bài viết trong chuyên mục "tử vi"

12 con giáp năm bính thân 2016 12 cung hoàng đạo chòm sao tử vi tây phương Áo Dài âm dương tổng luận bát trạch bát tự bếp bí ẩn giấc mơ biểu phí bủa trú phù ấn phong thủy Căn duyên tiền định câu chuyện phong thủy câu hỏi hay quan tâm Cầu Tự Pháp - Phép Đặt Bếp Cầu Con cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ Chọn tuổi xông đất chuyện phật giáo chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học khai trương và cúng giao thừa năm Đinh dậu khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lễ hội đền phủ lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nghi nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phật giáo tổng hợp phong thủy 2021 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy tân sửu phong thủy tân sửu 2021 phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH PHONG-THUY-DUONG-TRACH phongthuyviet Quan Họ sao và vận hạn 2021 thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch tu vi 2017 TU-VI-DAU-SO tử bình tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi 12 con giáp từng năm tử vi năm 2021 tử vi tổng hợp tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem bói tổng hợp xem chân gà Xem Mũi biết bệnh xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo Xem tuổi xông nhà xông đất năm 2021 xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn tử vi. Hiển thị tất cả bài đăng

Xem cho biết :
* Coi tuổi năm sanh thuộc vào CUNG, TRỰC, MẠNG con vị ĐẾ nào ?
* Khắc hay hạp, giàu hay ngèo.
BẢNG TÍN­HTUỔI TỬ VI TỪ 1 ĐẾN 90 TUỔI LẬP THÀNH VÀO NĂM ẤT MẸO, NHẰM NĂM 1975 DƯƠNG LỊCH RỒI QUA MỖI NĂM SAU QUÝ VỊ TÍNH LÊN MỘT TUỔI NỮA LÀ ĐÚNG
1975 1 tuổi Ất Mẹo : Cung Ly, Trực Bế, mạng Đại Khê Thủy, khắc Sơn Hạ
Hỏa, con nhà Hắc Đế, phú quý, xương con mèo, tướng tinh tinh con dơi. Nam: Oâng
Quan Đế độ mạng. Nữ: Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1974 2 tuổi Giáp Dần : Cung Cấn, Trực Khai, mạng Đại Khê Thủy, khắc
Sơn Hạ Hỏa, con Nhà Hắc Đế, phú quý, xương con cọp, tướng tinh con trâu. Nam :
Oâng Quan Đế độ mạng, Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1973 3 tuổi Quý Sửu : Cung Tốn, Trực Phá, mạng Tang Đố Mộc, khắc Oác
Thượng Thổ, con nhà Thanh Đế, quan lộc, tận khổ, xương con trâu, tướng tinh con
cua bể, Nam: Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1972 4 tuổi Nhâm Tý : Cung Cấn, Trực Chấp, mạng Tang Đố Mộc, khắc
Oác Thượng Thổ, con nhà Thanh Đế, quan lộc, tân khổ. Xương con chuột tướng tinh
con beo, Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1971 5 tuổi Tân Hợi : Cung Khôn, Trực Khai, mạng Xoa Xuyến Kim, khắc
Đại Lâm Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý, xương con heo tướng tinh con cọp. Nam :
Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1970 6 tuổi Canh Tuất : Cung Khảm, Trực Trâu, mạng Xoa Xuyến Kim,
khắc Đại Lâm Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý, xương con chó tướng tinh cáo. Nam
: Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1969 7 tuổi Kỷ Dậu : Cung Ly, Trực Chấp, mạng Đại Trạch Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc, xương con gà, tướng tinh con thỏ.
Nam và Nữ Phật Quan Âm độ mạng .
1968 8 tuổi Mậu Thân : Cung Cấn, Trực Định, mạng Đại Trạch Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy, con nhà Huỳnh Đế, quan lộc. Xương con khỉ, tướng tinh con
lạc đà. Nam và Nữ Phật Quan Aâm độ mạng.
1967 9 tuổi Đinh Mùi : Cung Đoài, Trực Bình, mạng Thiên Hà Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa, con nhà Hắc Đế, tận khổ, xương con dê, tướng tinh con rồng.
Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1966 10 tuổi Bính Ngọ : Cung Cấn, Trực Mãn, mạng Thiên Hà Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa, con nhà Hắc Đế, tận khổ, xương con ngựa tướng tinh con
thuồng luồng. Nam và Nữ : Phật Quan Âm độ mạng .
1965 11 tuổi Aát Tỵ : Cung Đoài, Trực Ngụy, mạng Phúc Đăng Hỏa, khắc
Xoa Xuyến Kim con nhà Xích Đế, tận khổ. Xương con rắn tướng tinh con trâu Nam
: Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1964 12 tuổi Giáp Thìn : Cung Tốn, Trực Phá, mạng Phúc Đăng Hỏa, khắc
Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Đế, tận khổ, xương con rồng, tướng tinh con rắn.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1963 13 tuổi Quý Mẹo : Cung Ly, Trực Mãn, mạng Kim Bạch Kim, khắc
Lư Trung Hỏa con nhà Bạch Đế, phú quý, xương con mèo, tướng tinh con hươu.
Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng.
1962 14 tuổi Nhâm Dần : Cung Cấn, Trực Trừ, mạng Kim Bạch Kim, khắc
Lư Trung Hỏa con nhà Bạch Đế, phú quý, xương con cọp,tướng tinh con ngựa. Nam
: Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng .
1961 15 tuổi Tân Sửu : Cung Đoài, Trực Thâu, mạng Bích Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc, cô quạnh, xương con trâu,
tướng tinh con đười ươi. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ
mạng.
1960 16 tuổi Canh Tý : Cung Cấn, Trực Thành, mạng Bích Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc, cô quạnh, xương con chuột,
tướng tinh con rắn. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ
mạng .
1959 17 tuổi Kỷ Hợi : Cung Cấn, Trực Định, mạng Bình Địa Mộc, khắc Sa
Trung Kim con nhà Thanh Đế, phú quý. Xương con heo, tướng tinh con gấu. Nam
và Nữ :Phật Quan Âm độ mạng .
1958 18 tuổi Mậu Tuất : Cung Tốn, Trực Bình, mạng Bình Địa Mộc, khắc
Sa Trung Kim con nhà Thanh Đế, phú quý, xương con chó, tướng tinh con vượn.
Nam và Nữ : Phật Quan Aâm độ mạng.
1957 19 tuổi Đinh Dậu : Cung Chấn, Trực Bế, mạng Sơn Hạ Hỏa, khắc
Thích Lịch Hỏa, con nhà Xích Đế, cô quạnh, xương con gà tướng tinh con khỉ. Nam
và Nữ : Phật Quan Aâm độ mạng.
1956 20 tuổi bính thân : cung khôn, trực khai, mạng sơn hạ hỏa, khắc thịch
lịch hỏa, con nhà xích đế, cô quạnh, xương con khỉ tướng tinh con quạ. Nam và nữ :
phật quan âm độ mạng.
1955 21 tuổi Aát Mùi: Cung Khảm, Trực Phá, mạng Sa Trung Kim, khắc
Thạch Lưu Mộc con nhà Bách Đế, an mạng, phú quí. Xương con dê, tướng tinh con
gà. Nam : Oâng Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng .
1954 22 tuổi Giáp Ngọ : Cung Ly, Trực Chấp, mạng Sa Trung Kim, khắc
Thạch Lưu Mộc con nhà Bạch Đế, an mạng, phú quí. Xương con ngựa tướng tinh
con chim trĩ. Nam : Oâng Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng
.
1953 23 tuổi Quí Tỵ : Cung Khôn, Trực Trừ, mạng Trường Lưu Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa con nhà hắc đế, trường mạng. Xương con rắn, tướng tinh con
chó. Nam : Oâng Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng .
1952 24 tuổi Nhâm Thìn : Cung Khảm, Trực Kiên, mạng Trường Lưu
Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, trường mạng. Xương con rồng,
tướng tinh con chó sói. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ
độ mạng.
1951 25 tuổi Tân Mẹo : Cung Ly, Trực Thành mạng Tòng Bá Mộc, khắc
Lộ Bàng Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con mèo tướng tinh con rái.
