủ,
Trọn đời chẳng nhục.

85
Minh minh hoàng-tổ,
Thùy huấn hữu ngũ.
Nội tác sắc hoang,
Ngoại tác cầm hoang.
Cam tửu, thị âm,
Tuấn vũ điêu lường.
Hữu nhứt vu thử,
Vị hoặc bất vong.
Ý- NGHĨA :
Vua văn-vương sáng suốt,
Để lại năm điều răn.
1- Trong đền ham sắc dục,
2- Ra ngoài thích săn bắn,
3- Mê rượu, 4- ưa âm nhạc,
5- Khoái nhà cao vách chạm.
Phạm một trong năm điều,
Chẳng khỏi mất nước nhà.

86
Huấn tử nghĩa-phương,
Thất hiếu giả bát :
Học vấn bất cần,
Đổ bác vong thân,
Tử sắc tranh đau,
Đạo thâu bôn tẩu,
Tranh tụng bại gia,
Tông tộc bất hòa,
Phụ mẫu bất ái.
Chi quá nhi cải,
Diệc khả vi hiền.
Hữu quá bất cải,
Thất hiếu vưu đại.
Ý- NGHĨA :
Dạy con đúng nghĩa-phương,
Thất hiếu có tám điều :
1- Học hỏi chẳng siêng năng,
2- Bài bạc làm hư thân,
3- Rượu gái với,
4- Đánh lộn,
5- Trộm cướp rồi chạy chốn,
6- Kiện tụng tan gia-sản,
7- Chẳng hòa với dòng họ,
8- Chẳng yêu mến cha mẹ.
Biết lỗi mà sửa đổi,
Cũng biết gọi là hiền.
Có lỗi mà chẳng sửa,
Thất hiếu càng nặng tội.

87
Giáo nữ chi pháp,
Tiên tránh kỳ thân :
Phụ nhơn nhâm thần,
Vật thực ác nhục,
Vật thính ai thinh,
Chánh đạo nhi hành,
Khẩu vô tà thuyết.
Ẩm thực thất tiết,
Cư sử thất thường,
Ngoại-cảm nội-thương,
Bệnh sanh đa trệ. Ý- NGHĨA :
Phép dạy con gái,
Trước hãy sửa mình :
Đờn bà thai nghén,
Đừng ăn thịt độc,
Đừng nghe tiếng buồn,
Chơn đi đường thẳng,
Miệng tránh nói tà.
Ăn uống sái giờ,
Chỗ ở thất thường,
Ngoại-cảm nội-thương,
Bệnh-tình thêm nặng.

88
Nữ tử bất học,
Bất tri lễ nghi.
Nam tử bất học,
Bất đạt sự lý.
Ý- NGHĨA :
Con gái chẳng học,
Chẳng biết lễ nghi.
Nam tử bất học,
Chẳng thông sự lý.


89
Đọc thơ cầu lý,
Tạo chúc cầu minh.
Tử tôn tuy hiền,
Bất giáo bất minh.
Cung kiếm bất học,
Bất tri trương võ.
Văn tự bất học,
Bất tri thơ họa.
Dược tánh bất học,
Bất tri y-phương.
Lễ nhạc bất học,
Bất chi tế tự.
Ý- NGHĨA :
Đọc sách tìm lý,
Đốt đuốc soi sáng.
Con cháu tuy hiền,
Chẳng dạy chẳng biết.
Cung kiếm chẳng học,
Chẳng biết giương múa.
Văn tự chẳng học,
Chẳng biết viết vẽ.
Tính thuốc chẳng học,
Chẳng biết phương chữa.
Lễ nhạc chẳng học,
Chẳng biết cúng tế.


90
Vạn khoảnh lương điền,
Bất như bạc nghệ.
Thiên kim di tử,
Bất như nhứt kinh.
Ý- NGHĨA :
Muôn thủa ruộng nương tốt,
Chẳng bằng một nghề mọn.
Ngàn vàng để cho con,
Chẳng bằng một quyển sách.




PHẬT HỌC THƠ - XÃ
Chủ nhiệm : Đoàn Trung Còn
143,đường Đề Thám - Sài Gòn




Người gửi tài liệu : Chuongaz
Chuonghanoi@gmail.com




Đạo Mẫu Việt Nam, Tục Thờ Mẫu, đạo mẫu tứ phủ, tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Nay kính tựa,Saì Gòn, mùa hạ 1971
Đoàn Trung Còn

Bản của Trình Di_ Dịch bởi :  Đoàn Trung Còn


01
Nhân sanh bá nghệ
Văn học vi tiên
Nho sĩ thị trân
Thi thơ thị bảo

Ý- NGHĨA :
Người đời làm cả trăm nghề
Văn học là nghề đứng đầu
Nho sĩ là người đáng trọng
Thi thơ là sách đáng quý

02
Cổ giả thánh hiền
Dịch tử nhi giáo
Đức hạnh thuần hòa
Trạch vi sư hữu
Ý- NGHĨA :
Các vị thánh hiền thủa xưa
Đổi con với nhau mà dạy
Những trang đức hạnh thuần hòa
Đáng chọn làm thầy và làm bạn

03
Dưỡng nhi bất giáo
Nai phụ chi quá
Giáo nhi bất nghiêm
Nãi sư chi đọa
Học vấn bất cần
Nai tử chi ác Ý- NGHĨA :
Nuôi mà chẳng dậy
Là lỗi của cha
Dậy mà chẳng nghiêm
Là lỗi của thầy
Học hỏi chẳng cần
Là lỗi của con

04
Hậu tùng tiên giác
Giám cổ chi kim   Ý- NGHĨA :
  Người hậu giác theo người tiên    giác
   Soi việc xưa mà biết việc nay

05
Học hữu tam tâm
Bất khả thất nhứt
Phụ mẫu hậu thực
Tử học cần mẫn
Nghiêm sư tác thành   Ý- NGHĨA :
   Học giả có ba niềm
   Bỏ sót một chẳng được:
   Cha mẹ phúc - hậu thật
   Phận con học cần mẫn
   Thầy nghiêm chỉnh chỉ dạy


06
Nhân hữu tam tình
Khả sự như nhứt
Phi phụ bất sinh
Phi quân bất vinh
Phi sư bất thành





07
Hữu đạo đức giả
Tử tôn thông minh
Vô đạo đức giả
Tử tôn ngu muội


Ý- NGHĨA :
Người ta có ba ơn
Nên thờ trọng như một:
Không cha, mình chẳng sanh
Không vua, mình chẳng vinh
Không thầy, mình chẳng nên



Ý- NGHĨA :
Người có đạo đức
Con cháu thông minh
Kẻ không đạo đức
Con cháu ngu muội



08
Dưỡng nam bất giáo
Bất như dưỡng lư
Dưỡng nữ bất giáo
Bất như dưỡng trư
Ý- NGHĨA :
Nuôi con trai chẳng dạy
Chẳng bằng nuôi lừa
Nuôi con gái chẳng dạy
Chẳng bằng nuôi heo


09
Giáo huấn chi sơ
Tiên thủ lễ pháp
Bất chi vấn đáp
Thị vị ngu si
Ý- NGHĨA :
Việc giáo huấn sơ đẳng
Trước hết giữ lễ phép:
Kẻ chẳng biết thưa dạ
Gọi là đứa ngu si



10
Bất giáo nhi thiện
Phi thánh nhi hà ?
Giáo nhi hậu thiện
Phi hiền nhi hà ?
Giáo nhi bất thiện
Phi ngu nhi hà ?
Khốn nhi tri chi
Phi trí nhi hà ?
Ý- NGHĨA :
Chẳng học mà hay
Chẳng phải thánh sao ?
Có học mới hay
Chẳng phải hiền sao ?
Học mà không thông
Chẳng phải ngu sao ?
Chịu khó mới thông
Chẳng phải trí sao ?


