bài viết trong chuyên mục "thần tích"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy 2022 phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn thần tích. Hiển thị tất cả bài đăng

Theo GS Ngô Đức Thịnh, một trong những nét độc đáo là màu sắc văn hóa bản địa trong tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ, vô cùng rực rỡ.


Tôn vinh phụ nữ, bất chấp “nam tôn nữ ti” 

Sự manh nha các yếu tố của đạo Mẫu, theo GS Ngô Đức Thịnh, đã có từ khi xuất hiện truyền thuyết về mẹ Âu Cơ. Nó cũng xuất hiện trên nền tảng của việc thờ cúng nữ thần vốn phổ biến trong dân chúng.


“Trên nền tảng của tín ngưỡng thờ nữ thần, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ, một hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi, hình thành và phát triển mạnh mẽ. Từ thế kỷ 16, việc thực hành tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân. Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thờ cúng cùng với các vị thánh mẫu cai quản miền trời, rừng, nước, những nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại có công với nước, với dân”, Cục Di sản cho biết.

Đạo Mẫu, theo ông Thịnh, là đạo tôn vinh các vị nữ thần. Nó cũng có cơ sở là sự đề cao người phụ nữ trong nhiều lĩnh vực. Chẳng hạn, tuy có cái gọi là “nam tôn nữ ti” song truyền thống mẫu hệ vẫn chi phối nhiều gia đình. Người vợ, người phụ nữ vẫn giữ vai trò hàng đầu trong tổ chức và quản lý gia đình, nhất là về phương diện kinh tế. Trong lĩnh vực pháp luật, bộ luật Hồng Đức (1478) cũng đề cao và bênh vực người phụ nữ trong vai trò và quyền lợi. Bộ luật này quy định, trong hôn nhân, chỉ khi người phụ nữ ưng thuận mới được phép kết hôn. Chồng xa nhà quá 5 tháng mà không đi lại thăm hỏi vợ, thì có thể bị mất vợ. Quyền thừa kế của con gái cũng được bảo đảm.

Mặc dù vậy, theo TS Nguyễn Ngọc Mai, Viện Tôn giáo, nhiều nhà nghiên cứu lại thống nhất cho rằng thờ Mẫu chỉ có thể “lên khuôn” vào thế kỷ 17 - 18. Điều này được căn cứ vào nhiều tư liệu, trong đó những sự tương đồng trong hai thể thức múa nghi lễ, cùng với thần tích, ngọc phả về Mẫu Liễu (Phủ Dầy, Nam Định).

Hệ thống thần tiên của Đạo Mẫu

Theo ông Thịnh, Ngọc Hoàng là vị thánh cao nhất trong đạo Mẫu, có ban thờ riêng trong các đền và phủ. Tuy nhiên, vai trò của Ngọc Hoàng trong nghi lễ và thờ cúng, trong tâm thức dân gian thì lại mờ nhạt. Trong khi đó, Mẫu Liễu Hạnh với tư cách Mẫu Thượng Thiên (sáng tạo bầu trời và mây mưa sấm chớp) lại luôn được thờ ở vị trí trung tâm. “Vị thánh xuất hiện khá muộn, sớm nhất cũng vào khoảng thế kỷ 16, thời hậu Lê, nhưng nhanh chóng trở thành vị thần chủ của đạo Mẫu và được tôn vinh hơn tất cả các thánh Mẫu khác”, ông Thịnh đánh giá.

Mẫu Thượng Ngàn lại trông coi miền rừng núi, địa bàn sinh sống chính của nhiều dân tộc thiểu số. Có nhiều truyền thuyết về Mẫu Thượng Ngàn. Chẳng hạn, gắn với di tích đền Bắc Lệ, Lạng Sơn, người ta cho rằng bà là con của Sơn Tinh và Mỵ Nương. Bà thường đi theo cha khắp núi rừng, luôn quyến luyến cây cỏ chim thú. Bà cũng từng báo mộng giúp Lê Lợi tránh hiểm nguy trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.

Mẫu Thoải trông nom sông nước cũng có nhiều nguồn gốc theo các dị bản khác nhau. Trong nghiên cứu hầu đồng của nhà nghiên cứu M.Durand người Pháp, Mẫu Thoải gắn với tình tiết mang tính gia đình thời hiện đại. Theo đó Mẫu Thoải chính là con gái Long Vương tại Động Đình Hồ. Bà rất yêu chồng là hoàng tử Kinh Xuyên, song lại bị vợ hai vu cáo không chung thủy. Kinh Xuyên nhốt bà vào cũi mang thả vào rừng cho thú ăn thịt nhưng chúng lại mang hoa quả về nuôi bà. Sau này được cứu thoát, bà được suy tôn là Mẫu Thoải - Mẹ Nước, lập đền thờ ở Tuyên Quang gọi là đền Giùm.

Sau hàng Mẫu như trên còn có Ngũ Vị Quan Lớn, gọi từ Quan Đệ Nhất đến Quan Đệ Ngũ. Các quan lớn trong văn chầu hay khi giáng đồng thường có tính cách quý phái, hùng dũng, nhân từ, hay làm những việc phúc đức nhưng cũng đáng sợ với người trần.

Đạo Mẫu cũng có các ông Hoàng, gọi theo thứ tự từ Ông Hoàng Đệ Nhất tới Ông Hoàng Mười. Các ông Hoàng đều có gốc tích là con trai Long Thần. Hàng Cô được gọi từ Cô Đệ Nhất tới cô thứ 12 là Cô Bé. Đây là những thị nữ của Thánh Mẫu. Các Cậu Quận là những người chết trẻ, từ 1 - 9 tuổi, hiển linh thành các bé Thánh.

Theo nghiên cứu của Viện Văn hóa, về phương diện điện thần, Đức Thánh Trần cũng được coi là một vị Thánh Tứ phủ. Trong khá nhiều đền, điện của đạo này đều có ban thờ riêng ông cùng với các thuộc hạ. Người con gái là Vương Cô Đệ Nhất và Vương Cô Đệ Nhị được nhập vào hàng Cô của đạo, luôn hầu cận hai bên Thánh Cha.

Đạo Mẫu hay tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ ?

GS Nguyễn Quang Hưng, nguyên Viện trưởng Viện Tôn giáo, cho rằng hoàn toàn có thể chấp nhận cách gọi tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt là đạo Mẫu. Đây cũng là cách GS Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian, đã gọi trong hàng chục năm nay. Bản thân GS Thịnh cũng có một nghiên cứu được in thành sách với tên gọi Đạo Mẫu ở Việt Nam. Tuy nhiên, ông Hưng cho rằng, đây là cách gọi từ góc độ văn hóa chứ không nên hiểu đạo Mẫu là một tôn giáo. Về mặt văn bản pháp luật, ông Hưng cho biết đạo Mẫu chỉ được công nhận như một tín ngưỡng chứ không phải một tôn giáo. Về cách gọi này, GS Ngô Đức Thịnh cho rằng ông sử dụng từ đạo với ý nghĩa là đường để nhấn mạnh ý nghĩa đạo đức của tín ngưỡng này. Ông cũng không coi đó là một tôn giáo. 


Trinh Nguyễn

Theo Thanh Niên

GS Ngô Đức Thịnh cho rằng đạo Mẫu có những vị thánh được “dệt” từ anh hùng trong lịch sử. Bằng cách đó, đạo Mẫu cũng thể hiện chủ nghĩa yêu nước.
 