Nam và Nữ : Phật Quan Aâm độ mạng.
1950 26 tuổi Canh Dần : Cung Cấn, Trực Nguy, mạng Tòng Bá Mộc, khắc
Lộ Bàn Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con cọp tướng tinh con heo.
Nam và Nữ Phật Quan Aâm độ mạng.
1949 17 tuổi Kỷ Sửu : Cung Đoài, Trực Bình, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Xích Đế phú quí. Xương con trâu tướng tinh con cú.
Nam và Nữ Phật Quan Aâm độ mạng.
1948 28 tuổi Mậu Tý : Cung Cấn, Trực Mãn, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huynh Đế, phú quí. Xương con chuột tướng tinh con
chó sói. Nam và Nữ Phật Quan Aâm độ mạng.
1947 29 tuổi Đinh Hợi : Cung Cấn, Trực Nguy, mạng Oác Thượng Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, phú quí. Xương con heo tướng tinh con dơi.
Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng . Nữ :Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1946 30 tuổi Bính Tuất : Cung Tốn, Trực Phá, mạng Oác Thượng Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà huỳnh đế, phú quí. Xương con chó tướng tinh con trâu.
Nam Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1945 31 tuổi Aát Dậu : Cung Chấn, Trực Chấp, mạng Truyền Trung Thủy,
khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, từ tánh, phú quí. Xương con gà tướng tinh
con cua biển. Nam : Oâng Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ
mạng.
1944 32 tuổi Giáp Thân : Cung Khôn, Trực Định, mạng Tuyền Trung
Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, từ tánh phú quí. Xương con khỉ
tướng tinh con heo. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ
mạng.
1943 33 tuổi Quí Mùi : Cung Cấn, Trực Thiên, mạng Đại Lâm Mộc, khắc
Lộ Bàn Thổ con nhà thanh đế, trường mạng. Xương con dê tướng tinh con cọp. Nam
: Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1942 34 tuổi Nhâm Ngọ : Cung Ly, Trực Bế, mạng Đạo Lâm Mộc, khắc Lộ
Bàn Thổ con nhà thanh đế, trường mạng. Xương con ngựa tướng tinh con cáo. Nam :
Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1941 35 tuổi Tân Tỵ : Cung Tốn, Trực Định, mạng Bạch Lạp Kim, khắc
Phúc Đăng Hỏa con nhà Bạch Đế, trường mạng. Xương con rắn tướng tinh con thỏ.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1940 36 tuổi Canh Thìn : Cung Chấn, Trực Bình, mạng Bạch Lạp Kim,
khắc Phúc Đăng Hỏa con nhà bạch đế, trường mạng. Xương con rồng tướng tinh con
lặc đà. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1939 37 tuổi Kỷ Mẹo : Cung Khôn, Trực Bế, mạng Thành Đầu Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, phú quí. Xương con mèo, tướng tinh con
rồng. Nam và Nữ : Phật Quan Aâm độ mạng .
1938 38 tuổi mậu dần : cung khảm trực khai, mạng thành đầu thổ, khắc
thiên thượng thủy con nhà huỳn đế, phú quí. Xương con cọp tướng tinh con thuồn
luồng. Nam và nữ Phật độ mạng .
1937 39 tuổi Đinh Sửu : Cung Ly, Trực Thâu, mạng Gi­an Hà Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế cô quạnh. Xương con trâu tướng tinh con trùn.
Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1936 40 tuổi Bính Tý : Cung Cấn, Trực Thành, mạng Gi­ang Hà Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế cô quạnh. Xương con chuột tướng tinh con rắn.
Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1935 41 tuổi Aát Hợi : Cùng Đoài, Trực Trừ, mạng Sơn Đầu Hỏa, khắc Sa
Trung Kim con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con heo tướng tinh con hươu. Nam :
Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1934 42 tuổi Giáp Tuất : Cung Cấn, Trực Kiên, mạng Sơn Đầu Hỏa, khắc
Sa Trung Kim con nhà Hắc Đế, cô quạnh. Xương con chó tướng tinh con ngựa. Nam
: Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1933 43 tuổi Quí Dậu : Cung Chấn, Trực Thành, mạng Kiếm Phong Kim,
khắc Phúc Đăng Hỏa,con nhà Bạch Đế, phú quí. Xương con gà tướng tinh con đười
ươi. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1932 44 tuổi Nhâm Dần : Cung Khôn, Trực Nguy, mạng Kiếm Phong Kim,
khắc Phúc Khắc Đăng Hỏa, con nhà Bạch Đế, phú quí. Xương con khỉ tướng tinh
con dê. Nam : Oâng Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1931 45 tuổi Tân Mùi : Cung Khảm, Trực Bình, mạng Lộ Bàn Thổ, khắc
Tuyền Trung Thủy con nhà Huỳnh Đế, cô quạnh. Xương con dê tướng tinh con gấu.
Nam và Nữ : Phật độ mạng.
1930 46 tuổi Canh Ngọ : Cung Ly, Trực Mãn, mạng Lộ Bàn Thổ, khắc
Tuyền Trung Thủy con nhà Huỳnh Đế, cô quạnh. Xương con ngựa tướng tinh con
gấu. Nam và Nữ : Phật độ mạng.
1929 47 tuổi Kỷ Tỵ : Cung Cấn, Trực Khai, mạng Đại Lâm Mộc, khắc Đại
Trạch Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con rắn tướng tinh con khỉ. Nam
và Nữ :Phật độ mạng
1928 48 tuổi Mậu Thìn : Cung Đoài, Trực Thâu, mạng Đại Lâm Mộc, khắc
Đại Trạch Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con rồng tướng tinh con
quạ. Na :Phật độ mạng. Nữ Phật Quan Âm độ mạng
1927 49 tuổi Đinh Mẹo : Cung Càn, Trực Chấp, mạng Lư Trung Hỏa, khắc
Kim Phong Kim con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con mèo tướng tinh con gà.
Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1926 50 tuổi Bính Dần : Cung Khảm, Trực Định, mạng Lư Trung Hỏa,
khắc Kim Phong Kim con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con cọp tướng tinh con
chim trĩ. Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ :Bà Chúa NGỌc độ mạng.
1925 51 tuổi Aát Sửu : Cung Tốn, Trực Kiên, mạng Hải Trung Kim, khắc
Bình Địa Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con trâu tướng tinh con chó. Nam :
Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1924 52 tuổi Giáp Tý : Cung Chấn, Trực Bế, mạng Hải Trung Kim, khắc
Bình Địa Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con chuột tướng tinh con chó sói.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1923 53 tuổi Quý Hợi : Cung Cấn, Trực Nguy, mạng Đại Hải Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, quan lộc, tận khổ. Xương con heo tướng tinh
con gà. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1922 54 tuổi Nhâm Tuất : Cung Đoài, Trực Phá, mạng Đại Hải Thủy, khắc
Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, quan lộc, tận khổ. Xương con chó tướng tinh
con chim trĩ. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ
mạng.
1921 55 tuổi Tân Dậu :Cung Càn, Trực Mãn, mạng Thạch Lưu Mộc, khắc
Bímh Thượng Thổ con nhà Thanh Đế, cô quạnh. Xương con gà tướng tinh con chó.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1920 56 tuổi Canh Thân : Cung Khôn, Trực Trừ, mạng Thạch Lưu Mộc,
khắc Bímh Thượng Thổ con nhà Thanh Đế, cô quạnh. Xương con khỉ tướng tinh con
chó sói. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1919 57 tuổi kỷ Mùi : Cung Tốn, Trực Thâu, mạng Thiên Thượng Hỏa,
khắc Sa Trung Kim con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con dê tướng tinh con rái.
Nam và Nữ : Phật Quan Âm độ mạng.
1918 58 tuổi Mậu Ngọ : Cung Chấn, Trực Thành, mạng Thiên Thượng
Hỏa, khắc Sa Trung Kim con nhà Xích Đế, phú quý. Xương con ngựa tướng tinh con
heo. Nam và Nữ : Phật Quan Âm độ mạng.