11
Hữu điền bất canh
Thương lẫm không hư
Hữu thơ bất giáo
Tử tôn ngoan ngu
Thương lẫm không hề
Tuế thời phạp thực
Tử tôn ngu hề
Lễ nghĩa toàn vô
Ý- NGHĨA :
Có ruộng chẳng cầy
Kho lẫm trống rỗng
Có sách chẳng dạy
Con cháu ngu ngốc
Kho lẫm trống không
Năm tháng nghèo đói
Con cháu ngu ngốc
Lễ nghĩa chẳng thông


12
Phàm nhân bất học
Minh như dạ hành
Thinh thơ như tủng
Vọng tự như manh
Ý- NGHĨA :
Hễ người chẳng học
Mờ như đi đêm
Nghe sách như điếc
Trông chữ như đui


13
Ấu nhi cần học
Trưởng tắc thi hành
Tránh tâm tu thân
Tề gia trị quốc
Ý- NGHĨA :
Nhỏ thì siêng học,
Lớn thì thực hành.
Rèn lòng, sửa mình,
Yên nhà, trị nước.

14
Sĩ tu ư gia
Tự hương nhi quốc
Khoa mục triều tước
Hữu độc thơ nhân
Ý- NGHĨA :
Kẻ sĩ tu sửa việc nhà,
Việc làng rồi tới việc nước:
Những vị thi đậu làm quan,
Vốn là người đọc sách.

15
Bần nhi cần học
Khả dĩ lập thân
Phú quý cần học
Ích vinh kỳ danh
Khai quyển hữu ích
Chí giả cánh thành
Ý- NGHĨA :
Nghèo mà chăm học,
Nhờ đó lập thân - phận:
Dầu mà chăm học,
Nhờ đó danh - phận càng cao.
Dở quyển là có ích,
Có chí ắt thành công.


16
Bác học quảng văn
Khì trí ích minh
Bất sỉ hạ vấn
Nghĩa lý ích tinh
Độc học vô hữu
Cô lậu quả văn Ý- NGHĨA :
Học vấn càng cao rộng,
Trí tuệ càng thông suốt.
Chẳng thẹn hỏi kẻ dưới,
Nghĩa lý càng tinh thông.
Học một mình không bạn,
Kiến - văn cạn và ít.



17
Nhân hữu ngũ luân
Cang thường vi thủ
Bất chi cang thường
Hà dị cầm thú ?
Phong nghỉ hữu chủ
Huống như nhân hồ ?
Tam cang cửu trù
Cổ kim bất dịch
Vi quân chỉ Kính
Vi thần chỉ chung
Vi phụ chỉ từ
Vi tử chỉ hiếu
Vi huynh chỉ ái
Vi đệ chỉ cung
Vi phu chỉ hòa
Vi phụ chỉ thuận
Bằng hữu chỉ tín
Trưởng ấu chỉ khiêm
Hương đảng chỉ hòa
Lân bằng chỉ nhượng
Ý- NGHĨA :
Người đời có lăm luân,
Với cang thường là trọng.
Nếu chẳng biết cang thường,
Có khác gì cầm thú ?
Ong, kiến còn có chúa,
Huống chi là loài người ?
Ba cang với chín trù,
Xưa nay chẳng dời đổi.
Làm vua đứng ở mức kính,
Làm tôi đứng ở mức trung.
Làm cha đứng ở mức từ,
Làm con đứng ở mức hiếu,
Làm anh đứng ở mức ái,
Làm em đứng ở mức cung,
Làm chồng đứng ở mức hòa,
Làm vợ đứng ở mức thuận,
Bầu bạn đứng ở mức tín,
Lớn nhỏ đứng ở mức khiêm,
Làng xóm đứng ở mức hòa,
Láng giềng đứng ở mức nhượng.


18
Hành giả nhượng lộ
Canh giả nhượng bạn
Quá khuyết tắc hạ
Quá miếu tắc xu
Ý- NGHĨA :
Đi đường nhường bước
Cày ruộng nhường bờ
Qua đình xuống ngựa
Qua miếu nhẹ chân

19
Xuất nhập khởi cư
Phi lễ bất chỉnh
Ngôn ngữ ẩm thực
Phi lễ bất túc Ý- NGHĨA :
Khi ra vào, lúc đứng lúc ngồi,
Sái lễ - phép thì chẳng tề - chỉnh.
Khi nói năng, lúc ăn uống,
Sái lễ phép, chẳng nghiêm - trang.


20
Tu thân quả dục
Cần kiệm tề gia
Cấm chỉ xa hoa
Tu phòng hậu dụng
Ý- NGHĨA :
Sửa mình, ít dục,
Cần kiệm , tề gia,
Ngăn ngừa lãng-phí se-sua,
Dự phòng tiền của sắm mua lúc cần.


21
Đắc vinh tư nhục
Cư an tư nguy
Đạo cao đức trọng
Bất sỉ tệ y
Ý- NGHĨA :
Được vinh hiển, lo hờ lúc nhục,
Được ở yên, phòng bị cơn nguy.
Người đạo cao đức trọng,
Chẳng thẹn áo cũ rách.


22
Tích cốc phòng cơ
Tích y phòng hàn
Kiệm tắc thường túc
Tĩnh tắc thường an
Cần bị phòng gian
Dương tử phòng lao
Ý- NGHĨA :
Chứa lúa phòng khi đói,
Cất áo phòng cơn lạnh,
Kiệm-ước thường đủ dùng,
Bình-tĩnh thường yên-ổn,
Dè-dặt phòng kẻ gian,
Nuôi con phòng lúc già.


23
Sự thân ký hiếu
Tử diệc hiếu chi
Ý- NGHĨA :
Mình đã thảo với cha mẹ,
Con cũng sẽ thảo với mình.

24
Phụng đường lễ nghi
Mạc tỵ ô uế
Phụ mẫu thượng tại
Bất khả viễn du
Thân thể phát phu
Thọ chi phụ mẫu
Bất cảm hủy thương
Hiếu chi thủy giã
Lận thân hành đạo
Dương danh ư hậu
Dĩ hiển phụ mẫu
Hiếu chi chung giã
Ý- NGHĨA :
Phụng dưỡng đủ lễ-nghi,
Chớ tránh đồ dơ-dáy.
Cha mẹ còn hiện tại,
Chẳng nên đi chơi xa.
Mình, vóc, tóc, gia,
Thọ nơi cha mẹ.
Chẳng giám hủy hoại,
Là nết hiếu đầu.
Lập thân, hành đạo,
Rõ tiếng hậu lai.
Thơm lây cha mẹ,
Là nết hiếu sau.

25
Dục hòa thượng hạ
Nhẫn tự vi tiên
Quân thần nhẫn chi
Quốc thế bảo toàn
Phụ tử nhẫn chi
Tự toàn kỳ đạo
Phu phụ nhẫn chi
Linh tử bất cô
Huynh đệ nhẫn chi
Gia trung vô hại
Bằng hữu nhẫn chi
Kỳ tình bất sơ
Tự thân nhẫn chi
Nhơn nhơn ái lạc
Ý- NGHĨA :
Muốn cho trên dưới hòa,
Lấy chữ nhẫn làm đầu.
Vua với tôi nhẫn nhịn,
Thế nước được giữ yên.
Cha với con nhẫn nhịn,
Giữ vẹn được gia đạo.
Chồng với vợ nhẫn nhịn,
Con cái khỏi bơ vơ.
Anh với em nhẫn nhịn,
Gia đình khỏi hư hại.
Bầu bạn nhẫn nhịn nhau,
Tình bạn chẳng nhạt-phai.
Tự mình nhẫn nhìn được,
Ai nấy đều mến yêu.


26
Gia trung đổ bác
Nam nữ giai ác
Gia trung hữu cầm
Nữ tử bất dâm
Gia trung hữu kỳ
Nam tử tất suy
Gia trung hữu chế
Nam nữ thủ lễ
Ý- NGHĨA :
Trong nhà bài bạc,
Con cái đều hư.
Trong nhà đờn ca,
Con gái động tình.
Trong nhà mê cờ,
Con trai suy bại.
Trong nhà nề nếp,
Con cái giữ lễ.

27
Sự vô đại tiểu
Vô đắc tranh thành
Tài sản phân minh
Quân cấp quần chúng
Ý- NGHĨA :
Đừng ngại phần lớn nhỏ,
Không được tranh lấn nhau.
Tiền của phân rành rẽ,
Ai nấy được cấp-đều.

28
Mạc ái châu ngọc
Ái tử tôn hiền
Hòa mục vi tiên
Thành vi mỹ tục
Ý- NGHĨA :
Đừng ham châu ngọc,
Ham con cháu hiền.
Hòa-mục là đầu,
Nên phong- tục tốt.