Một trong những giá trị lớn của đạo Mẫu, theo GS Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia, là thể hiện rất rõ ý thức lịch sử và ý thức xã hội của mình. Điều đó thể hiện ở chỗ trong điện thần của đạo Mẫu, hầu hết các vị thánh đã được lịch sử hóa, tức là đều hóa thân thành những con người có danh tiếng, công trạng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Cũng có cả những nhân vật trong lịch sử hóa thân thành các vị thánh như Trần Hưng Đạo hóa thành Đức Thánh Trần, Nguyễn Xí thành Ông Hoàng Mười, Lê Văn Duyệt thành vị quan có khả năng trừ tà ma…

Có thể thấy việc “dệt” (chữ dùng của GS Ngô Đức Thịnh) một nhân vật lịch sử thành một vị thánh của đạo Mẫu và ngược lại trong nhiều trường hợp. Chẳng hạn, ông Thịnh cho biết, ông Hoàng Đệ Nhất là một danh tướng của Lê Lợi. Ông Hoàng Lục lại là tướng Trần Lựu có công chống giặc Minh. Ông Hoàng Bảy là quan triều đình trấn giữ vùng Lào Cai, Yên Bái. Ông Hoàng Mười lại là tướng Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời vua Lê Thái Tổ.

Những câu chuyện chuyển hóa nhân vật này thường được kể rất đẹp đẽ. Chẳng hạn, Nguyễn Xí có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh, cũng chính là quê mình. Ông được coi là đã chăm sóc cho người dân rất mực. Câu chuyện lịch sử là vậy. Khi trở thành truyền thuyết về ông Hoàng Mười, chuyện kể lúc ông mất, mọi người đang cử hành tang lễ thì trời quang đãng, thi thể ông hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ. Khi di quan, trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời. Gọi là ông Hoàng Mười, không chỉ vì thứ tự, mà còn vì ông đánh giặc giỏi mà văn cũng tài. Ông Hoàng Mười cũng được mô tả như một người văn hay, chữ tốt, giao du rộng và đa tình.

Theo GS Ngô Đức Thịnh, các ông Hoàng trong đạo Mẫu thường đều là con trai Long Thần. Mặc dù vậy, theo khuynh hướng địa phương hóa thì các ông đều gắn với một nhân vật nào đó ở cõi nhân gian, những danh tướng có công dẹp giặc, những người khai sáng, mở mang cho đất nước. Cũng do xu hướng địa phương hóa này mà có một số sai biệt trong điện thần và thờ cúng giữa đền Mẫu ở Nam bộ so với Bắc bộ, vì có thêm các vị thánh địa phương. Chẳng hạn, Lê Văn Duyệt được coi là một vị thánh hàng Quan, có vai trò trừ ma tà như Quan Tuần, Đức Thánh Trần ngoài Bắc.

Chính việc các vị thánh có “lý lịch nhập thế” với công lao gắn liền với lịch sử giữ nước và dựng nước của dân tộc đã tạo cho đạo Mẫu thành một biểu tượng của lòng yêu nước mang đầy tính tâm linh. Cũng vì thế các vị thánh đó đều là các phúc thần, có thể xua đuổi tà ma, mang lại tài lộc sức khỏe cho con người.

Trần Hưng Đạo - Vị nhân thần nổi tiếng nhất

GS Ngô Đức Thịnh nói, vị thần có nguồn gốc anh hùng lịch sử nổi tiếng nhất, có vị trí cao nhất trong đạo Mẫu chính là Đức Thánh Trần - Trần Hưng Đạo. Phủ của ông (Phủ Trần Triều) là một phủ thuần túy mang tính chất nhân thần. Vị nam thần này thường được quy về dòng Long Vương Bát Hải Đại Vương.

Về hàng bậc, có lúc ông được đồng nhất với Vua Cha trong đối sánh với Thần Mẹ. Ngày giỗ và lễ hội kèm theo của ông cũng đồng nhất với ngày giỗ cha “tháng tám giỗ cha” cùng với Bát Hải Đại Vương. Nơi thờ ông ở Kiếp Bạc, có hai ngọn núi xòe rộng ra ôm lấy thung lũng trước mặt ngôi đền là núi Nam Tào và Bắc Đẩu. Như vậy, trong tâm thức dân gian, nghiễm nhiên ông được coi như là Ngọc Hoàng, một Vua Cha cao hơn, trên cả Thánh Mẫu.

Tuy nhiên, theo GS Ngô Đức Thịnh, nếu các vị Vua Cha khác không giáng đồng, thì Đức Thánh Trần lại giáng đồng chuyên để trừ ma tà, cứu chữa con bệnh. Do đó, nó tạo nên hẳn một dòng lên đồng - Thanh đồng. Trong thứ tự giáng đồng của những người có căn Trần Triều thì thường sau khi Mẫu giáng, và trước các vị Thánh hàng Quan.

GS Trần Quốc Vượng đưa ý kiến trong cuốn Đạo Mẫu ở VN, thời nhà Trần, bên cạnh Phật giáo thì Đạo giáo khá thịnh hành. Nhiều người thuộc giới quý tộc, hoàng thân cũng là những đạo sĩ, tín đồ Đạo giáo, trong đó có Trần Hưng Đạo. Từ sau khi chiến thắng giặc Nguyên - Mông, được phong vương, ông quay trở về sống ở Kiếp Bạc, vui thú với cảnh sắc thiên nhiên, làm thuốc chữa bệnh cứu người. Huyền thoại về việc ông dùng ma thuật để trừ tà Phạm Nhan chỉ là sự lịch sử hóa, huyền thoại hóa một thực tế ông là thầy thuốc có tài chữa bệnh. Bởi vậy, sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, danh tiếng và uy tín của ông đã được huyền thoại hóa, khoác ra ngoài cái vỏ tín ngưỡng và lưu truyền mãi về sau, cho tận tới ngày nay.

Theo GS Thịnh, việc Trần Hưng Đạo trở thành một vị thánh trong điện thần Tứ phủ, thậm chí còn đồng nhất ông với Vua Cha trong đối sánh với Thánh Mẫu, cũng không khó hiểu. “Với tư cách là một vị tướng, một đạo sĩ của Đạo giáo, vốn gốc dòng họ gắn với miền sông nước vùng hạ lưu, lại lập những chiến công thủy chiến vang dội, ông dễ dàng được gắn thêm chiếc áo thần linh, quy về dòng thủy thần Long Vương, được thờ phụng cùng với Bát Hải Đại Vương, vị thần chuyên coi vùng sông nước và biển cả”, ông Thịnh phân tích.

Trinh Nguyễn

Theo Thanh Niên

Xuất phát từ thờ nữ thần, qua hiện tượng cung đình hóa, lịch sử hóa và việc phong thần của nhà nước phong kiến, các Mẫu thần, Mẫu Tam phủ, Tứ phủ dần dần hình thành rộng rãi...



Hình minh họa 

Đến với cuộc đời thực

Mẫu có nghĩa là mẹ. Thờ Mẫu nghĩa là thờ mẹ. Đây là điểm rất đáng chú ý, bởi con người Việt Nam từ rất sớm đã lựa chọn hình tượng mẹ để tôn vinh, thờ phụng và ký thác niềm tin.

Ban đầu, người Việt Nam coi tự nhiên như người mẹ và tôn thờ, trải qua thời gian với xu hướng “lịch sử hóa”, “địa phương hóa” và “nhân hóa”, nhân vật Mẫu đã được gắn với nhiều huyền tích có công với nước, thương yêu người dân, thậm chí, gắn với những nhân vật có thật.

Vì thế, xuất hiện việc thờ Mẫu thần là các Vương Mẫu, Quốc Mẫu, Thánh Mẫu như Ỷ Lan, Mẹ Gióng, Thiên Ya Na, Linh sơn Thánh Mẫu - Bà Đen, Bà Chúa Xứ…

Tiếp đó, với sự ảnh hưởng của đạo giáo Trung Hoa, tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện thờ Tam phủ, Tứ phủ (Mẫu Thiên cai quản vùng trời, Mẫu Địa cai quản vùng đất, Mẫu Thoải cai quản vùng sông biển, Mẫu Thượng Ngàn cai quản vùng núi), vì thế, hình ảnh Mẫu còn có ý nghĩa chở che, mang lại những điều tốt lành.

Trong văn hóa Việt, kết tinh đẹp nhất của tín ngưỡng thờ Mẫu là hình ảnh Liễu Hạnh vừa uy nghiêm, vừa nhân từ, trong tư cách là tiên, là người, là thánh.