1917 59 tuổi Đinh Tỵ : Cung Khôn, Trực Trừ, mạng Sa Trung Thổ, khắc
Đại Lâm Mộc con nhà Huỳnh Đế, phú quý. Xương con rắn tướng tinh con cú. Nam
và Nữ :Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1916 60 tuổi Bính Thìn : Cung Khảm, Trực Bế, mạng Sa Trung Thổ, khắc
Đại Lâm Mộc con nhà Huỳnh Đế, phú quý. Xương con rắn tướng tinh con cú. Nam
và Nữ :Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1915 61 tuổi Aát Mẹo : Cung Ly, Trực Bế, mạng Đại Khê Thủy, khắc Sơn
Hạ Hỏa con nhà Hắc Đế, phú quý. Xương con mèo tướng tinh con dơi. Nam : Ông
Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1914 62 tuổi Giáp Dần : Cung Cấn, Trực Khai, mạng Đại Khê Thủy, khắc
Sơn Hạ Hỏa con nhà hắc đế, phú quý. Xương con cọp tướng tinh con trâu. Nam :
Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1913 63 tuổi Quý Sửu : Cung Tốn, Trực Phá, mạng Tang Đố Mộc, khắc Oác
Thượng Thổ con nhà Thanh Đế, quan lộc, tận khổ. Xương con trâu tướng tinh con
cua biển. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1912 64 tuổi Nhâm Tý : Cung Chấn, Trực Chấp, mạng Tang Đố Mộc, khắc
Oác Thượng Thổ con nhà Thanh Đế, quan lộc, tận khổ. Xương con chuột tướng tinh
con beo. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1911 65 tuổi Tân Hợi : Cung Khôn, Trực Khai, mạng Xoa Xuyến Kim,
khắc Đại Lâm Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con heo tướng tinh con cọp.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1910 66 tuổi Canh Tuất : Cung Khảm, Trực Thâu, mạng Xoa Xuyến Kim,
khắc Đại Lâm Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con chó tướng tinh con cáo.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nư : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1909 67 tuổi Kỷ Dậu : Cung Ly, Trực Chấp, mạng Đại Trạch Thổ,khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc. Xương con gà tướng tinh con thỏ.
Nam và Nữ : Phật Quan Âm độ mạng.
1908 68 tuổi Mậu Thân : Cung Cấn, Trực Định, mạng Đại Trạch Thổ,khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc. Xương con khỉ tướng con lạc đà.
Nam và nữ : Phật Quan Âm độ mạng.
1907 69 tuổi Đinh Mùi : Cung Đoài, Trực Bình, mạng Thiên Thượng Thủy,
khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, tận khổ. Xương con dê tướng tinh con
rồng. Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1906 70 tuổi Bính Ngọ : Cung Cấn, Trực Mãn, mạng Thiên Thượng Thủy,
khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Hắc Đế, tận khổ. Xương con ngựa tướng tinh con
thuồng luồng. Nam và nữ Phật Quan Âm độ mạng.
1905 71 tuổi Aát Tỵ : Cung Đoài, Trực Nguy, mạng Phúc Đăng Hỏa, khắc
Xoa Xuyến Kim con nhà Xích Đế, tận khổ. Xương con rắn tướng tinh con trâu. Nam
: Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1904 72 tuổi Giáp Thìn : Cung Tốn, Trực Phá, mạng Phúc Đăng Hỏa, khắc
Xoa Xuyến Kim con nhà Xích Đế, tận khổ. Xương con rồng tướng tinh con rắn.
Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
1903 73 tuổi Quý Mẹo : Cung Ly, Trực Mãn, mạng Kim Bạch Kim, khắc
Lư Trung Hỏa con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con mèo tướng tinh con hươu.
Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ độ mạng.
1902 74 tuổi Nhâm Dần : Cung Cấn, Trực Trừ, mạng Kim Bạch Kim, khắc
Lư Trung Hỏa con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con cọp tướng tinh con ngựa. Nam
: Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ độ mạng.
1901 75 tuổi Tân Sửu : Cung Đoài, Trực Thâu, mạng Bích Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc, cô quạnh. Xương con trâu
tướng tinh con đười ươi. Nam Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Chúa Tiên độ mạng.
1900 76 tuổi Canh Tý : Cung Càn, Trực Thành, mạng bích Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Huỳnh Đế, quan lộc, cô quạnh. Xương con Chuột
tướng tinh con Rắn. Nam Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : bà chúa tiên độ mạng.
1899 77 tuổi Kỷ Hợi : Cung Cấn, Trực Thành, mạng Bích Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Thanh Đế, phú quý. Xương con Chó tướng tinh
con Vượn. Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1898 78 tuổi Kỷ Hợi : Cung Tốn, Trực Bình, mạng Bình Địa Mộc, khắc Sa
Trung Kim con nhà Thanh Đế, phú quý. Xương con Chó tướng tinh con Vượn. Nam
và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1897 79 tuổi Đinh Dậu : Cung Chấn, Trực Bế, mạng Sơn Hạ Hỏa, khắc
Thích Lịch Hỏa con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con Gà tướng tinh con Khỉ. Nam
và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng .
1896 80 tuổi Bính Thân : Cung Khôn, Trực Khai, mạng Sơn Hạ Hỏa, khắc
Thích Lịch Hỏa con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con Khỉ tướng tinh con Quạ.
Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng .
1895 81 tuổi Aát Mùi : Cung Khảm, Trực Phá, mạng Sa Trung Kim khắc
Thạch Lựu Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý, an mạng. Xương con Dê tướng tinh con
Gà. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ độ mạng.
1894 82 tuổi Aát Mùi : Cung Ly, Trực Chấp, mạng Sa Trung Kim khắc
Thạch Lựu Mộc con nhà Bạch Đế, phú quý, an mạng. Xương con Ngựa tướng tinh
con Chim Trĩ. Nam : Ông Quan Đế độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ độ
mạng.
1893 83 tuổi Quý Tỵ : Cung Khôn, Trực Trừ, mạng Trường Lưu Thủy,
khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Huỳnh Đế, trường mạng. Xương con Rắn tướng
tinh con Chó. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ độ mạng.
1892 84 tuổi Nhâm Thìn : Cung Khảm, Trực Kiên, mạng Trường Lưu
Thủy, khắc Thiên Thượng Hỏa con nhà Huỳnh Đế, trường mạng. Xương con Rồng
tướng tinh con chó Sói. Nam : Ông Tử Vi độ mạng. Nữ : Bà Cửu Thiên huyền Nữ
độ mạng.
1891 85 tuổi Tân Mẹo : Cung Ly, Trực Thành, mạng Tòng Bá Mộc, khắc
Lộ Bàn Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con Mèo tướng tinh con Rái.
Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1890 86 tuổi Canh Dần : Cung Cấn, Trực Nguy, mạng Tòng Bá Mộc, khắc
Lộ Bàn Thổ con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con Cọp tướng tinh con Heo.
Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1889 87 tuổi Kỷ Sửu : Cung Đoài, Trực Bình, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Xích Đế, phú quý. Xương con Trâu tướng tinh con Cú.
Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1888 88 tuổi Mậu Tý : cung càn, Trực Nguy, mạng Thích Lịch Hỏa, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Xích Đế, phú quý. Xương con Chuột tướng tinh con
chó Sói. Nam và Nữ : Phật Bà Quan Âm độ mạng.
1887 89 tuổi Đinh Hợi : Cung Cấn, Trực Nguy, mạng Oác Thượng Thổ, khắc
Thiên Thượng Thủy con nhà Hắc Đế, từ tánh, phú quý. Xương con Heo tướng tinh
con Dơi. Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.
1886 90 tuổi Bính Tuất : Cung Tốn, Trực Nguy, Mạng Oác Thượng Thổ,
khắc Thiên Thượng Thủy con nhà Hắc Đế, từ tánh, phú quý. Xương con Chó tướng