29
Hôn nhân trạch phối
Tiên tề gia phong
Thanh khiết khuê phòng
Chủ quỹ tần tảo
Quả ngôn cần hậu
Chấp thuận xướng tùy
Đức hạnh biểu nghi
Bất tu nhan sắc
Tử tư mẫu đức
Nữ xuất cung phi
Tử hiếu tôn từ
Thê hiền tửi quý
Ý- NGHĨA :
Cưới vợ nên chọn kỷ,
Trước lo việc tề gia.
Khuê-phòng gìn tiết sạch,
Đơm-quải giữ siêng năng.
Nói ít và cẩn hậu,
Vui thuận ý-tứ chồng.
Đức hạnh khuôn-phép đủ,
Chẳng cần gương mặt đẹp.
Con trai nhờ đức mẹ,
Con gái lấy vua quan.
Nhà con thảo cháu lành,
Vợ hiền sinh con quý.


30
Nghiệt thê bại tự
Đố phụ loạn gia
Xảo quyệt thị tà
Kiêu ngoa thị trá
Phụ nhân nội trợ
Thạnh suy chi do
Ý- NGHĨA :
Vợ giữ không trai nối họ,
Gái gen gây rối nhà chồng.
Xảo-quyệt mới là tà vậy,
Kiêu-ngoa tức thị gạt lừa.
Đờn bà đỡ bớt bề trong,
Do đó nhà suy hoặc thạnh.


31
Hiền nữ kính phu
Sỹ nhân úy phụ
Ý- NGHĨA :
Gái hiền kính chồng
Trai ngu sợ vợ.


32
Bất chánh chi nữ
Tu dĩ vi thê
Bất trung chi nhơn
Tu dĩ vi thần
Ý- NGHĨA :
Gái bất chánh,
Khiến chồng xấu hổ.
Trai bất trung,
Khiến chúa thẹn-thùa.


33
Nữ chi thủ tiết
Do sĩ thủ thân
Hiền thê gia bảo
Hiền thần quốc trân
Ý- NGHĨA :
Làm gái giữ tròn tiết-hạnh,
Như sĩ phu gìn lấy thân-danh.
Vợ hiền là báu trong nhà,
Tôi hiền là báu của nước.


34
Nam quý trung cần
Nữ quý trinh thuận
Ý- NGHĨA :
Làm trai quý ở trung, cần,
Làm gái quý nơi trinh, thuận.


35
Giáo phụ sơ lai
Giáo tử anh hài
Ý- NGHĨA :
Dạy vợ khi mới về,
Dạy con lúc còn trẻ.

36
Dục bất khả túng
Dục túng thành tai
Lạc bất khả cực
Lạc cực sanh ai Ý- NGHĨA :
Chẳng nên phóng túng ham dục,
Ham dục nhiều thì mang họa.
Chẳng nên vui sướng thái quá,
Vui quá sanh ra buồn khổ.

37
Nữ vật tham tài,
Nam vật tham sắc.
Sắc dị sát nhân,
Tài dị sát thân.
Ý- NGHĨA :
Gái đừng ham tiền của,
Trai đừng ham nhan sắc.
Nhan sức dễ giết người,
Tiền của dễ hại thân.

38
Thuật trá di chi,
Tử tôn giả vong.
Đạo đức di chi,
Tử tôn giả xương.
Bổn cố chi trường,
Lưu truyền vạn đại.
Ý- NGHĨA :
Gian trá để lại tiền của,
Con cháu ắt phải tiêu vong.
Chẳng bằng để lại đạo đức,
Cháu con sẽ được thành đạt.
Gốc có vững cành mới dài,
Nước nhà bền bỉ, muôn đời truyền lưu.

39
Bất hiếu giả tam,
Vô hậu vi đại.
Hữu thân bất ái,
Hữu huynh bất kính.
Cầu tha ái kính.
Khởi khả đắc hồ ?
Ý- NGHĨA :
Bất- hiếu có ba thứ tội,
Tuyệt tự là tội lớn nhất.
Có cha, chẳng yêu cha,
Có anh, chẳng yêu anh.
Mong con em yêu kính,
Hás mong cầu được sao ?


40
Tử quả hiền hỹ,
Kim tuy bần tiện,
Hậu tất phú quý,
Tử bất tiểu hỹ,
Kim tuy phú quý,
Hậu tất bần tiện.

Ý- NGHĨA :
Phận làm con hiền đức,
Tuy nay chịu nghèo hèn,
Sau ắt được giàu sang.
Kẻ làm con bất hiếu,
Tuy nay được giàu sang,
Sau trở nên nghèo hèn.


41
Cốt nhục bần giả,
Tình bất khả sơ.


Ý- NGHĨA :
Bà con thân-thích dẫu nghèo,
Tình nghĩa chẳng nên lợt lạt.




42
Tha nhân phú giả,
Tâm bất khả ố.

Ý- NGHĨA :
Đối kẻ khác giàu có,
Lòng chớ khá ghét ganh.

43
Thủ trọng ư nhơn,
Thị trọng kỳ thân.
Ý- NGHĨA :
Đem lòng kính trọng người ta,
Đó là mình trọng chính mình.


44
Mặc hiệu tiểu nhân,
ố nhân thắng kỷ.
khả hiệu quân tử,
thành nhân chi mỹ.
Ý- NGHĨA :
Đừng bắt trước phường tiểu-nhân,
Họ ghét những ai hơn họ.
Hãy bắt chước trang quân-tử,
Giúp người làm nên việc tốt.


45
Cầu vô dã nhân,
Mặc dưỡng quân tử.
Cầu vô quân tử,
Mặc thị dã nhân.
Ý- NGHĨA :
Nếu không có kẻ quê mùa,
Lấy ai nuôi người quân-tử ?
Nếu không có người quân-tử,
Lấy ai dạy kẻ quê mùa ?



46
Cự tất trạch lân,
Giao tất trạch hữu.
Hoạn nạn tương cửu,
Quá thất tương quy.

47
Dụng nhơn vật nghi,
Nghi nhơn vật dụng.
Dụng nhân bất cẩn,
Hại tùy nhi chí.
Tiểu nhân thất ý,
Khởi vi cửu-thù.
Ý- NGHĨA :
ở phải chọn xóm,
chơi phải chọn bạn.
hoạn-nạn cứu nhau,
lỗi-lầm khuyên nhau.

Ý- NGHĨA :
Dùng người đừng nghi,
Nghi ai đừng dùng.
Không cẩn thận dùng người,
ắt cáo hại về sau.
Kẻ tiểu-nhơn bất-mãn,
Họ trở nên cửu-thù.

48
Tiểu nhân tự-kiêu,
Thị tài căng kỷ.
Vô ố tiểu-nhơn,
Thị vi quân-tử.
Tài thượng phân-minh,
Thị vi trượng-phu.
Ý- NGHĨA :
Tiểu nhân tự-kiêu,
Ỷ tài khoe mình.
Chẳng ghét tiểu-nhân,
Mới là quân-tử.
Tiền-bạc rành-rẽ,
Mới đáng trượng-phu.


49
Bần nhi vô siểm,
Phú nhi vô kiêu.
Thanh bần tương lạc,
Trọc-phú đa ưu.
Vật thị phú quý,
Tự khinh kỳ bần.
Thị phú khinh bần,
Thủ tiền lỗ nhĩ !


Ý- NGHĨA :
Nghèo chẳng đua-bợ,
Giầu chẳng kiêu căng.
Thanh-bần thường vui,
Trọc-phú hay lo.
Chớ cậy giầu sang,
Mà khinh kẻ nghèo.
Cậy mình giầu mà khinh kẻ nghèo,
Chẳng qua mình là mọi, giữ tiền.

50
Cùng nhân vật mạ,
Cùng khấu vật truy.
Điểu cùng tắc phi,
Khuyển cùng tắc phệ.
Nhơn tham tài tử,
Điểu tham thực vong.
Cơ hàn thiết thân,
Bất cố liêm sỉ !
Ý- NGHĨA :
Người ham tiền thì chết,
Chim ham mồi thì nguy.
Đói lạnh đương bức thân,
Chẳng kể gì liêm sỉ !