Hát chầu văn. 

PGS. TS Ngô Đức Thịnh, người đã có công lớn trong nghiên cứu đạo Mẫu Việt Nam đã cho rằng: “Đạo Mẫu chính là một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được tâm linh hóa, tôn thờ đạo Mẫu tức là tôn thờ các anh hùng dân tộc, những người có công với dân, với nước”.

Điều đặc biệt ở đạo Mẫu là hướng về trần thế, thực tại, chứ không phải kiếp sau, phần linh hồn của con người. Đến với đạo Mẫu là đến với thực tại để cầu mong phúc - lộc - thọ. Đến với đạo Mẫu, con người còn tìm đến hình thức diễn xướng độc đáo, tiêu biểu là nghi lễ lên đồng.

Nghi lễ này nguyên hợp nhiều hình thức nghệ thuật, trong đó, nổi bật là lối hát văn độc đáo. Lối hát này làm cho nghi lễ lên đồng sôi động và hấp dẫn nhờ tiếng đàn, trống, nhạc đệm cùng với lời văn gợi lại sự tích, công trạng của các vị thánh và cách trang trí nhân vật, khung cảnh tác động trực tiếp đến người xem, chuyển tải những giá trị văn hóa cổ truyền rất độc đáo của người Việt. 

Mẫu Liễu Hạnh là tiên, là người hay là thánh? 

Căn cứ vào “Quảng Cung linh từ phả ký”, “Quảng Cung linh từ bi ký” và “Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích, danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm, thân thế và sự tích bà Phạm Tiên Nga (Thánh Mẫu Liễu Hạnh) như sau:

Vào đầu thời Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vị Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vị Nhuế (nay là thôn Vi Nhuế, xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con. Từ đó bà có thai.

Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1462) thân phụ của nàng qua đời. Hai năm sau mẫu thân của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng ( nay là thôn La Ngạn. Ở đây có đền thờ Phụ thân và Mẫu thân của Phạm Tiên Nga). Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (Lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

Bà đã ủng hộ tiền của và công sức giúp đân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi (nay chính là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng. Đây cũng chính là con đường nối di tích Phủ Dày với Phủ Quảng Cung.

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dậy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, Bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ thân phụ và thân mẫu.

Sau đó hai năm, Bà tới tu sửa chùa Sơn Trường -ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn - Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá - Bình Lục, Hà Nam.

Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dậy dân trồng dâu, nuôi tằm , dệt vải. Tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1472), Bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế ( nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Rồi trong đêm ngày 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, thời Hồng Đức (1473), trời nổi cơn giông, gió cuốn, mây bay, Bà đã hóa thần về trời. Năm đó Bà vừa tròn 40 tuổi. Ngay sau khi Bà mất, nhân dân xã Vi Nhuế đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Quảng Cung, tôn Bà làm Phúc thần, với Duệ hiệu là “Lê Triều Hiển Thánh, Tầm Thanh Cứu khổ, Tiên Nga tôn thần” ,

Sự tích giáng sinh lần thứ hai, truyền thuyết kể rằng: Vì thương nhớ cha mẹ và quê hương ở cõi trần mà đến thời Lê Thiên Hựu, năm Đinh Tỵ (1557), Phạm Tiên Nga lại giáng sinh lần thứ 2 tại thôn Vân Cát xã An Thái, huyện Thiên Bản (nay là Kim Thái, Vụ Bản , Nam Định, cách quê cũ Vị Nhuế chừng 7 km.

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hòa. Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 (1577). Năm ấy, Bà mới 20 tuổi. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dày, thôn Thiên Hương - Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản , Nam Định.

Có những vị thần là người dân tộc thiểu số 

Theo GS Ngô Đức Thịnh, “trong số khoảng 50 vị thần mà đạo Mẫu tôn thờ, hầu hết là những nhân vật lịch sử, có công với dân tộc”. Nhiều người anh hùng dân tộc được nhân dân thờ trong các phủ như Đức thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng.

Nhiều vị cũng được huyền thoại hóa như ông Hoàng Mười ở Nghệ An. Giáo sư cũng phát hiện ra việc hát văn hầu đồng là một văn hóa độc đáo kết nối giữa người miền xuôi với người miền ngược, trong các vị thần được thờ trong đạo Mẫu có hàng chục vị thần là người các dân tộc thiểu số.

Trong các tôn giáo tồn tại ở Việt Nam thì đa số có nguồn gốc ngoại lai như đạo Nho, đạo Phật hay đạo Lão, riêng đạo Mẫu, theo giáo sư Thịnh: “Đạo Mẫu hoàn toàn là một tôn giáo bản địa, vì trong đạo Mẫu không có vị thần nào có nguồn gốc từ nước ngoài mà toàn bộ các vị thần đều là người Việt Nam và cai quản đất nước Việt Nam”.

Một tôn giáo với hệ thống các vị thần từ thấp đến cao đều là người bản địa, thần linh bản địa được phổ biến khắp nơi và tồn tại lâu đời là một nét văn hóa rất hiếm với bất kỳ quốc gia nào.

Thờ Mẫu là đạo lý, thể hiện những nét đẹp văn hóa truyền thống, là dòng chảy tiếp biến hướng về cội nguồn. Trong xu thế mới, nhân dân vẫn chăm lo hương khói cho Mẫu và vẫn tiếp tục gửi gắm niềm tin về sự phò trợ phúc - lộc - thọ để hướng tới cuộc sống trần thế an vui, đề huề.

Tuy vậy, một số nơi đã xuất hiện nhiều hiện tượng lệch lạc, nhất là cảnh chen lấn cầu phước, đốt nhiều vàng mã, thiếu quy định cụ thể trong quản lý… ảnh hưởng xấu đến nét đẹp văn hóa bản địa mang đặc điểm, phong vị làng xã xưa.

Uyên Na

Theo Pháp Luật Việt Nam

Mẫu Thoải được người dân trong nhân gian tôn thờ là mẹ của sông nước Việt. Tuy nhiên, bên cạnh những huyền tích về Mẫu thoải được tương truyền thì những cuộc tranh cãi của các nhà nghiên cứu về “Xuất xứ của Mẫu Thoải” trong Đạo mẫu Việt Nam cũng là câu chuyện chưa có hồi kết. Ai cũng có lập luận của riêng mình, chính vì lẽ đó mà những bí ẩn về Mẫu thoải vẫn còn là một dấu chấm hỏi còn bỏ ngỏ…




Huyền tích Mẫu Thoải trong dân gian Việt Nam

Kinh Dương Vương tên là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông, vị vua khai sáng ra nước Xích Quỷ (quỷ đỏ). Thuở trời đất mới mở mang, đất đai đang chờ khai phá, vua Kinh Dương Vương đi chu du các nơi.

Một ngày nọ, Kinh Dương Vương còn lấy cô gái chăn dê có nhan sắc tuyệt trần, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân tên là Thần Long rồi sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sau lấy Âu Cơ - con gái của Đế Lai, sinh ra trăm con trai, 50 con lên rừng, 50 con xuống biển.

Vị con trưởng được nối ngôi cha, phong là Hùng Vương. Sử gia Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV bình luận đoạn này như sau: “Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt.

Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao?”

Đến thế kỷ XVII, Kinh Dương Vương đã chính thức được văn hóa dân gian đưa vào thờ làm vị thủy tổ trong đền ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (ngày nay).

Đền thờ Mẫu Thoải có khá nhiều nhưng hầu hết đều do lòng thành kính của nhân dân hoặc do nơi cửa sông cửa biển chứ hầu như không có dấu tích của Mẫu vì Mẫu không giáng trần.

Nổi tiếng nhất có Đền Mẫu Thác Hàn Sơn ở huyện Hà Trung, Thanh Hóa, nơi bến Đò Lèn, còn có Đền Mẫu Thoải ở thị xã Lạng Sơn, gần sông Kì Cùng có ngôi đền ở bến sông Hồng, gần cầu Chương Dương, Gia Lâm cũng tên là Đền Mẫu Thoải hay còn gọi là Đền Cửa Sông.