tinh con Trâu. Nam : Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Nữ : Bà Chúa Ngọc độ mạng.

Nạp âm Lục thập hoa giáp (1)
Giáp tý, Ất sửu : Hải trung kim

Bởi ngũ hành của tý đối ứng là thủy, thủy còn gọi là hồ lớn, nơi đó thế thủy thịnh vượng. Trong ngũ hành kim tử ở tý, tang mộ ở sửu. Thủy thế thịnh vượng kim lại tử ở đó cho nên gọi là Hải trung kim.



Bính dần, Đinh mão: Lò trung hỏa

Dần ở địa chi là ngôi thứ 3, Mão ở địa chi là ngôi thứ 4, (bính, đinh trong ngũ hành thuộc hỏa) hỏa đã đạt đến vị trí chính lại được dần mão thuộc mộc. Trong ngũ hành trợ giúp. Khi này trời đất phảng phất như lửa trong lò mới sinh, vạn vật vừa mới bắt đầu sinh trưởng mà gọi là Lô Trung hỏa trời đất như lò lửa, âm dương như than củi.



Mậu thìn, Kỷ tỵ: Đại lâm mộc

Thìn đại biểu cho đất đai hoang dã, tỵ đứng ngôi thứ 6 trong địa chi. Mộc ở ngôi thứ 6 có lợi sinh cành lá xum xuê. Cây to xum xuê sinh ở nơi đất đai hoang dã mà gọi là Đại Lâm mộc.