51
Tự tiên trách kỷ,
Nhị hậu trách nhơn.
Hàm huyết phún nhân,
Tiên ô ngã khẩu.
Ý- NGHĨA :
Trước hãy trách mình,
Sau hãy trách người.
Ngậm máu phun người,
Trước dơ miệng mình.


52
Ác ngôn xuất khẩu,
Hung-thần giám lâm.
Thiện-niệm vu tâm,
Cát-thần tự hiện.
Ý- NGHĨA :
Lời dữ ra ngoài miệng,
Hung-thần liền soi tới.
Niệm lành khởi trong tâm,
Cát-thần tự-nhiên hiện.




53
Tích thiện phùng thiện,
Tích ác phùng ác.
Tử-tế tư lường,
Thiên địa bất thác.
Nhân-hậu ngộ hậu,
Xứu xứ tương phùng.
Mưu thâm họa thâm,
Oan oan tương báo.
Nhược trì bất báo,
Thời-thần vị đáo.
Chủng qua đắc qua,
Chủng đậu đắc đậu.
Thiên võng khôi-khôi,
Sơ nhi bất lậu.
Ý- NGHĨA :
Chứa lành gặp lành,
Chứa dữ gặp dữ.
Xét kỹ mà coi,
Trời đất chẳng lầm.
Nhân-hậu gặp nhân-hậu,
Chốn chốn thường gặp nhau.
Mưa sâu họa sâu,
Oán vay oán trả.
Chậm chạm chẳng trả,
Thời kỳ chưa tới.
Trồng dưa được dưa,
Trồng đậu được đậu.
Lưới trời lồng lộng,
Thưa mà chẳng lọt.


54
Hoàng thiên bất phụ,
Hữu độc thơ nhân.
Hoàng thiên bất phụ,
Hữu đạo tâm nhơn.
Hoàng thiên bất phụ,
Hữu hảo tâm nhơn.
Ý- NGHĨA :
Ông trời chẳng bỏ,
Những người đọc sách.
Ông trời chẳng bỏ,
Những người tâm đạo.
Ông trời chẳng bỏ,
Những người lòng tốt.




55
Thương nhân chi ngữ,
Phân thương kỳ thân.
Dụng tâm bất lương
Khởi vô quả-báo ?
Cha mẹ làm ác,
Để họa con cháu.
Ý- NGHĨA :
Lời nói hại người,
Trở lại hại mình.
Dụng tâm chẳng lành,
Há khỏi quả báo ?
Cha mẹ làm ác,
Để họa con cháu.


56
Họa phước vô môn,
Duy nhơn sở triệu.
Dục chi họa phước,
Tiên khán tử tôn :
Tự gia nhi tri,
Hà tất vấn thùy ?


Ý- NGHĨA :
Họa phước không nhà,
Tại người vời tới.
Muốn biết họa phước,
Trước xem con cháu :
Nhà mình mình biết,
Cần gì hỏi ai ?

57
Khắc thâm thái thậm,
Trầm bệnh nan y.
Mưu lự đa tư,
Tinh thần lao kiệt.
Âm mưu giá họa,
Âm mưu quỷ thần.
Ích kỷ hại nhơn,
Minh hữu vương hiển.
Nhân tâm như thiết,
Quan pháp như lô !
Văn pháp bất cô,
Sát nhân giả tử. Ý- NGHĨA :
Người nào sâu-sắc nước đời,
Khi mang bệnh nặng, khó bài thuốc thang.
Người nào mưu tính nhiều bề,
Tinh thần hao-tổn, ê-chề, suy-vi.
Mưu thầm kín, gieo họa người,
Quỷ-thần âm-cảnh mười-mười chép rành.
Lợi mình mà hại người ta,
Phép đời luật nước trị là công-minh.
Lòng người như sắt khéo chui,
Phép công lò lửa đốt thui cũng xì !
Án văn chẳng có tư vì,
sát nhân, xử tử luật ghi rõ ràng.
58
Nhơn vô viễn lự,
Tất hữu cận ưu.
Ý- NGHĨA :
Kẻ không lo xa,
ắt có buồn gần.


59
Cẩn tắc vô ưu,
Nhẫn tắc vô nhục.
Ý- NGHĨA :
Cẩn-thận thì khỏi lo,
Nhẫn-nhịn thì khỏi nhục.


60
Nhơn gian tù ngục,
Hoàn thị vô lương.
Thiên-hạ công hầu,
Giai do hữu đức.
Ý- NGHĨA :
Những kẻ tù ngục ở nhân gian,
Đa số là người không lương thiện.
Những công-hầu trong thiên-hạ,
Đều là những vị có đức lành.

61
Cận chu giả xích,
Cận mặc giả hắc.
Hiền đức chi nhơn,
Thân nhi cận chi,
Chung tự hữu ích.
Hung ác chi nhơn,
Xích nhi viễn chi,
Tự miễn họa-hoạn.
Ái hiền như lan,
Úy ác như hổ.
Thành trung thất hỏa,
Họa cập trì ngư. Ý- NGHĨA :
Gần son thì đỏ,
Gần mực thì đen.
Những người hiền đức,
Ta nên thân cận,
Có ích về sau.
Những kẻ hung ác,
Ta nên tránh xa,
Khỏi vướng tai họa.
Mến người hiền như hoa lan,
Sợ kẻ dữ như cọp hùm.
Hỏa hoạn sảy ra trong thành,
Họa lây tới cá dưới ao.

62
Nguy bang bất nhập,
Loạn bang bất cư.
Binh cách chi gian,
Thủ thân vi đại.
Ý- NGHĨA :
Nước nguy đừng vào,
Nước loạn đừng ở.
Trong cơn giặc giã,
Giữ mình làm trọng.

63
Tiểu lợi nhược tham,
Bất thành đại sự.
Tiểu sự bất nhẫn,
Tất loạn đại mưu.
Ý- NGHĨA :
Nếu ham lợi nhỏ,
Chuyện lớn chẳng thành.
Chẳng nhịn việc vặt,
Mưu to phải hỏng.

64
Lợi bất khả độc,
Lợi độc tắc ly.
Mưu bất khả chung,
Chúng mưu khắc tiết.
Ý- NGHĨA :
Lợi chẳng nên hưởng riêng,
Hưởng riêng thì ly tán.
Mưu chẳng khả bàn chung,
Bàn chung ắt tiết lộ.


65
Thành sự bất thuyết,
Ý mạc cượng cầu.
Nhơn vô vọng giao,
Túc vô vọng tẩu.
Thực vô cầu bão,
Cư vô cầu an.
Vô khởi tranh đoan,
Vô đấu khẩu thiệt. Ý- NGHĨA :
Chuyện rồi đừng nói,
Ý chớ gượng cầu.
Người giữ đừng chơi,
Chân đừng chạy bậy.
Ăn chẳng cần món ngon,
Ở chẳng cần nhà đẹp.
Không tranh cạnh phải quấy,
Không đấu chiến miệng lưỡi.

66
Ư ngã thiện giả,
Ngã diệc thiện chi.
Ư ngã tác giả,
Ngã diệc thiện chi.
Ngã hữu thiện niệm,
Thiên tất tùy chi.
Bỉ ký vi ác,
Hữu ác nhơn trị.
Ý- NGHĨA :
Người tốt với mình,
Mình cũng tốt lại.
Người xấu với mình,
Mình cũng tốt lại.
Ta nghĩ điều lành,
Trời chiều ý ta.
Họ làm việc dữ,
Kẻ dữ trị họ.

67
Văn nhân chi ác,
Khẩu bất đắc ngôn.
Văn nhân chi báng,
Tâm bất túc nộ.
Ý- NGHĨA :
Nghe việc quấy của người,
Miệng mình đừng nói ra.
Nghe người phỉ báng mình,
Lòng đừng sanh nóng giận.

68
Ác nhân vật mạ,
Cùng nhơn vật ngôn.
Nhược khởi tranh đoan,
Thị vô trí lự.
Ý- NGHĨA :
Đừng mắng kẻ ác.
Đừng nhiếc kẻ cùng.
Nếu tranh phải quấy,
Là không trí lự.