Mẫu Thoải xuất hiện trong bản hát Chầu…

Trong cõi nhân gian, cõi thủy cung chính là nơi Bát Hải Long Vương cai quản. Mọi việc mưa gió trần gian đều do lệnh chỉ từ Động Đình Hồ. Long Vương Động Đình Hồ có đệ tam công chúa là Xích Lân Long Nữ.

Công Chúa được Vua Cha rất mực yêu quý. Nàng thường ra vào mọi nơi trong thủy cung mà không bị quản thúc. Vua Động Đình Hồ có ý gả công chúa cho Kính Xuyên. Kính Xuyên cũng là dòng dõi lệnh tộc chốn thủy cung.

Sau khi công chúa xuất giá về cửa nhà Kính Xuyên, nàng luôn giữ tròn đạo tiết kính thờ cha mẹ chồng. Đối với chồng thì hết mực mến thương, thuận đạo phu tòng không hề sai khác. Kính Xuyên vốn dòng nho nhã nhưng tính khí lại ưa chơi bời, thường xuyên cùng bạn bè trà tửu mà bỏ bê nghĩa phu thê, lâu ngày chẳng đoái hoài đến công chúa.

Ít lâu sau Kính Xuyên cưới một người vợ lẽ là Thảo Mai. Thảo Mai cũng là người có nhan sắc nhưng lại gian xảo khôn lường. Một hôm nọ, Thảo Mai viết một bức tình thư trá rằng đó là thư của công chúa viết cho tình nhân, không giữ trọn đạo tiết với Kính Xuyên. Kính Xuyên đùng đùng nổi giận từ mặt mà đuổi công chúa đi.

Cha mẹ chồng cũng ít nhiều khuyên can nhưng không được. Vậy là Công Chúa mắc vào dây gieo oan thất tiết mà bị Kính Xuyên sai gia nhân đày lên nơi rừng xanh xa xôi. Lúc bấy giờ, Liễu Nghị là hàn sĩ trên đường lai kinh tái thí thì gặp công chúa và nhận lời giúp công chúa đưa thư về cho “cố quốc”.

Công Chúa liền viết bức thư phong rồi trao cho Liễu Nghị cùng với cây kim thoa tín vật. Xong rồi Liễu Nghị tạ từ công chúa rồi lên ngựa thẳng lối mà đi, bụi vẫn tung mù mà bóng chàng dần dần khuất dạng… Liễu nghị đưa thư về tới Động Đình Hồ, Công Chúa được khải hoàn thủy quốc.

Long Vương liền thiết tiệc khải hoàn đón công chúa và khoản đãi đáp ơn đối với Liễu Nghị. Công Chúa lúc bấy giờ từ trong cung bước ra mà cúi đầu cảm tạ Liễu Nghị. Liễu Nghị quả thực cũng có cảm tình với Công Chúa nay lại thuận duyên nên nghĩa phu thê, chàng bèn cúi đầu mà ưng thuận. Đức Long Vương đứng ra làm chủ hôn cho công chúa và Liễu Nghị .

Thủy cung mở đại tiệc linh đình , khắp nơi vang lời ca tiếng hát, tiêu thiều nhã nhạc. Đức oai danh tiên chúa vang dội khắp nơi, gần xa kính vái. Muôn dân lập đền thờ tôn ngài làm “Thủy cung Thánh Mẫu” - bậc Mẫu Nghi Thiên Hạ.

Những tranh cãi chưa hồi kết về Mẫu Thoải

Trò chuyện với nhà nghiên cứu văn hóa Bùi Trọng Hiền ( Viện Văn hóa – Nghệ thuật Việt Nam) về huyền tích Mẫu Thoải trong nhân gian. Anh Hiền thể hiện sự đồng tình tuyệt đối với những gì mà Tiến sĩ Trần Trọng Dương đã từng phân tích trong “Kinh Dương Vương – ông là ai” đăng trên tạp chí Tia sáng (năm 2013).

Ở đó, Tiến sĩ Trần Trọng Dương cho rằng truyện Kinh Dương Vương có sự sao chép từ tiểu thuyết Liễu Nghị truyện (柳毅傳) do Lý Triều Uy sáng tác vào đời Đường. Đồng thời, Tiến sĩ Trần Trọng Dương nhận định về nguồn gốc của các mô-típ, các nhân vật, cũng như địa danh trong truyện Kinh Dương Vương được chép trong Toàn thư.

Ngô Sĩ Liên đã tình cờ đem một số chi tiết của truyện Liễu Nghị để ghép với các huyền thoại khác như Lạc Long Quân - Âu Cơ, và coi đó như nguồn gốc khởi đầu cho sự xuất hiện của Hùng Vương - triều đại mà người Việt ngày nay coi như lịch sử đích thực của mình.

“Từ những phân tích của Tiến sĩ Trần Trọng Dương, thì có chăng Việt Nam đang tôn thờ một nhân vật trong văn học Trung Quốc được thần thánh hóa trở thành Mẫu của Việt Nam? Nếu thật thì có khác gì chúng ta thờ Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới của Ngô Thừa Ân…” – nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền tỏ thái độ khẳng khái khi nói về tục thờ Mẫu Thoải.

Nhà nghiên cứu văn hóa cũng bày tỏ quan điểm của mình rằng, ngày xưa ở những làng xã tiểu nông, khi tầm nhìn còn hạn hẹp thì người ta thấy cái gì hay người ta thờ. Tuy nhiên, lúc này khi chúng ta đang sống trong kỷ nguyên văn minh chúng ta phải có sự so sánh, nhận định một cách khoa học, bình tĩnh hơn.

Đừng nên vì nghĩ rằng ngày xưa nhân gian tôn thờ cái gì thì có nghĩa bây giờ tất cả những cái đó là đúng. Ngày xưa, có thể nó có tính hợp lý của nó vì là thời phong kiến, trung cổ. Còn ngày nay thì không thể im lặng trước luồng dư luận cho rằng “Chúng ta đang tôn thờ một nhân vật văn học Trung Quốc mãi mãi được”. Chúng ta cần phải làm sáng tỏ nó ra. Và cho dân chúng một câu trả lời chính xác để tránh sự hoài nghi và sự phân tán tư tưởng.

Bên cạnh những hoài nghi ấy, cũng đã có nhiều người đứng ra giải thích nhằm “lấp đầy” những khiếm khuyết về lịch sử như đã trình bày trên.

Tuy nhiên, dường như chưa có một lời giải thích nào thuyết phục để nhằm làm ngưng lại hoàn toàn cuộc tranh luận về Huyền tích Mẫu Thoải. Chính vì lẽ đó mà đến nay những băn khoăn về gốc gác của mẹ tổ sông nước trong tam tòa tứ phủ vẫn là một dấu chấm hỏi chưa hẹn ngày có hồi đáp.

Hoàng Lâm

Theo Pháp luật Việt Nam

Quỳnh hoa công chúa, Quế hoa công chúa là hai vị hầu cận bên Mẫu thượng thiên và Tam tòa thánh mẫu ( hay còn gọi là Chầu Quỳnh, Chầu Quế). Tuy vậy trong nghi thức hầu đồng thì không có Chầu Quỳnh, Chầu Quế.




Cũng có quan điểm cho rằng:

Chầu Quỳnh là Chầu Cửu tỉnh, Chầu được giao coi sóc công việc trong phủ Sòng xứ Thanh, nơi nổi tiếng linh thiêng.

Chầu Quế là Chầu đệ nhất thượng thiên, chầu cùng với Chầu Quỳnh là hai người thân cận nhất bên Mẫu, thường biến hiện, rong chơi khi sơn lâm rừng xanh núi đỏ, khi vào Nam ra Bắc … Chầu anh linh hiển hách, thường giáng phúc trừ tai, thẳng tay trừng trị kẻ gian ác, ban tài tiếp lộc cho người hiền lương. Nơi đâu có đền Mẫu, nơi đó Chầu bà ngự về. Chầu được giao giữ sổ sách Tam Tòa, coi sóc chốn nội cung Phủ Dày _ Nam Định.