Canh ngọ, Tân mùi: Lộ bàng thổ

Mùi ngũ hành là thổ sinh mộc, khiến cho ngọ ngũ hành là hỏa được thành ra hỏa vượng. Kết quả là thổ ngược lại bị chịu trở ngại. Thổ là nơi sinh vật (mộc), mộc lại sinh hỏa, hỏa phản lại đốt thổ. Cho nên thổ bị chịu hại lấy bản thân giống như đất bụi ven đường mà gọi là Lộ bàng thổ. Lộ bàng thổ nếu được thủy tưới có thể về với thổ mà sinh vạn vật. Nếu được kim giúp thì xây dựng cung điện phú quý một thời.



Nhâm thân, Quý dậu: Kiếm phong kim

Ngũ hành của thân dậu là kim, đồng thời kim trong quá trình sinh trưởng vị trí lâm quan ở thân, đế vượng ở dậu. Kim sinh ra nếu thịnh vượng thì rất cương cứng, sự vật cương cứng không thể vượt qua được lưỡi kiếm, nên gọi là kiếm phong kim.



Giáp tuất, Ất hợi: Sơn đầu hỏa

Tuất hợi là cửa trời ( giáp ất thuộc mộc) đốt lửa soi sáng cửa trời, ánh lửa nhất định chiếu đến cực cao. Cho nên đem nó gọi là lửa trên núi. Nắng chiều tà mặt trời gác núi tỏa sáng lung linh, do đó hỏa trên núi có thể phản ánh được ráng trời.

Sơn đầu hỏa có thể thông với trời nên mệnh này quý và hiển vinh. Nhưng cần núi có mộc, có hỏa không thì ánh lửa khó chiếu đến cửa trời. Ngoài ra lửa ở núi lại sợ thủy, nếu gặp đại hải thủy ( nhâm tuất quý hợi) tương khắc thì hung thần tới nơi.



Bính tý, Đinh sửu: Giản hạ thủy

Thủy ở trong ngũ hành vượng ở tý suy ở sửu. Thủy trong Bính tý đinh sửu thịnh vượng nhưng lại suy yếu. Cho nên không thể thành nước ở sông mà gọi là nước ở khe suối, khi mới thì lăn tăn gợn sóng, tiếp sau là đó hợp thành dòng chảy xiết va vào đá mà tung tóe như hạt tuyết. Cuối cùng hợp với các nhánh thành dòng lớn chảy về hạ lưu. Nước khe núi là nước trong thanh mảnh. Theo như trong sách là thủy được kim thích hợp gặp cát và kim lưỡi kiếm ( giáp ngọ ất mùi sa trung kim, nhâm thân quý dậu kim lưỡi kiếm). Nhưng không gặp được mệnh của thổ và hỏa. Thủy hỏa chẳng dung nạp nhau, thổ lại làm cho nước suối đục. Tốt nhất là gặp (giáp dần ất mão đại khê thủy) tương hợp tượng trưng cho suối nhỏ hợp thành sông càng chảy càng dài không phải lo nghĩ.



Mậu dần, Kỷ mão: Thành đầu thổ

Thiên can mậu kỷ ngũ hành thuộc thổ, dần mão ngũ hành thuộc mộc, giống như tích thổ thành núi, phảng phất như đắp đất thành tường cho nên gọi là đất trên thành.

Kinh đô của hoàng đế cư trú dùng đất đắp thành, lấy gạch xây thành như hình rồng cuốn chạy dài nghìn dặm, mãnh hổ tọa thế trấn bốn phương. Mệnh này gặp nước gặp núi là hiển quy. Trong thành gặp núi gặp nước là núi giả, nước tù không phải là quý. Nên kỵ nhâm tuất quý hợi Đại hải thủy mậu tý kỷ sửu Bích lôi hỏa, Tích lịch hỏa.



Canh thìn, Tân tỵ: Bạch lạp kim

Kim hình thành trong đất mà sau lại ở cùng với hỏa. Tuy hình thái của kim đã bước đầu hình thành nhưng chưa cứng rắn. Cho nên gọi là kim giá đèn. Khi này khí của kim vừa mới phát triển, giao hòa với tinh hoa của mặt trời mặt trăng mà ngưng kết khí của âm dương. Tính chất mới hình thành của kim giá đèn thích thủy như canh thìn tân tỵ gặp ất tỵ trong số mệnh gọi là “ Phong mãnh hổ cách” thi cử học tập có đường đi tốt đẹp. Lại như gặp thủy thì thích gặp ở ất dậu, quý tỵ. Trong số mệnh cho là mệnh quý. Nhưng bởi vì Bạch lạp kim tính yếu cho nên sợ mộc khắc nó trừ khi nó gặp được hỏa yếu cần phải có mộc lại trợ giúp.



Nhân ngọ, Quý mùi : Dương liễu mộc

Mộc tử ở Ngọ mộ tàng ở mùi. Mộc đã tử vong tàng mộ, chỉ có thể mượn thiên can Nhâm quý thủy trong ngũ hành để cứu sống nó. Nhưng rốt cục sức sống mộc vẫn yếu đuối cho nên gọi là gỗ cây liễu. Nó giống như tằm nhả vạn mối dây tơ. Cây dương liễu chỉ thích hợp với Bính tuất đinh hợi thổ, nhưng lại thích thủy, trừ đại hải thủy ra thì đều tốt. Bản tính dương liễu tính mộc yếu đuối gặp hỏa thì dễ chết yểu, đồng thời nếu gặp Canh thìn tân dậu Thạch Lựu mộc sẽ bị cây thạch lựu thịnh vượng áp chế, khiến cho dương liễu mộc một đời bần tiện.



Giáp thân, Ất dậu: Tuyền trung thủy

Kim kiến lộc ở thân, vượng ở dậu. Kim sau khi sinh thịnh vượng đến cực điểm thì dựa vào hỏa để sinh thủy, nhưng thủy khi mới sinh thì ít ỏi, thế lại không vượng cho nên gọi là nước trong suối. Từ nguồn gốc của nó mà nói, có kim thì nguồn thủy không bao giờ dừng. Lấy giáp ngọ ất mùi sa trung kim, canh tuất tân hợi thoa xuyến kim là tốt, gặp thủy gặp mộc cũng tốt. Nếu như trong tứ trụ năm tháng ngày giờ thì năm và giờ trụ đều có thủy, ngày tháng hai trụ đều có mộc như vậy gọi là mệnh đại phú đại quý.