69
Quân-tử cẩn ngôn,
Thận kỳ ngôn-ngữ.
Bất can kỷ sự,
Mặc khả đương đầu !
Vô ích chi ngôn,
Tự hưu trước khẩu. Ý- NGHĨA :
Quân-tử thận trọng ngôn ngữ,
Khéo nói trong khi luận-đàm.
Chuyện không can dự đến mình,
Chẳng khá chống đối làm chi !
Lời nói xét ra vô ích,
Bỏ đi chẳng để dơ miệng.


70
Quả ngôn trạch giao,
Đa ngôn vật kết.
Đa ngôn thị nguyệt.
Quả ngôn thị trung.
Nhất ngôn bất tín,
Thiên ngôn vô dụng.
Sàm ngôn vật tín,
Phản gián vật hành.
Khứ thực khứ binh,
Tín bất khả khứ.


Ý- NGHĨA :
Người nói ít ta nên làm bạn,
Kẻ nói nhiều ta chớ kết giao.
Kẻ nói nhiều là phường xảo-quyệt,
Người nói ít là bực ngay-thật.
Một lời hứa mà bất tín,
Muôn lời cũng là vô dụng.
Kẻ sàm-nịnh chớ tin cậy,
Kẻ đâm-thọc đừng nghe theo.
Bỏ lương-thực bỏ quân-binh,
Niềm tin chẳng được bỏ mất.

71
Thính kỳ ngôn ngữ,
Quan kỳ mâu-tử.
Bạch nhãn giả hung,
Hắc nhãn giả thiện.
Hữu tâm vô tướng,
Tướng tự tâm sanh.
Hữu tướng vô tâm,
Tướng từng tâm diệt.
Thuận đức giả xương,
Nghịch đức giả vong.
Ý- NGHĨA :
Có tâm mà không tướng,
Tướng do tâm mà lộ.
Có tướng mà không tâm,
Tướng theo tâm mà lặn.
Thuận đức thì hưng thạnh,
Nghịch đức phải suy vong.

73
Quân-tử ngộ bần,
Thủ kỳ lễ nghĩa.
Tiểu-nhân sạ phú,
Tự vọng khinh nhơn. Ý- NGHĨA :
Quân tử gặp lúc nghèo,
Vẫn giữ tròn lễ nghĩa.
Tiểu-nhơn mới làm giàu,
Ngạo-ngễ khinh-chê người.


74
Ẩm thực chi nhơn,
Nhơn giai tiện chi.
Hiếu lợi chi nhơn,
Nhơn giai ố chi.


Ý- NGHĨA :
Kẻ ham ăn uống,
Ai nấy đều chê.
Kẻ ham thủ lợi,
Ai nấy đều ghét.



75
Tân lai dị sơ,
Tọa cửu dị yếm.
Ý- NGHĨA :
Đến thường dễ sơ,
Ngồi dai dễ chán.


76
Dĩ tiểu-nhơn tâm,
Đạc quân-tử phục.
Quân-tử sở vi,
Tiểu-nhân bất thức.
Ý- NGHĨA :
Lấy lòng tiểu-nhân,
Độ bụng quân-tử.
Hành vi quân-tử,
Tiểu-nhân chẳng biết.


77
Thánh-nhơn tích đức,
Bất tích kỳ tài.
Quân tử mưu đạo,
Bất mưu kỳ thực. Ý- NGHĨA :
Thánh nhơn chứa đức,
Chẳng chứa của tiền.
Quân-tử lo đạo,
Chẳng lo cơm gạo.





78
Phi kỷ chi sắc,
Quân-tử bất dâm.
Phi kỷ chi tài,
Quân-tử bất thủ.
Bất-nghĩa chi phú,
Thị như phù vân.
Ý- NGHĨA :
Chẳng phải vợ mình,
Quân-tử chẳng cần.
Chẳng phải của mình,
Quân-tử chẳng lấy.
Giầu-có bất-nghĩa,
Coi như mây rồi.


79
Cứu cấp trẩn bần,
Khoan tắc đắc chúng.
Ý- NGHĨA :
Cứu kẻ khổ, giúp người nghèo,
Lượng khoan hồng được lòng dân.


80
Bình thời giảng võ,
Loạn thế độc thơ.
Quân tử-kiến cơ,
Bất sĩ trung nhựt.
Ý- NGHĨA :
Thời bình tập võ,
Lúc loạn đọc sách.
Quân-tử nhắm dèo,
Chẳng đợi hết bữa.

81
Cùng tất hữu đạt,
Bỉ cực thái lai.
Đản hoạn vô tài,
Bất hoạn vô dụng.
Sự vô vọng động,
Tâm vô vọng tư.
Ý- NGHĨA :
Hết cùng tới đạt,
Hết bỉ tới thái.
Chỉ ngại không tài,
Chỉ lo vô dụng.
Tay không làm quấy,
Lòng không nghĩ bậy.

82
Quan bất tại ngu,
Phú bất tại lại.
Ý- NGHĨA :
Chẳng phải ngu dốt mà làm quan,
Chẳng phải lười biếng mà làm giầu.


83
Tự tri phận giả,
Bất khả vưu nhơn.
Tự tri mạng giả,
Bất khả oán thiên.
Ý- NGHĨA :
Tự biết phận mình,
Chẳng nên oán người.
Tự biết mạng mình,
Chớ khá trách trời.


84
Tri chỉ thường chỉ
Chung thân bất sỉ
Chi túc thường túc,
Trung thân bất nhục.
Ý- NGHĨA :
Biết nên thôi, cứ thôi,
Trọn đời Chẳng thẹn.
Biết là đủ, thường đủ,
Trọn đời chẳng nhục.

85
Minh minh hoàng-tổ,
Thùy huấn hữu ngũ.
Nội tác sắc hoang,
Ngoại tác cầm hoang.
Cam tửu, thị âm,
Tuấn vũ điêu lường.
Hữu nhứt vu thử,
Vị hoặc bất vong.
Ý- NGHĨA :
Vua văn-vương sáng suốt,
Để lại năm điều răn.
1- Trong đền ham sắc dục,
2- Ra ngoài thích săn bắn,
3- Mê rượu, 4- ưa âm nhạc,
5- Khoái nhà cao vách chạm.
Phạm một trong năm điều,
Chẳng khỏi mất nước nhà.

86
Huấn tử nghĩa-phương,
Thất hiếu giả bát :
Học vấn bất cần,
Đổ bác vong thân,
Tử sắc tranh đau,
Đạo thâu bôn tẩu,
Tranh tụng bại gia,
Tông tộc bất hòa,
Phụ mẫu bất ái.
Chi quá nhi cải,
Diệc khả vi hiền.
Hữu quá bất cải,
Thất hiếu vưu đại.
Ý- NGHĨA :
Dạy con đúng nghĩa-phương,
Thất hiếu có tám điều :
1- Học hỏi chẳng siêng năng,
2- Bài bạc làm hư thân,
3- Rượu gái với,
4- Đánh lộn,
5- Trộm cướp rồi chạy chốn,
6- Kiện tụng tan gia-sản,
7- Chẳng hòa với dòng họ,
8- Chẳng yêu mến cha mẹ.
Biết lỗi mà sửa đổi,
Cũng biết gọi là hiền.
Có lỗi mà chẳng sửa,
Thất hiếu càng nặng tội.

87
Giáo nữ chi pháp,
Tiên tránh kỳ thân :
Phụ nhơn nhâm thần,
Vật thực ác nhục,
Vật thính ai thinh,
Chánh đạo nhi hành,
Khẩu vô tà thuyết.
Ẩm thực thất tiết,
Cư sử thất thường,
Ngoại-cảm nội-thương,
Bệnh sanh đa trệ. Ý- NGHĨA :
Phép dạy con gái,
Trước hãy sửa mình :
Đờn bà thai nghén,
Đừng ăn thịt độc,
Đừng nghe tiếng buồn,
Chơn đi đường thẳng,
Miệng tránh nói tà.
Ăn uống sái giờ,
Chỗ ở thất thường,
Ngoại-cảm nội-thương,
Bệnh-tình thêm nặng.

88
Nữ tử bất học,
Bất tri lễ nghi.
Nam tử bất học,
Bất đạt sự lý.
Ý- NGHĨA :
Con gái chẳng học,
Chẳng biết lễ nghi.
Nam tử bất học,
Chẳng thông sự lý.