Vì vậy Chầu quỳnh, Chầu quế thuộc Thập vị thánh chầu và được thỉnh hầu trong nghi thức hầu đồng.
Theo tích xưa thì Quỳnh hoa công chúa, Quế hoa công chúa là hai tướng của Hai Bà Trưng, sinh ra ở Hà giang, theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa, khi đường cùng thì chạy về quê nhà và tự vẫn ở Sông Lô. Sau hai bà hiển linh và hầu Mẫu Tam Tòa. Được Ngọc Hoàng sắc phong Quỳnh hoa công chúa, Quế hoa công chúa.

Theo Sách Đại nam nhất thống chí, Thần tích Đền Ỷ La và truyền thuyết nhân gian kể lại: xưa có hai nàng công chúa con Vua Hùng là công chúa Phương Dung ( Quỳnh hoa công chúa – Bia văn tại Đền) và công chúa Ngoc Lân ( Mai hoa công chúa ), một hôm theo xa giá đến bờ Sông Lô ( thuộc thôn Hiệp Thuận), nửa đêm mưa to gió lớn, hai nàng đều hóa, nhân dân trong vùng lập Đền thờ. Đến Triều Vua Cảnh Hưng ( 1738) Đền được xây dựng quy mô hơn, Năm 1767 nhân dân xây thêm Đền Thượng ( Đền Sâm Sơn, Đền Núi Dùm) ở phía tả Sông Lô, phía thượng nguồn, thuộc chân núi dùm, thuộc xã Tràng Đà, thành phố Tuyên Quang, thờ Công chúa Ngọc Lân – người em . Đền Hiệp Thuận ở hạ lưu gọi là Đền Hạ Tuyên Quang ( Đền Tam cờ), thuộc tổ 4, phường Tân Quang, thị xã Tuyên Quang, thờ Công chúa Phương Dung - người chị. Theo truyền thuyết hai ngôi Đền có nhiều linh ứng nên từ xa xưa hai nàng được tôn là Thánh Mẫu.

Khi nhà Trần đi qua Sông Lô thấy Miếu ven đường ( Tức Đền Tam Cờ ngày nay và Đền Cấm, Núi Dùm), vào bái yết cầu đảo, được hai bà phù giúp, sau khi thắng trận sắc phong Nhị vị tiên nương Thủy cung công chúa.

Hai bà hầu cận Mẫu Cửu trùng, Tam tòa thánh mẫu, nhân dân tôn xưng là Quỳnh nương, Quế nương công chúa. Hai bà là sự hóa thân của Tam giới: Thiên, Thượng, Thoải, nên môi trường nào thì phong Ngài theo màu sắc của môi trường đó.

Thanh Lam

( Xem thêm tại Page Đạo Mẫu )

Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần là tín ngưỡng dân gian Việt nam, được hình thành từ quá trình thánh hóa, thần hóa một nhân vật có thật trong lịch sử, anh hùng dân tộc Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, ông là vị thánh phù hộ cho sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, hộ quốc an dân, diệt trừ tà ma và chữa bệnh
.

Đức Thánh Trần tên thật là Trần Quốc Tuấn, mất ngày 20/8, ông là con trai thứ của Trần Liễu, anh trai vua Trần Thái Tông ( Trần Cảnh), về gốc tích ra đời của ông dân gian truyền lại, ông chính là Thanh tiên đồng từ trên Thiên Đình phụng lệnh Ngọc Hoàng đầu thai xuống hạ giới mang theo phi thân kiếm, cờ ấn, tam bảo của Lão Tử, Ngũ Tài của Thái Công .Như vậy xét về nguồn gốc nhà Trần cũng xuất phát từ dòng tu tiên Đạo giáo, gốc của pháp Tứ Phủ (Đạo Mẫu) chính là Tam Phủ (Đạo Tiên). Nhà Trần không thuộc Tứ Phủ có lối thờ phụng riêng và phép tắc khác bên Tứ Phủ - nhưng Thần Chủ của Tứ Phủ và của bên Nhà Trần đều thuộc dòng Thiên Tiên - tuân chỉ Ngọc Hoàng Thượng Đế mà giáng phàm để cứu dân độ thế, khuyến Thiện phạt Ác - tuy xuất xứ khác nhau nhưng nhiệm vụ thì là một, vì vậy hiện nay có sự phối thờ Trần triều và tứ phủ.



Tương truyền khi Đức Thánh Trần mất, để tránh sự trả thù của quân Nguyên ông truyền lệnh lập mộ giả ở vườn An Lạc, Bảo Lộc ( Hiện nay tại Bảo Lộc có 1 lăng mộ ghi tên Hưng Đạo Đại Vương nhưng thực chất đó là mộ của 1 viên bộ tướng).

Khi hóa Đức thánh đã về thiên đình nhận chỉ của Ngọc Hoàng phong là Cửu Thiên Vũ Đế, với sứ mệnh diệt trừ yêu ma ở cả 3 cõi thiên đình, trần gian, âm phủ.Theo như vị hiệu thì Đức Thánh ngài Cửu Thiên Vũ Đế - Là Thiên Tinh nên tả Nam Tào, hữu Bắc Đẩu phù cho Thiên Tinh. Dân gian đã gắn hình ảnh hai vị tướng tâm phúc nhất của Đức Thánh Trần là ông Yết Kiêu và ông Dã Tượng vào vị trí phò tà của Đức Thánh Trần , khi sang thế giới bên kia họ sẽ trở thành quan Nam Tào, Bắc Đẩu tiếp tục giúp việc Đức Thánh Trần trong việc cứu dân giúp đời.

Trong hàng thánh nhà Trần có thầy dậy Văn và thầy dậy Võ thể hiện Triều đình nhà Trần trọng tài nên có phối Tự chứ từ thời đức Khổng Tử truyền Đạo Nho cho tới triều Trần thì biết bao nhiêu triều đại Vương Hầu Công Tử đều phải có Thầy dạy mới nên bậc hiền tài chứ không chỉ có triều Trần

Nét đặc sắc khi hầu nhà Trần là phép lên đai thượng, xiên lình, lấy dấu mặn, Đức ông khi thượng đồng xiên lình hai tai và hai lình quân, Tứ vị vương tử ngự đồng lên đai thượng, xiên lình, Vương cô đệ nhị về đồng mang theo cờ kiếm,lấy dấu mặn, Đức ông về chứng. Dấu mặn dùng để chữa bệnh, trị tà, chữa điên, trấn yểm....thường là trấn yểm cho Đền to phủ lớn, trấn những vùng long mạch lớn, nếu dùng máu Thánh để trấn thì khó mà phá được. Phép lên đai thượng, xiên lình, lấy dấu mặn thường chỉ những người căn cao nặng mới hầu được, vì khi lên đai thượng hai người đứng hai bên kéo dây thít chặt vào cổ, mắt ngầu đỏ lộn tròng, mặt hổ phù, nhiều người không phải căn cao mà lên đai thượng chết ngay trên sập hầu. Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng chỉ Đức ông đệ tam mới lên đai thượng vì giống gông xiềng khi bị oan, tuy vậy ý nghĩa thực sự của lên đai thượng là khi lên đai thượng mặt của người hầu sẽ thành mặt hổ phù thể hiện sư uy linh, thần oai của Thánh, vì vậy không chỉ đức ông đệ tam mà tứ vị vương tử khi ngự đồng làm việc đều lên đai thượng, xiên lình. Xiên lình là hình thức của Sa man giáo, ở Việt Nam xiên lình tượng trưng cho những hiện tượng siêu nhiên, thần thông của bề trên, một số người cho rằng xiên lình do đâm vào huyệt đạo nên không chảy máu, nhưng sự thực khi hầu là xiên lung tung trên má, miệng, tai, không cứ vào huyệt đạo mà không chảy một giọt máu, tương tự như vậy, việc lấy dấu mặn, sau khi đạp vỡ, lấy mảnh sành rạch lưỡi phun máu vào bùa, nhưng khi thư hương vào chén rượu ngậm vào máu lập tức ngừng chảy

CÁC VỊ THÁNH NHÀ TRẦN GỒM:

1.Vương phụ - vương mẫu (Vương phụ Khải thánh An Sinh, tặng phong Hiển Hoàng Khâm Minh - Đại vương. Vương mẫu An Sinh phu nhân Thiện Đạo Quốc mẫu )

2. Đức đại vương chính cung (Cửu thiên vũ đế Trần Triều hiển thánh Thái Sư Thượng Phụ Quốc Công bình bắc đại nguyên suý Nhân Vũ Hưng Đạo đại vương thượng thượng thượng đẳng thần): Khi ngự đồng ông mặc áo đỏ thêu rồng, hổ phù, ông làm phép sát quỷ trừ tinh, bóng đức ông khá nặng không phải đồng cựu đội lệnh nhà Trần thì không hầu được.