Mậu tý, Kỷ sửu : Bích lôi hỏa

Ngũ hành sửu thuộc thổ, ngũ hành tý thuộc thủy, thủy ở chính vị mà với nạp âm gọi hỏa. Đây là hỏa trong thủy, là thuộc tính rồng thần, cho nên ví nó như lửa sấm sét. Lửa sấm, sét thế như điện chớp biến ảo vô cùng. Bản chất thủy hỏa vốn chẳng bao dung nhau mà nay thủy hỏa hợp nhất, sách xưa cho là một loại rồng thần. Rồng thần khi đến không thể không có gió mưa sấm chớp, do đó Bích lôi hỏa với thủy thổ mộc gặp nhau hoặc tốt hoặc không có hại. Cái kỵ tức là hỏa, bởi vì hai hỏa gặp nhau tính khô nên xấu.



Bính tuất, Đinh hợi: Ốc thượng thổ

Bính đinh ngũ hành thuộc hỏa, tuất hợi như cánh cửa trời. Hỏa đang cháy lại ở trên cao vậy thì thổ tự nhiên không ở bên dưới, cho nên gọi là đất trên mái nhà. Ở đây giải thích không được đúng lắm vì đất trên mái nhà thực tế chỉ là gạch ngói. Tuất hợi như thổ một thủy hòa lại thành bùn, lấy hỏa nung mới thành gạch ngói xây nhà lợp phòng. Đất trên mái nhà đã là gạch ngói, nó là đồ để lợp nhà đương nhiên cần mộc là giá đỡ, sau mới cần kim để trang điểm. Phòng ốc kim huy hoàng là tượng trưng cho đại cát đại quý. Cho nên gặp kim lưỡi gươm, kim trang sức đều là mệnh phú quý. Nhà cửa sợ gặp hỏa hoạn cho nên ốc thượng thổ cũng sợ hỏa. Nhưng thiên thượng hỏa lại rất tốt vì thiên thượng hỏa tượng trưng cho ánh nắng mặt trời.



Canh dần, Tân mão: Tùng bách mộc

Mộc trong ngũ hành trưởng thành ở dần, thịnh vượng ở mão. Mộc thế sinh thịnh vượng không phải loại yếu đuối, cho nên gọi nó là gỗ cây tùng, tích huyết hứng sương che nắng mặt trời, gió thổi qua vi vu như nhạc cụ cành là dao động như lá cờ bay.

Cây tùng là loại cây có sức sống mãnh liệt, cho nên trong hỏa chỉ có Bính dần, đinh mão là lửa trong lò, trong thủy chỉ có Nhâm tuất, quý hợi đại hải thủy mới có thể hại được nó, ngoài ra tất cả đều vô hại. Tùng bách mộc sợ gặp đại lâm mộc, dương liễu mộc, tuy cùng là mộc nhưng chất không giống tùng bách mà sinh lòng đố kỵ. Tùng bách thích gặp kim, gặp nó là đại quý. Ngoài ra còn có một loại mệnh cách gọi là “ Thượng tùng đông tú” tức là ba trụ tháng ngày giờ thuộc đông tức ( Nhâm quý hợi tý thuộc đông). Mệnh cách này là mệnh phú quý.



Nhâm thìn, Quý tỵ : Trường lưu thủy

Thìn trong ngũ hành là nơi tích trữ nước, tỵ trong ngũ hành là nơi sinh kim. Trong ngũ hành kim sợ thủy, kim trong tỵ có hàm chất thủy, bởi vì nơi tích trữ thủy gặp kim sinh thủy, cho nên nguồn thủy liên tục không ngừng mà gọi là nước sông dài. Nước sông dài ở Đông nam lấy yên tĩnh làm quý.

Nước sông dài thế có cuồn cuộn không dừng, kim có thể sinh thủy cho nên nước sông dài gặp kim là tốt. Nó sợ gặp thủy bởi thủy nhiều quá dễ gây úng lụt, đồng thời thổ thủy tương khắc gặp bính tuất đinh hợi canh tý tân sửu thổ thì khó tránh được tai họa, cần phải có kim sinh thủy ở lại ứng cứu. Ngoài ra, thủy hỏa cũng tương khắc nhưng cũng không tuyệt đối hẳn như thế. Nước sông dài gặp giáp thìn, ất hợi tuy giáp thìn và ất hợi có phân là lửa ngọn đèn và lửa trên núi. Nhưng thìn là rồng, rồng lại gặp thủy ý là rồng về biển mệnh,cách ngược lại là cực tốt.



Giáp ngọ, Ất mùi: Sa trung kim

Ngọ là nơi đế vượng của hỏa trong ngũ hành. Hỏa vượng thì kim suy. Mùi là nơi có hỏa vượng suy yếu trong ngũ hành. Hỏa suy yếu kim mới có thể từng bước trưởng thành. Hỏa vừa suy, kim mới có hình, cho nên lực không thể lớn mạnh mà gọi là kim trong cát. Kim trong cát là kim mới bắt đầu hình thành chưa thể dùng được cho nên cần có hỏa để luyện. Nhưng hỏa quá vượng, mà hỏa vượng thì kim bại đồng thời cần phải có mộc lại khắc chế kim, khiến kim không thể tùy tiện mà thịnh suy. Đồng thời phải lấy hỏa trên núi, hỏa dưới núi, hỏa ngọn đèn tính ôn hòa lại luyện nó. Trong số mệnh cho rằng đây là mệnh cục của thiếu niên vinh hoa phú quý. Sa trung kim cần có thủy tĩnh, sơ nếu nước sông dài và nước biển lớn ngược lại đem vùi cát đi. Cho nên cần phối hợp với nước khe núi, nước trong suối và nước trên trời mới tốt. Kim trong cát cũng sợ gặp đất ven đường, cát trong đất và đất vó ngựa, vì sẽ bị nó chôn vùi.



Bính thân, Đinh dậu: Sơn hạ hỏa

Thân là cửa mở xuống dưới đất, dậu là nơi về cửa thái dương. Một ngày đến chỗ đó là dần dần tối đi như mặt trời xuống núi. Cho nên, gọi là lửa dưới núi. Lửa dưới núi thực tế là chỉ mặt trời lúc buổ tối, mặt trời đã xuống núi thì tự nhiên gặp thổ gặp mộc là tốt. Nó là ánh sáng mặt trời vào đêm không thích gặp lửa sấm sét, lửa mặt trời và lửa đèn.