89
Đọc thơ cầu lý,
Tạo chúc cầu minh.
Tử tôn tuy hiền,
Bất giáo bất minh.
Cung kiếm bất học,
Bất tri trương võ.
Văn tự bất học,
Bất tri thơ họa.
Dược tánh bất học,
Bất tri y-phương.
Lễ nhạc bất học,
Bất chi tế tự.
Ý- NGHĨA :
Đọc sách tìm lý,
Đốt đuốc soi sáng.
Con cháu tuy hiền,
Chẳng dạy chẳng biết.
Cung kiếm chẳng học,
Chẳng biết giương múa.
Văn tự chẳng học,
Chẳng biết viết vẽ.
Tính thuốc chẳng học,
Chẳng biết phương chữa.
Lễ nhạc chẳng học,
Chẳng biết cúng tế.


90
Vạn khoảnh lương điền,
Bất như bạc nghệ.
Thiên kim di tử,
Bất như nhứt kinh.
Ý- NGHĨA :
Muôn thủa ruộng nương tốt,
Chẳng bằng một nghề mọn.
Ngàn vàng để cho con,
Chẳng bằng một quyển sách.




PHẬT HỌC THƠ - XÃ
Chủ nhiệm : Đoàn Trung Còn
143,đường Đề Thám - Sài Gòn




Người gửi tài liệu : Chuongaz
Chuonghanoi@gmail.com




Đạo Mẫu Việt Nam, Tục Thờ Mẫu, đạo mẫu tứ phủ, tín ngưỡng dân gian Việt Nam
dao mau viet nam - dao mauĐạo Mẫu Việt Nam - dongaphu.vnCLB Bảo Tồn Phục Dựng Văn Hoá Tâm Linh Và Đạo Mẫu Việt Nam Theo Lối Cổ - www.dongaphu.vn TRỤ SỞ : SỐ 27 – NGHÁCH 426/20 - NGÕ 426 - ĐƯỜNG LÁNG - ĐỐNG ĐA - HÀ NỘI . Tel:   0982.747.026    -     01686373566     -    0912.012.799Mail: dongaphu.vn@gmail.com     hoặc    hoangthuy.vip@yahoo.com.vndao mau viet nam - dao mauĐạo Mẫu Việt Nam - dongaphu.vnCLB Bảo Tồn Phục Dựng Văn Hoá Tâm Linh Và Đạo Mẫu Việt Nam Theo Lối Cổ - www.dongaphu.vndao mau viet nam - dao mau


MINH ĐẠO GIA HUẤN

TRÌNH HẠO


Bản do: VŨ VĂN KÍNH & LẠC THIỆN dịch


Nhân sinh bách nghệ: Người đời làm cả trăm nghề
Văn học vi tiên: Văn học là nghề đứng đầu
Nho sĩ thị trân: Nho sĩ là người đáng trọng
Thi thư thị bảo: Thi thư là sách đáng quý.
Cổ giả thánh hiền: Ngày xưa các bậc Thánh hiền
Dịch tử nhi giáo: Đổi con với nhau mà dạy
Đức hạnh thuần hòa: Những trang đức hạnh thuần hòa
Trạch vi sư hữu: Đáng chọn làm thầy và bạn.

Dưỡng nhi bất giáo: Nuôi con mà chẳng dạy
Thị phụ chi quá: Là lỗi của cha
Giáo nhi bất nghiêm: Dạy mà không nghiêm
Thị sư chi nọa (đọa): Là lỗi của Thầy
Học vấn bất cần: Học hỏi chẳng siêng năng
Thị tử chi ác: Là lỗi của con.
Hậu tòng tiên giác: Người sau theo người hiểu biết trước
Giám cổ tri kim: Soi việc xưa mà biết việc nay.

Học hỏi tam tâm: Người học phải có ba niềm
Bất khả thất nhất: Bỏ sót một chẳng được
Phụ mẫu hậu thật: Cha mẹ phúc hậu thật thà
Tử học mẫn cần: Phận con học siêng năng
Nghiêm sư tác thành: Thầy nghiêm chỉnh chỉ dạy.

Nhân hữu tam tình: Người ta có ba ơn
Khả sự như nhất: Nên thờ trọng như một
Phi phụ bất sinh: Không có cha, mình chẳng được sinh
Phi quân bất vinh: Không vua, mình chẳng được vinh
Phi sư bất thành: Không thầy, mình chẳng làm nên.
Hữu đạo đức giả: Người có đạo đức
Tử tôn thông minh: (thì) Con cháu thông minh
Vô đạo đức giả: Kẻ không đạo đức
Tử tôn ngu muội: (thì) Con cháu ngu muội.

Dưỡng nam bất giáo: Nuôi con trai mà chẳng dạy
Bất như dưỡng lư: Chẳng bằng nuôi con lừa
Dưỡng nữ bất giáo: Nuôi con gái mà chẳng dạy
Bất như dưỡng trư: Chẳng bằng nuôi con heo.
Giáo huấn chi sơ: Việc giáo huấn buổi ban đầu
Tiên thủ lễ phép: Trước hết dạy giữ lễ phép
Bất tri vấn đáp: Kẻ chẳng biết hỏi và thưa
Thị vị ngu si: Gọi là đứa ngu si.

Bất giáo nhi thiện: (người) Chẳng học mà hay
Phi thánh nhi hà: Chẳng phải là thánh sao?
Giáo nhi hậu thiện: (người) Có học mới hay
Phi hiền nhi hà: Chẳng phải là hiền sao?
Giáo nhi bất thiện: (người) Học mà chẳng thông
Phi ngu nhi hà: Chẳng phải là ngu sao?
Khốn nhi tri chi: (người) Chịu khó mà thông hiểu
Phi trí nhi hà: Chẳng phải là trí sao?

Hữu điền bất canh: Có ruộng mà chẳng cày
Thương lẫm không hư: Kho đụn trống rỗng
Hữu thư bất giáo: Có sách mà chẳng dạy
Tử tôn ngoan ngu: (thì) Con cháu ngu ngốc
Thương lẫm không hề: Kho đụn mà trống không
Tuế thì phạp thực: Năm tháng thiếu ăn
Tử tôn ngu hề: Con cháu mà ngu ngốc
Lễ nghĩa toàn vô: Thì không có lễ nghĩa.

Phàm nhân bất học: Hễ người mà chẳng học
Minh như dạ hành: Mờ mịt như người đi đêm
Thính thư như tủng: Nghe sách như điếc
Vọng tự như manh: Trông chữ như mù.

Ẩu nhi cần học: Nhỏ mà siêng học
Trưởng tắc thi hành: Lớn mới làm được việc
Chánh tâm tu thân: Rèn lòng, sửa mình
Tề gia trị quốc: Yên nhà, trị nước.

Sĩ tu ư gia: Kẻ sĩ sửa sang việc nhà
Tự hương nhi quốc: Từ việc làng rồi đến việc nước
Khoa mục triều tước: Những vị thi đậu làm quan
Hữu độc thư nhân: Vốn là người có học.

Bần nhi cần học: Nghèo mà chăm học
Khả dĩ lập thân: Nhờ đó lập nên thân phận
Phú nhi cần học: Giàu mà chăm học
Ích vinh kỳ danh: Nhờ đó mà danh vọng càng cao
Khai quyển hữu ích: Mở quyển sách là có ích
Chí giả cánh thành: Có chí ắt thành công.

Bác học quảng vấn: Học sâu hỏi rộng
Kỳ trí ích minh: Trí tuệ càng sáng suốt
Bất sỉ hạ vấn: Chẳng thẹn hỏi kẻ dưới
Nghĩa lý ích tinh: Nghĩa lý càng tinh thông
Độc học vô hữu: Học một mình không bạn
Cô lậu quả văn: Kiến văn hạn hẹp.

Nhân hữu ngũ luân: Người đời có năm luân
Cương thường vi thủ: Với cương thường là trọng
Bất tri cương thường: Nếu chẳng biết cương thường
Hà dị cầm thú: Có khác chi loài cầm thú
Phong nghị hữu chủ: Ong, kiến còn có chúa
Huống ư nhân hồ: Phương chi là loài người?