3. Vương phi phu nhân (Vương Phi Thiên Thành công chúa Nguyên Từ Quốc Mẫu ).Bà mất ngày 28/9

4. Thày dạy văn

5. Thày dạy võ

 6. Quan Nam Tào

 7. Quan Bắc Đẩu

 8. Đức thánh Cả (Trần triều thượng tướng. Khai quốc công Hưng Vũ đại vương Trần Quốc Nghiễn,ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm, ngài ngự đồng lấy dấu máu làm bùa trừ tà sát quỷ chữa bệnh)

9. Đức phó tằng (Trần triều thượng tướng. Tiết độ sứ Hưng Hiến đại vương Trần Quốc Uất, ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm, ngài chuyên bắt tà ma, cắm đất tìm cốt và trị trùng)

10. Đức thánh tam (Trần triều thượng tướng. Khai quốc công Hưng Hiến đại vương, Đệ tam Ông cửa suốt Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm, ngài ngự đồng sát quỷ trừ tà, chữa bệnh)

11. Đức thánh đệ tứ (Trần triều thượng tướng. Khai quốc công Hưng Trí đại vương Trần Quốc Hiện, ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm )

12. Đức tiên cô đệ nhất Quốc Mẫu (Trần triều Vương nữ đệ nhất Quyên Thanh công chúa Trần Thị Trinh, là vợ Vua Trần Nhân Tông, sau này cô theo vua Trần Nhân Tông tu tại Chùa Yên Tử, khi ngự đồng cô mặc áo màu đỏ, đầu đội khăn đóng, dùng khăn đỏ thắt dải buộc lên)

13. Đức tiên cô đệ nhị Đại Hoàng (Trần triều Vương nữ đệ nhị Đại Hoàng công chúa Điện Súy phu nhân Trần Thị Tĩnh, khi ngự đồng cô mặc áo màu vàng, một số nơi hầu cô mặc áo màu xanh, cô làm phép trừ linh tróc tà )

14. Lục Bộ Đức Thánh Ông ( đây là các danh tướng không mang họ Trần nhưng thuộc về công đồng Trần triều, và luôn được phối tự ở các Đền Trần Triều, các hàng lục bộ đều mặc áo đỏ, về bắt tà, đi trên than lửa, lười cày nung nóng) Gồm :

- Điện Tiền Phò Mã Phạm Tướng Quân (Trần Triều vương tế điện suý thượng tướng quân quan nội hầu Phạm sắc phong Chiêu Cảm Hùng Văn đại vương, ngài ngự đồng khăn áo đỏ, ngài về tiễn đàn nhà Trần )

- Tả Yết Kiêu tướng quân ( Tên thật là Phạm Hữu Thế, là tùy tướng của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn, ông có tài bơi lội như loài thủy tộc, Trần Hưng Đạo trọng dụng và đặt tên là Yết Kiêu, ông được vua Trần phong tước Trần triều Hữu tướng đệ nhất bộ đô soái thủy quân tước hầu, lễ hội của ông ngày 15/1)

- Hữu Dã Tượng tướng quân ( ông rất giỏi huấn luyện voi, là tướng giỏi lục quân

- Nghi Xuyên tướng quân - Hùng Thắng tướng quân (Vi Hùng Thắng, được sắc phong tước Quận Công - Huyền Do tướng quân ( Đặng Huyền Quang, tài ba võ nghệ hơn người, được vua Trần thăng tướng quân Thái úy, ông mất ngày 10/10)

15 - Trần triều Vương nữ tôn Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng Hậu (Bà là con gái trưởng của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Là vợ vua Trần Anh Tông. Mẹ đích của vua Trần Minh Tông)

16 - Trần Triều Khống Bắc tướng quân An Nghĩa đại vương ( Nguyễn Chế Nghĩa, ngài văn võ song toàn, đứng đầu ban võ, ngài mất ngày 28/8).

17. Đức Thái Bình công chúa ( Cô là con nuôi của Đức Thánh Trần, có công phục vụ nhà Trần ở vùng Thái Bình, khi ngự đồng cô mặc áo màu xanh

18. Đức Trần Bình Trọng

19. Cô bé cửa suốt (Trần triều Vương ngoại nữ tôn Tịnh Huệ công chúa, là con gái của Phạm Ngũ Lão và là thứ phi của vua Trần Anh Tông, Anh Tông hoàng đế thứ phi. Cô cùng Đức ông Đệ Tam trấn thống lĩnh ba quân thủy binh trấn giữ ngoài Cửa suốt nên gọi là cô bé cửa suốt. Khi ngự đồng cô mặc trang phục màu trắng, múa kiếm và cờ lệnh, ngày tiệc của cô là ngày 2/3 âm lịch)

20. Cậu bé cửa đông ( Hiển thánh vương tôn chủ bộ tướng): Trong hệ thống thờ các vị thánh Trần triều cổ không hề có Cậu bé cửa Đông, khoảng những năm 1990 một số đồng thầy hầu giá cậu bé cửa đông theo lối hầu mới, ghép Tứ phủ với Trần triều trong một buổi ( trước đây Tú phủ và Trần Triều hầu tách các buổi khác nhau), 1 số tài liệu nói cậu là Thánh cậu trấn giữ Cửa đông, 1 số tài liệu nói Cậu là Cậu bé Quận bản Đền trong Đền cửa ông được Đức ông Đệ Tam trao quyền trấn giữ Cửa Đông, cậu được thờ ở 1 ngôi đền Mẫu gần đền cửa ông. 1 số sách cho là cậu là cháu trai của Hưng Đạo Đại Vương, bằng Cô bé Cửa Suốt, tuy vậy tài liệu không nói rõ đó là vị cháu nào của Hưng Đạo Đại Vương.Có giả thiết cho rằng cậu là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản ( là cháu nội vua Trần Thái Tông). Khi ngự đồng cậu mặc áo vàng hoặc trắng, đầu vấn khăn ngang, múa cờ và kiếm

- Ngoài ra còn các vị tướng khác như Trần Sầm, Đỗ Hựu, Đỗ Vỹ, Đỗ Hưng, Nguyễn An, Trần Bách, Đoàn Thại, Nông Thị Tâm, Lâm Văn Cường, Trần Nhật Duật….

 - Cùng chư quan tướng hạ ban Ngũ hổ tướng quân, gồm

Đông phương lưu diện Đại tướng thanh hổ đại thần

Nam phương lưu chỉ Đại tướng xích hổ đại thần

Tây phương lưu tất Đại tướng bạch hổ đại thần

Bắc phương lưu thị Đại tướng khắc hổ đại thần

Trung phương lưu phòng Đại tướng hoàng hổ đại thần

Ngài ngự đồng hiến hương, hiến tửu, hiến đĩa sành, đập đĩa, gầm rú, khám sét bản đền từ trong ra ngoài, thường được hầu bắt tà và tạ bản đền đóng cửa phong ấn

Thanh Lam

( Xem thêm tại Page Đạo Mẫu )

        Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo là một trong những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của du lịch Tam Đảo. Ngoài Đền Bà Chúa Thượng Ngàn nơi đây còn có đền thờ Quốc Mẫu Âu Cơ, chùa Vàng tạo thành một cụm tâm linh Phật - Thánh đầy linh thiêng giữa chồn núi rừng đầy mộng mơ, quanh năm sương trắng. Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo còn gọi là Đền Mẫu Thượng Tam Đảo


        Để đến được cụm tâm linh Phật - Thánh linh thiêng này, ngay dưới chân núi Tam Đảo, km 18, chúng ta còn được chiêm bái ngôi đền thờ Nhị Vị Vương Cô Nhà Trần. Trước khi đến thị trấn Tam Đảo mù sương chừng 2 cây số, chúng ta có thể vảo dâng hương tại đền thờ Trần Hưng Đạo.