Mậu tuất, Kỷ hợi: Bình địa mộc

Ý nghĩa của mậu là đồng bằng, hợi là nơi sinh ra mộc. Cây sinh ở đồng bằng thì không thể là một quần thể lớn rộng mà chỉ là từng đám cây nhỏ, cho nên gọi nó là cây đồng bằng. Cây đồng bằng thích mưa nhưng không thích sương giá băng tuyết, nó cũng không thích nhiều đất mà cũng không thích rộng rãi, thường bị người chặt phá vì thế nên sợ kim, nếu gặp kim là bất lợi. Nó thích thủy thổ và mộc. Ngoài ra có một loại mệnh quý gọi “ Hàn cốc hồi xuân” tức là người sinh ở mùa đông, trong mệnh lại gặp dần mão. Hai chi này đều thuộc mộc nên gọi là sinh trưởng của cây trong mùa đông cũng là một loại mện quý.



Canh tý, Tân sửu: Bích thượng thổ

Sửu là chính vị của thổ trong ngũ hành. Nhưng tý là nơi thủy trong ngũ hành thịnh vượng. Thổ gặp phải thủy tràn lan mà biến thành bùn, cho nên chỉ có thể đắp đập mà gọi là đất trên tường. Đất trên tường dùng để làm nhà, đầu tiên phải dựa vào xà cột cho nên gặp mộc sẽ tốt, gặp hỏa thì xấu, gặp thủy cũng là mệnh hay nhưng trừ gặp nước biển lớn. Còn với kim thì chỉ thích kim bạc kim.



Giáp thìn, Ất tỵ: Phú đăng hỏa

Thìn là trời đã sáng, tỵ là sắp đến buổi trưa. Mặt trời tỏa sáng thiên hạ không cần phải đốt đèn chiếu sáng, cho nên bị xem là lửa ngọn đèn, ánh sáng của đèn lung linh, cây đèn chiếu sáng đến những nơi mặt trời mặt trăng không thể chiếu sáng tới được.

Lửa ngọn đèn chính là lửa chiếu sáng ban đêm, nó không tách khỏi được với gỗ và dầu. Dầu trong ngũ hành thuộc thủy chi nên ngọn đèn gặp mộc gặp thủy là tốt. Đêm chủ âm do đó lửa ngọn kỵ mặt trời. Lửa ngọn đèn có hai loại mệnh quý, một là “ Che đèn thêm dầu” chỉ lửa ngọn đèn gặp nước dưới giếng nước dưới khe, nước sông dài. Và một loại “ Dưới đèn múa kiếm” chỉ lửa ngọn đèn gặp kiếm phùng kim. Ngoài ra lửa ngọn đèn còn sợ gặp thổ trong ngũ hành chỉ trừ Bính tuất đinh hợi. Đất mái nhà. Nó cũng thích hỏa nhưng trừ lửa sấm sét là lửa rồng thần tất phải có gió thổi làm tắt lửa đèn.



Nhâm dần, Quý mão: Kim bạc kim

Dần mão ngũ hành thuộc mộc, là nơi mộc vượng. Mộc vượng thì kim bị gầy yếu. Kim trong ngũ hành tuyệt ở dần, thai ở mão. Tóm lại Kim ở đây mềm yếu không có lực cho nên gọi là kim loại trang sức.

Mọi người dùng kim bạc kim làm đồ trang sức, người xưa dùng nó để phủ chữ trong các đền chùa và các đồ khí cụ khác, ánh sáng của nó đẹp đẽ tôn quý nguồn gốc của nó là do kim gia công mà thành. Kim bạc kim gặp đất trên thành, đất trên tường mới có cơ hội phát triển. Trong sách nói mệnh kim gặp mậu dần, đất trên thành gọi là “ Viên ngọc núi Côn Sơn”. Quý mão trong kim bạc kim gặp kỷ mão gọi “ Thổ ngọc đông thăng” đều là mệnh quý.



Bính ngọ, Đinh mùi : Thiên hà thủy

Bính đinh thuộc hỏa, ngọ là nơi ngũ hành hỏa vượng nhưng nạp âm gọi thủy. Thủy từ trong hỏa sinh ra cho nên xem như nước trên trời. Nguyên khí lên cao khí thế sung túc hóa thành mây mù rơi xuống thành mưa. Nó có công lao thúc đẩy sự sinh trưởng vạn vật.

Nước trên trời vốn ở trên cao, cho nên kim mộc thủy hỏa thổ ở dưới đất không thể khắc chế được. Duy chỉ có canh tý tân mùi là đất trên tường là tương xung với nó. 



Mậu thân, Kỷ dậu: Đại dịch thổ

Than là quẻ khôn, quẻ khôn trong bát quái ý nghĩa là đất. Dậu là quẻ Đoài, quẻ Đoài ý nghĩa trong bát quái là đầm ao. Mậu kỷ trong ngũ hành thuộc thổ, nó ở trên mặt đất ao hồ giống như bụi bay trong không khí. Cho nên gọi nó là đất dịch chuyển.

Nguyên khí dần dần hồi phục, vạn vật sinh mệnh thu lại đều giống như đất dịch chuyển quay về với mặt đất. Đất dịch chuyển thuộc mệnh cách tương đối cao quý, nó đại biểu cho khuynh hướng quay về với bản tính. Đất chuyển dịch thích nước tương đối thanh tĩnh như nước giếng, nước dưới khe, nước sông dài. Nó cũng thích kim thanh tú như kim trang sức, kim loại trắng. Có một số can chi khí vượng thế mạnh nó gặp phải bị vùi chon như nước biển lớn, lửa trên núi, lử dưới núi, lửa ngọn đèn…Gặp phải lửa sấm sét đành phải dùng thủy hóa giải. Nhưng vật cực tất phản mệnh, cách khắc này ngược lại thành quý.



Canh tuất, Tân hợi: Thoa xuyến kim

Ngũ hành kim suy yếu tại tuất, bệnh tại hợi. kim đã suy yếu lại bệnh, cho nên rất mềm yếu mà gọi kim là trang sức. Kim trang sức là vàng bạc liệu có phú quý không? Không nhất định như vậy. Vạn vật cái quý nhất là được bản tính tự nhiên. Cho nên kim trang sức là vật để đeo trang sức đương nhiên đã bị làm tổn thương. Kim trang sức sợ gặp hỏa, thích gặp nước giếng, nước khe núi, nước trong suối, nước sông dài là tốt. Nhưng sợ gặp nước biển lớn ví như đá rơi đáy biển. Ngoài ra nó còn thích cát trong đất bởi vì thổ có thể sinh kim.