Tam cương cửu trù: Ba cương với chín trù
Cổ kim bất dịch: Xưa nay chẳng đổi dời
Vi quân chỉ kính: Làm vua đứng ở mức Kính
Vi thần chỉ trung: Làm tôi đứng ở mức Trung
Vi phụ chỉ từ: Làm cha đứng ở mức Từ
Vi tử chỉ hiếu: Làm con đứng ở mức Hiếu
Vi huynh chỉ ái: Làm anh đứng ở mức Ái
Vi đệ chỉ cung: Làm em đứng ở mức Cung
Vi phu chỉ hòa: Làm chồng đứng ở mức Hòa
Vi phụ chỉ thuận: Làm vợ đứng ở mức Thuận
Bằng hữu chỉ tín: Bè bạn đứng ở mức Tín
Trương ấu chỉ khiêm: Lớn nhỏ đứng ở mức Khiêm
Hương đảng chỉ hòa: Làng xóm đứng ở mức Hòa
Lân bang chỉ nhượng: Láng giềng đứng ở mức Nhượng.
Hành giả nhượng lộ: Đi đường nhường bước
Canh giả nhượng bạn: Cày ruộng nhường bờ
Quá khuyết tắc hạ: Qua dinh xuống ngựa
Quá miếu tắc xu: Qua miếu lẹ chân.

Xuất nhập khởi cư : Khi ra vào, lúc đứng ngồi
Phi lễ bất chỉnh: Trái lễ phép thì chẳng tề chỉnh
Ngôn ngữ ẩm thực: Khi nói năng, lúc ăn uống
Phi lễ bất túc: Trái lễ phép thì chẳng nghiêm trang.
Tu thân quả dục: Sửa mình, ít ham muốn
Cần kiệm tề gia: Cần kiệm, tề gia
Cấm chỉ xa hoa: Ngăn ngừa lãng phí
Tu phòng hậu dụng: Nên để dành (tiền của) khi cần đến.
Đắc vinh tu nhục: Được vinh hiển, nghĩ đến lúc nhục
Cư an tư nguy: Được ở yên, phòng bị cơn nguy
Đạo cao đức trọng: Người đạo cao đức trọng
Bất sỉ tệ y: Chẳng thẹn mặc áo cũ rách.

Tích cốc phòng cơ: Chứa thóc phòng khi đói
Tích y phòng hàn: Chứa áo phòng cơn lạnh
Kiệm tắc thường túc: Kiệm ước thường đủ dùng
Tĩnh tắc thường an: Bình tĩnh thường an ổn
Dự bị phòng gian: Đề phòng kẻ gian
Dưỡng tử phòng lão: Nuôi con phòng lúc già.



1-Ăn cháo đái bát
Một ai đó, khi được người khác giúp đỡ thoát khỏi khó khăn, hoạn nạn mà sau đó lại phụ ơn, bội nghĩa thậm chí phản lại ân nhân của mình, thì dân gian thường phê phán, chỉ trích bằng thành ngữ ăn cháo đái bát.
Thí dụ: “Nhà mày trước nghèo đói, nhờ khởi nghĩa được tí ruộng vườn, tí vợ con. Thế mà rồi ăn cháo đái bát.” (Vũ Cao. “Những người cùng làng”).
Thành ngữ ăn cháo đái bát gồm hai vế: vế thứ nhất nói về việc nhận ân nghĩa (ăn cháo), về thứ hai nói về sự bội bạc ân nghĩa đó (đái bát). \/ề thành ngữ này, một số người còn băn khoăn, không hiểu dạng đích thực của nó là ăn cháo đái bát hay ăn cháo đá bát. Thực ra, điều đó chẳng có nghĩa lý gì, bởi vì hành vi đái bát hay đá bát đều biểu thị sự phũ phàng đến thô bạo của người đời. Dĩ nhiên, hành vi đái bát gây ấn tượng mạnh mẽ, nặng nề hơn và phù hợp với cách nói khoa trương, phóng đại mà dân gian vẫn ưa dùng. Hơn nữa, trên thực tế sử dụng, hầu như ta chỉ gặp dạng ăn cháo đái bát mà thôi. Như vậy, chẳng cần biện luận nhiều, chúng ta cũng dễ dàng chấp nhận dạng thức ăn cháo đái bát là dạng đích thực của thành ngữ đang xét. Vấn đề đáng quan tâm hơn là tại sao dân gian lại dùng cụm từ ăn cháo để biểu hiện việc ân nghĩa? Có bao nhiêu thứ khác, quý hiếm hơn, đáng giá hơn sao không được chọn dùng, trong khi đó lại dùng cháo , một thức ăn bậc thấp nhất, để chỉ cái ân cái nghĩa do người khác mang lại? Thông thường cháo là món ăn nhẹ, dễ tiêu thích hợp với người bệnh đuối sức, không ăn được cơm. Bát cháo từ tay người khác mang lại chăm sóc lẽ nào người bệnh chẳng biết nâng niu trân trọng? Lại nữa cháo trong dân gian các cụ bà thường dùng để cúng lễ ở các miếu dưới gốc đa, sau đó ban phát cho trẻ để lấy phước. Vì thế mà có chuyện “cướp cháo gốc (lá) đa”. Khi gặp nạn đói kém nhiều người quẫn bách cơm không có ăn, áo không có mặc, sống thoi thóp trong hoạn nạn, những người có lòng nhân đức thường nấu cháo để phát chẩn, giúp cho người bị nạn bát cháo cầm hơi. Bát cháo cứu giúp con người ra khỏi cái đói đến chết người cũng chẳng đáng ghi lòng tạc dạ hay sao? Một miếng khi đói bằng mót gói khi no là thế! Những điều liên tưởng ở trên cho thấy cách lập ý lập tứ của thành ngữ ăn cháo đái bát vùa cụ thể vùa rất sâu sắc. Với quan niệm sâu kín đó, nhân dân đã khéo léo tạo nên một sự đối lập gắt gao giữa một bên là ân nghĩa với một bên khác là hành vi phụ bạc đến mức thô bạo nhằm toát lên giá trị phê phán của thành ngữ ăn cháo đái bát đối với những kẻ sống không có trước có sau, sống vô ơn bạc nghĩa.
“Cậu nào lấy mất bi đông người ta rồi. Chỉ được cái ăn cháo đái bát, uống cho khỏe vào rồi vất cả bi đông người ta đi”. (Lê Khánh. “Những ngày vui”).
Cùng nghĩa với ăn cháo đái bát, trong tiếng Việt còn có những thành ngữ như qua cầu rút ván, qua sông đấm vào sóng... Tuy vậy, khi sử dụng cần chú ý đến sự khác nhau rất tinh tế về sắc thái ý nghĩa của chúng.

2-có công mài sắt có ngày nên kim :

Lời giáo huấn biểu hiện qua câu tục ngữ có công mài sắt, có ngày nên kim, một mặt, được nhận thức qua ngôn từ của nó mà mấu chốt là sự đối lập giữa hai hình ảnh sắt và kim; mặt khác, thông qua sự liên hệ tới giai thoại về cuộc đời của nhà thơ nổi tiếng đời Đường ở Trung Quốc – nhà thơ Lý Bạch.

Đến như sắt mài mãi cũng thành kim, thì bất cứ việc gì cũng có thể làm được, miễn là chúng ta biết chịu khó khổ luyện, biết kiên trì nhẫn nại, không quản gian lao vất vả. Lời giáo huấn biểu hiện qua câu tục ngữ có công mài sắt, có ngày nên kim, một mặt, được nhận thức qua ngôn từ của nó mà mấu chốt là sự đối lập giữa hai hình ảnh sắt và kim; mặt khác, thông qua sự liên hệ tới giai thoại về cuộc đời của nhà thơ nổi tiếng đời Đường ở Trung Quốc – nhà thơ Lý Bạch.