        Thần tích đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo

        Vào những năm khoảng đầu thế kỉ 20, chính quyền Pháp đã quyết định cho xây dựng Tam Đảo trở thành một trong những điểm nghỉ mát dành cho những vị quan chức Pháp ở Việt Nam. Bên cạnh việc xây lên những căn biệt thự lộng lẫy, Pháp cũng cho làm những con đường để đi lại được dễ dàng hơn. Vào khoảng thời gian ấy, có một nhà thầu phụ là người Việt Nam đã bỏ tiền của ra để xây dựng lên ngôi đền này. Trải qua các bước thăng trầm của lịch sử, thời gian ngôi đền hiện nay đã tố hảo, tráng lệ giữa bạt ngàn rừng xanh.

Đường lên đền Bà Chúa Thượng Ngàn

       Nơi đây, Bà Chúa Thượng Ngàn được coi là con gái đầu của Quốc  Mẫu Âu Cơ. Đây là một dị biệt về thân thế Mẫu Thượng Ngàn.

        Vài nét về Đền Bà Chúa Thượng Ngàn,  Đền Mẫu Âu Cơ và  Chùa Vàng.

        Sau khi du ngoạn cảnh đẹp của núi rừng Tam Đảo, chúng ta sẽ bước thêm 300 bậc lên lưng chừng đỉnh núi Thiên Thị cao chót vót nơi tọa lạc của cụm du lịch tâm linh. Lối đi có hai hàng tay vịn bê tông cốt thép uốn lượn với những bậc đá quanh co giữa cánh rừng trúc thẳng cao bạt ngàn, thơ mộng, phủ trùm bóng mát khiến ta như lạc vào một cõi thần tiên.


      Đền Bà Chúa Thượng Ngàn có kiến trúc phương Đông ước lệ, mái lợp ngói miểng Thổ Hà, phía trên ngay cửa chánh điện có đắp phù điêu cặp rồng xanh đang giương nanh múa vuốt (lưỡng long tranh chầu). Các cột trụ vuông bốn mặt giả đăng đỉnh (trụ đèn), dọc cột có những hàng chữ Nho.
        Phía sau đền Bà Chúa Thượng Ngàn là đền Quốc Mẫu Âu Cơ. Trước đây, đền Mẫu Âu Cơ nằm ở Phố Đình, trung tâm thị trấn, bị nhà nước phá, một số người dân đem tượng Bà giấu trong đền Chúa. Năm 1992, một bà thương gia giàu có mua mảnh đất nầy, xây đền, đưa tượng Bà qua thờ. Từ đó, với sự phù hộ linh thiêng của Mẫu Âu Cơ người phụ nữ giàu tâm đức ấy ngày càng thêm phát đạt. Đây là câu chuyện tóm tắt về bà thương gia: Bà vốn ở số nhà 11 Hàng Ngang, năm cải tạo bị nhà nước thu gần hết của cải, nhà cửa. Thế rồi một hôm bà nằm mộng thấy Thánh hiện về sai đi tìm lại đền cũ. Khăn gói bí mật bà ra đi một mình, cứ theo mộng mà đi.  Thế nào loanh quanh mò lên tận đất Tam Đảo. Đến 1992 thì bà mua được khu đất này vốn là nền cũ của đền. Bà đã bỏ tiền đứng ra xây dựng lại ngôi đền".


       Đền Quốc Mẫu có bàn thờ vị Đệ nhất vương cô – Đệ nhị vương cô, là hai hầu cận của Bà khi xưa. Bên phải thờ Ngũ vị Tôn Ông. Bên trái thờ Tứ Phủ Thánh Bà, là những người trông coi núi vàng của đất nước. Hậu cung thờ Quốc Mẫu Vua Bà. 
      Giữa sân đền có một cây cột vuông màu trắng cao vút, một mặt khắc dòng chữ: “Nguyện xin hòa bình đến với toàn thể nhân loại trên thế giới”. Ba mặt kia khắc các dòng chữ Nhật, Anh và Pháp cùng một nội dung. Cột nầy do vợ chồng một người Ấn Độ xây tạ ơn Bà đã cho họ một đứa con hằng mong mỏi. Từ đó người ta đồn rằng đền Quốc Mẫu Vua Bà linh thiêng, là nơi cầu xin tình duyên và con cái. Hiện nay, với sự cúng hiến tiền của người hảo tâm, đền đang được xây dựng thêm, khang trang hơn.
     Phía sau đền Quốc Mẫu Vua Bà là Chùa Vàng. Nơi đây có một khoảng sân rộng, nơi trang trọng đặt rất nhiều pho tượng phật đá trắng. Mỗi vị đứng hoặc tọa thiền trong một tư thế khác nhau, vị vui vẻ hiền từ, vị trầm tư ưu sầu cho nhân loại… 

     
       Từ đây có một cầu thang dài 121 bậc đá xanh, hai hàng tay vịn cũng bằng đá xanh chạm khắc hoa văn đẹp mắt dẫn lên. Bốn góc chùa là bốn mái hình đao cong vút, được xây mới vào năm 2010. Đáng chú ý là pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng nặng cả tấn, đội mão dát vàng, tĩnh tọa trên đài sen bằng bạc. Do khúc xạ của ánh sáng nên khách hành hương thấy tượng phật lúc màu vàng, khi màu tím, rồi màu xanh thẫm… 

       Du lịch Tam Đảo

       Quả thực nếu hành hương về Tam Đảo với chốn tâm linh kỳ diệu mà chúng ta không có đôi chút khám phá thiên nhiên, cảnh vật kỳ vĩ nơi đây thì thật là đáng tiếc. 


        Nơi đây có nhà thờ cổ Tam Đảo bằng đá từ thời Pháp hết sức cổ kính mang dáng kiến trúc Gothic nổi tiếng;


        Nơi đây, còn có Thác Bạc mộng mơ luôn tung bọt trắng xóa; tháp truyền hình chót vót trên đỉnh Thiên Thị.


        Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo là một trong những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của du lịch Tam Đảo. Ngoài Đền Bà Chúa Thượng Ngàn nơi đây còn có đền thờ Quốc Mẫu Âu Cơ, chùa Vàng tạo thành một cụm tâm linh Phật - Thánh đầy linh thiêng giữa chồn núi rừng đầy mộng mơ, quanh năm sương trắng. Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo còn gọi là Đền Mẫu Thượng Tam Đảo


        Để đến được cụm tâm linh Phật - Thánh linh thiêng này, ngay dưới chân núi Tam Đảo, km 18, chúng ta còn được chiêm bái ngôi đền thờ Nhị Vị Vương Cô Nhà Trần. Trước khi đến thị trấn Tam Đảo mù sương chừng 2 cây số, chúng ta có thể vảo dâng hương tại đền thờ Trần Hưng Đạo.

        Thần tích đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo

        Vào những năm khoảng đầu thế kỉ 20, chính quyền Pháp đã quyết định cho xây dựng Tam Đảo trở thành một trong những điểm nghỉ mát dành cho những vị quan chức Pháp ở Việt Nam. Bên cạnh việc xây lên những căn biệt thự lộng lẫy, Pháp cũng cho làm những con đường để đi lại được dễ dàng hơn. Vào khoảng thời gian ấy, có một nhà thầu phụ là người Việt Nam đã bỏ tiền của ra để xây dựng lên ngôi đền này. Trải qua các bước thăng trầm của lịch sử, thời gian ngôi đền hiện nay đã tố hảo, tráng lệ giữa bạt ngàn rừng xanh.