Nhâm tý, Quý sửu: Tang thạch mộc

Ngũ hành tý thuộc thủy, ngũ hành sửu thuộc thổ sinh kim. Thủy có thể làm cho mộc sinh trưởng tươi tốt nhưng kim lập tức có thể chặt nó. Nó giống như cây dây vừa mới sinh trưởng đã bị người ta chặt, cho nên gọi nó là gỗ cây dâu. Quá trình sinh trưởng của cây dâu nếu gặp cát trong đất, đất ven đường, đất chuyển dịch nơi sinh nó thì rất tốt. Gặp nước sông dài, nước dưới khe, nước trong suối sẽ giúp bỏ nó tươi tốt. Nếu gặp Canh dần Tân mão gỗ cây tùng bách, đây gọi là mạnh yếu giúp nhau, gặp gỗ cây liễu người ta gọi “ Dâu liễu thành rừng” là cảnh an cư lập nghiệp. Gặp gỗ rừng lớn giống như nhánh sông gặp dòng sông là rất tốt. Chỉ có gặp gỗ đồng bằng, gỗ cây lựu sẽ bị tàn phá chèn ép là xấu.



Giáp dần, Ất mão: Đại khê thủy

Dần mão thuộc phương Đông, dần là nơi gió đông thịnh vượng. Mão ở chính Đông, nếu nước hướng chảy chính Đông thì tha hồ thỏa thích trên đường tụ hội thành dòng chảy ra sông mà gọi là nước suối lớn. Nước suối lớn cần chảy về biển mà điều quan trọng là chảy lien tục không dứt. Do đó nước suối lớn nên gặp kim sinh thủy giúp. Nếu gặp các loại thổ khác và phải sinh mộc đều không hay. Chỉ có Nhâm tý, Quý sửu là núi, lại gặp nước, trong sách gọi “ Nước chảy quanh núi” mới là cục mệnh quý.



Bính thìn, Đinh tị:Sa trung thổ

Thổ trong ngũ hành mộ ở thin, tuyệt ở tỵ. Bính đinh ngũ hành thuộc hỏa trưởng thành tại thìn, hiển thân tại tỵ. Thổ này ở thế mộ tuyệt nhưng hỏa lại vượng khiến cho nó có thể làm lại mới tât cả. Nó giống như những đốm tro khi đốt bay lên rồi rơi xuống thành thổ, cho nên gọi là cát trong đất. Cát trong đất có kim là quý, lại cần nước trong mà lọc kim ra, cho nên gặp nước gặp kim là quý. Nó thích gặp lửa trên trời có ánh thái dương bãi cát chạy dài cảnh mới đẹp. Nó lại thích gỗ cây dâu cây dương liễu, vì hai loại gỗ này cát mới có thể trồng nó, ngoài ra gặp các loại mộc, khác đều không tốt.



Mậu ngọ, Kỷ mùi: Thiên thượng hỏa

Ngọ là giai đoạn cực thịnh vượng của hỏa trong ngũ hành, mà mùi, kỷ là nơi mộc sinh trưởng khiến cho thế hỏa càng vượng. Hỏa mạnh bốc cao mà gọi lửa trên trời, lửa trên trời là mặt trời nên thích gặp mộc, thủy, kim để điều hòa phối hợp biến hóa khiến cho thủy tưới mộc tươi tốt, mộc giúp hỏa bốc cháy. Nó thích lửa ngọn đèn ngoài ra với các hỏa khác đều tương khắc. Nó lại thích gặp thổ, nếu có kim mộc thì hình thành một mệnh cực quý. Lửa trên trời nếu đơn độc với thủy thì dễ hình thành thủy hỏa tương khắc.



Canh thân, Tân dậu : Thạch Lựu mộc

Thân đại biểu cho tháng 7, dậu đại biểu cho tháng 8. Khi này cây cối đã bắt đầu tàn lụi, chỉ có cây thạch lựu là kết trái mà gọi là canh thân tân dậu là gỗ cây lựu. Thứ cây này vào mùa thu kết trái cho nên tính mộc cứng rắn, với thủy mộc thổ kim qua lại có thể hòa hợp thành tốt. Duy chỉ có nước biển lớn thế thủy ào ạt gặp nó sẽ bần cùng bệnh tật. Có thể gặp lửa trên trời, lửa sấm sét, lửa trong lò cũng tốt, nhưng hỏa ấy sẽ dự báo điềm xấu. Gỗ thạch lựu thường bao hàm mệnh quý như sinh tháng 5 là ngày trụ hoặc giờ trụ lại có mang một hỏa thì gọi “ Thạch lựu phun lửa”. Gỗ gặp cây dương liễu gọi “ Hoa hồng liễu xanh”.



Nhâm tuất, Quý hợi: Đại hải thủy

Thủy trong ngũ hành tại tuất là giai đoạn đã thành thục, tại hợi cũng là giai đoạn thành thục. Do đó thủy ở đây thế lực hùng hậu, đồng thời ngũ hành của hợi thuộc thủy đại biểu ý nghĩa của sông đổ ra biển, cho nên gọi nó là nước biển lớn.

Biển cả mênh mông thế vô cùng tận không có gì có thể so sánh được. Nó là nơi quy tụ của các con sông, cho nên các loại nước trên trời, nước sông dài, nước suối lớn...gặp nước biển lớn đều tốt. Nhâm thìn trong nước sông dài phối hợp với nước biển lớn gọi “ Rồng quay về biển” mệnh này phú quý một đời không ai so nổi.

Trong hỏa nó thích lửa trên trời vì mặt trời mọc ở biển Đông. Trong kim nó thích kim đáy biển, trong mộc nó thích gỗ cây dâu, gỗ cây dương liễu, trong thổ nó thích đất dịch chuyển và đất bên đường. Ngoài ra tất cả đều không chịu nổi nước biển lớn gặp nhau tất sẽ lớn, như nước biển lớn gặp lửa sấm sét tạo thành thế nước sung hãn, phong ba bão táp, mệnh người như vậy một đời lao khổ. Cho nên cần phải có thế núi hùng hậu để trấn giữ biển.



(

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.