Tương truyền, thuở niên thiếu, Lý Bạch là cậu bé không chịu khó học hành, ham chơi như bao đứa trẻ bình thường khác. Một hôm, cậu bé chán học, lẻn sang chơi ở chân núi phía Đông. Kỳ lạ quá! Trước mắt cậu bé là một bà lão đang cắm cúi mài một thanh sắt bên một tảng đá lớn. “Bà già tóc bạc đến dường kia mà lại chăm chắm mài một thanh sắt để làm gì nhỉ?” Cậu bé hết sức phân vân, bèn rón rén đến bên cạnh cụ già rồi cất tiếng hỏi:

- Cụ ơi, cụ mài sắt để làm gì vậy?
Bà lão ngoảnh mặt lên, hiền từ trả lời:
- Để làm kim khâu cháu ạ.
- Làm kim khâu ư? Thanh sắt thì làm thế nào mà trở thành cái kim khâu được? Cậu bé chất vấn bà lão.
- Mài mãi cũng phải được. Kẻ có công mài sắt thì có ngày nên kim chứ - Bà lão trả lời một cách tin tưởng như vậy.
Lý Bạch nửa tin nửa ngờ hỏi lại:
- Liệu hôm nay có xong được không hở cụ?
Bà lão thong thả trả lời hoà nhịp với động tác mài kim:
- Hôm nay không xong thì mai lại làm tiếp vậy, năm nay không xong thì sang năm tiếp tục làm, ngày lại ngày, già nhất định mài xong.

Nghe đến đây, Lý Bạch chợt hiểu ra và im lặng. Về nhà Lý Bạch thường ngẫm nghĩ về những lời của bà lão mà càng chuyên tâm học tập. Chẳng bao lâu, Lý Bạch trở thành nhà thơ lỗi lạc với những áng thơ Đường tuyệt mĩ, có một không hai trong nền văn học Trung Quốc. Từ đó, trong dân gian lưu truyền câu tục ngữ “chỉ yếu công phu thâm; thiết chữ ma thành châm” với nghĩa là có công mài sắt, có ngày nên kim. Thoạt đầu, nó như một nhận xét về cuộc đời, văn nghiệp của Lý Bạch: từ chỗ lười học, nhờ sự tỉnh ngộ qua cuộc gặp gỡ với cụ già mà siêng năng, kiên trì học tập và cuối cùng trở thành tài. Nhưng dần dần câu tục ngữ có công mài sắt, có ngày nên kim được lưu truyền rộng rãi, vượt qua phạm vi của một cuộc đời, một sự nghiệp, trở thành một lời dạy, lời giáo huấn mọi người về ý chí bền bỉ trong công việc nói riêng, trong cuộc đời nói chung.

3- đời cha ăn mặn ,đời con khát nước

Hỏi: Kính bạch thầy, con thường nghe người ta nói câu: “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Con chưa hiểu rõ ý nghĩa của câu nói nầy như thế nào? Và nói như thế có trái với luật nhân quả hay không? Kính xin thầy hoan hỷ giải đáp cho chúng con được rõ.


Đáp: Câu nói nầy mới nghe qua, thì dường như có chống trái với luật nhân quả. Vì theo luật nhân quả, ai làm nấy chịu, không thể người nầy ăn mà người khác lại no, hay người nầy uống mà người kia đã khát. Nghiệp quả mình gây, thì mình phải chịu nhận lấy, không ai thay thế cho ai. Thế thì, tại sao ở đây nói, đời cha ăn mặn, đời con khát nước? Câu nói nầy, theo chỗ hiểu của chúng tôi, thì nó nói lên cái tác động ảnh hưởng qua lại trong đời sống gia đình.

Đã sống chung trong một gia đình, tất nhiên, ngoài biệt nghiệp ra, nó còn có sự cộng nghiệp trong đó. Nếu không có sự cộng nghiệp, thì chắc chắn không có sự quan hệ gắn bó tương quan qua tình nghĩa cha con hay vợ chồng. Dù đây là duyên nợ oan gia chằng chịt của mỗi người với nhau trong quá khứ.

Đã nói là cộng nghiệp, thì ít nhiều gì cũng có ảnh hưởng với nhau. Theo biệt nghiệp, thì ai làm nấy chịu. Như cha phạm pháp, thì cha phải chịu tù tội trước luật pháp, không ai có thể thay thế. Tuy nhiên, nếu xét trên bình diện cộng nghiệp, thì việc làm của người cha sẽ gây ra ảnh hưởng đến gia đình rất lớn. Ảnh hưởng tác động qua nhiều phương diện. Như sa sút về phương diện làm ăn, khó khăn trong vấn đề kinh tế gia đình, ảnh hưởng đến sự học hành của con cái về mặt lý lịch, vật chất cũng như tinh thần.

Điều liên hệ ảnh hưởng về việc học hành thi cử nầy, chúng ta thấy rất rõ, sau năm 1975, đa số các con em học sinh trong những gia đình có cha làm sĩ quan cấp lớn thời quốc gia, đều bị đánh rớt vì lý lịch không tốt. Như vậy, việc cha làm có ảnh hưởng cho gia đình và con cái là như thế.

Đó là một cộng nghiệp chung của gia đình phải gánh chịu. Còn người cha bị pháp luật trừng trị hành hạ đó là nghiệp riêng của ông ta. Từ đó suy ra, hành động tốt hay xấu của mỗi thành viên trong gia đình hay trong một đoàn thể, rộng ra là cả quốc gia dân tộc, đều có tác động ảnh hưởng chung. Vì thế mới có những câu nói : “Tốt lá tốt nem, tốt em, tốt chị. Hay ngược lại cũng thế. Hoặc: một người làm xấu cả bọn mang nhơ; một người làm tốt cả bọn được nhờ. Một con sâu làm sầu nồi canh v.v…” Còn và còn rất nhiều những câu nói như thế.

Nếu làm cha mẹ ăn ở không có đạo đức, thì người con dễ bị hư hỏng. Thí dụ trong gia đình, người cha thì hay rượu chè say sưa be bét, còn mẹ thì cũng hay thích chơi bài bạc đỏ đen. Đã vậy, hai người còn xung khắc cãi vã rầy rà với nhau mãi. Cuộc sống giữa hai người không có một chút hạnh phúc. Cả hai đều sống buông thả như thế, thì bảo làm sao con cái trong gia đình nên thân cho được? Bởi cha mẹ thiếu đạo đức, thì làm sao dạy dỗ con cái. Tất nhiên, con cái cũng có cuộc sống bê tha mà thôi. Điều nầy, đã và đang xảy ra nhan nhãn hằng ngày trong xã hội.

Trong cuộc đời tương đối, đôi khi cũng có những trường hợp đặc biệt ngoại lệ. Như cây đắng mà sanh trái ngọt. Có những gia đình, cha mẹ thiếu đạo đức, kém học thức, nhưng có những đứa con rất ngoan hiền, học giỏi đổ đạt thành tài. Những trường hợp ngoại lệ nầy, thật sự mà nói, ta thấy rất ít. Đại đa số, đều tác động chịu ảnh hưởng bởi cộng nghiệp rất lớn.

Tóm lại, câu nói trên, theo tôi, thì không có gì là chống trái với luật nhân quả cả. Vì luật nhân quả, ta phải xét qua nhiều mặt. Không thể xét một cách đơn phương, cục bộ, một chiều được. Bởi lý nhân quả nó tương quan theo ước định của chiều thời gian. Và sự ảnh hưởng qua lại giữa biệt nghiệp và cộng nghiệp đương nhiên là phải có. Đời cha gây ra những hành động xấu, tốt, tất nhiên, phải có ảnh hưởng đến đời con. Nếu đời cha là người ăn ở có đạo đức, hiền từ, có trình độ học vấn kiến thức khá, và có một đời sống cư xử gương mẫu, thì đời con chắc chắn là phải có ảnh hưởng tốt đẹp lây. Trường hợp nầy đã xảy ra nhan nhãn trong xã hội xưa nay.

Ngược lại, nếu người cha là một người kém đạo đức, đời sống bê tha trụy lạc, có nhiều tánh xấu, thì tất nhiên sẽ gây tác động ảnh hưởng đến tánh tình và đời sống của người con rất lớn. Như ăn mặn là nhân mà khát nước là quả. Chính vì cha mẹ ăn ở không có đạo đức mà có thể gây ảnh hưởng hậu quả cho đời con gánh chịu. Đây là nhân quả tương đồng tác động ảnh hưởng bởi cộng nghiệp mà ra.
==
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ Tài, chữ Mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

… Thiện căn là ở lòng ta
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài…

Người gửi tài liệu : Chuongaz
Chuonghanoi@gmail.com




Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.