Đường lên đền Bà Chúa Thượng Ngàn

       Nơi đây, Bà Chúa Thượng Ngàn được coi là con gái đầu của Quốc  Mẫu Âu Cơ. Đây là một dị biệt về thân thế Mẫu Thượng Ngàn.

        Vài nét về Đền Bà Chúa Thượng Ngàn,  Đền Mẫu Âu Cơ và  Chùa Vàng.

        Sau khi du ngoạn cảnh đẹp của núi rừng Tam Đảo, chúng ta sẽ bước thêm 300 bậc lên lưng chừng đỉnh núi Thiên Thị cao chót vót nơi tọa lạc của cụm du lịch tâm linh. Lối đi có hai hàng tay vịn bê tông cốt thép uốn lượn với những bậc đá quanh co giữa cánh rừng trúc thẳng cao bạt ngàn, thơ mộng, phủ trùm bóng mát khiến ta như lạc vào một cõi thần tiên.


      Đền Bà Chúa Thượng Ngàn có kiến trúc phương Đông ước lệ, mái lợp ngói miểng Thổ Hà, phía trên ngay cửa chánh điện có đắp phù điêu cặp rồng xanh đang giương nanh múa vuốt (lưỡng long tranh chầu). Các cột trụ vuông bốn mặt giả đăng đỉnh (trụ đèn), dọc cột có những hàng chữ Nho.
        Phía sau đền Bà Chúa Thượng Ngàn là đền Quốc Mẫu Âu Cơ. Trước đây, đền Mẫu Âu Cơ nằm ở Phố Đình, trung tâm thị trấn, bị nhà nước phá, một số người dân đem tượng Bà giấu trong đền Chúa. Năm 1992, một bà thương gia giàu có mua mảnh đất nầy, xây đền, đưa tượng Bà qua thờ. Từ đó, với sự phù hộ linh thiêng của Mẫu Âu Cơ người phụ nữ giàu tâm đức ấy ngày càng thêm phát đạt. Đây là câu chuyện tóm tắt về bà thương gia: Bà vốn ở số nhà 11 Hàng Ngang, năm cải tạo bị nhà nước thu gần hết của cải, nhà cửa. Thế rồi một hôm bà nằm mộng thấy Thánh hiện về sai đi tìm lại đền cũ. Khăn gói bí mật bà ra đi một mình, cứ theo mộng mà đi.  Thế nào loanh quanh mò lên tận đất Tam Đảo. Đến 1992 thì bà mua được khu đất này vốn là nền cũ của đền. Bà đã bỏ tiền đứng ra xây dựng lại ngôi đền".


       Đền Quốc Mẫu có bàn thờ vị Đệ nhất vương cô – Đệ nhị vương cô, là hai hầu cận của Bà khi xưa. Bên phải thờ Ngũ vị Tôn Ông. Bên trái thờ Tứ Phủ Thánh Bà, là những người trông coi núi vàng của đất nước. Hậu cung thờ Quốc Mẫu Vua Bà. 
      Giữa sân đền có một cây cột vuông màu trắng cao vút, một mặt khắc dòng chữ: “Nguyện xin hòa bình đến với toàn thể nhân loại trên thế giới”. Ba mặt kia khắc các dòng chữ Nhật, Anh và Pháp cùng một nội dung. Cột nầy do vợ chồng một người Ấn Độ xây tạ ơn Bà đã cho họ một đứa con hằng mong mỏi. Từ đó người ta đồn rằng đền Quốc Mẫu Vua Bà linh thiêng, là nơi cầu xin tình duyên và con cái. Hiện nay, với sự cúng hiến tiền của người hảo tâm, đền đang được xây dựng thêm, khang trang hơn.
     Phía sau đền Quốc Mẫu Vua Bà là Chùa Vàng. Nơi đây có một khoảng sân rộng, nơi trang trọng đặt rất nhiều pho tượng phật đá trắng. Mỗi vị đứng hoặc tọa thiền trong một tư thế khác nhau, vị vui vẻ hiền từ, vị trầm tư ưu sầu cho nhân loại… 

     
       Từ đây có một cầu thang dài 121 bậc đá xanh, hai hàng tay vịn cũng bằng đá xanh chạm khắc hoa văn đẹp mắt dẫn lên. Bốn góc chùa là bốn mái hình đao cong vút, được xây mới vào năm 2010. Đáng chú ý là pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng nặng cả tấn, đội mão dát vàng, tĩnh tọa trên đài sen bằng bạc. Do khúc xạ của ánh sáng nên khách hành hương thấy tượng phật lúc màu vàng, khi màu tím, rồi màu xanh thẫm… 

       Du lịch Tam Đảo

       Quả thực nếu hành hương về Tam Đảo với chốn tâm linh kỳ diệu mà chúng ta không có đôi chút khám phá thiên nhiên, cảnh vật kỳ vĩ nơi đây thì thật là đáng tiếc. 


        Nơi đây có nhà thờ cổ Tam Đảo bằng đá từ thời Pháp hết sức cổ kính mang dáng kiến trúc Gothic nổi tiếng;


        Nơi đây, còn có Thác Bạc mộng mơ luôn tung bọt trắng xóa; tháp truyền hình chót vót trên đỉnh Thiên Thị.


        Cô Bơ Bông là một thánh cô nổi tiếng trong Tứ Phủ Thánh Cô. Đền chính của Cô hiện nay là Đền Ba Bông tại xã Hàn Sơn, Hà Trung, Thanh Hóa. Cô Bơ Bông còn gọi là Cô Ba Hàn Sơn, Cô Bơ Thác Hàn...
        Người viết xin cung cấp cho bạn đọc nhưng điều chưa từng kể về đền Cô để các bạn biết thêm về thần tích, sự linh thiêng của đền Cô và sự hy sinh cao cả của những thủ nhang đồng đền nơi đây.

Cô Bơ Thác Hàn
Tượng Cô Bơ Bông Hàn Sơn

        Sự tích về Đền Cô Bơ Bông

        Vào khoảng năm 1939 - 1940, Đền Bơ Bông đã bị giặc Nhật phá đổ, đốt tượng. Lúc đó, cụ Nguyễn Trọng Khanh là thủ nhang của đền đã bí mật cứu gỡ được một số bài vị, bát hương, đỉnh thờ và pho tượng cô đem giấu đi. Sau đó ít ngày, Cụ đã xin giặc Nhật cho lập đền thờ Trần Hưng Đạo ở khu bãi bồi bên sông cách đền cũ chừng 200 m.  Cụ nói tránh là lập đền thờ Trần Hưng Đạo chứ thực chất là lập dựng lại đền Cô. Nơi dựng đền cô lúc đó chỉ toàn lau lách. Dưới sự quyết tâm của Cụ và bà con làng xóm, một ngôi đền 3 gian bằng tre nứa lá đơn giản đã được xây dựng.

Cô Bơ Hàn Sơn
Phối cảnh đền cô Bơ Bông đang được xây dựng hiện nay
        Sau đời cụ Nguyễn Trọng Khanh là cụ Nụ làm thủ nhang. Cụ Nụ có công rất lớn trong việc tôn tạo lại đền. Nghe nói quê cụ tận Khoái Châu, để có kinh phí xây dựng lại đền cụ đã về quê bán hết nhà cửa ruộng đất để xây dựng được ngôi đền gạch, lợp ngói 5 gian. Cụ mất vào khoảng năm 1994 - 1995. Cụ đã được nhân dân quanh vùng đưa rước rất lớn. Hiện ngôi mộ cụ được nhân dân, xây dựng tu bổ rất hoành tráng ngay tại nghĩ trang Hàn Sơn.
        Năm 1996, ngôi đền được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc Gia. Như vậy, ngôi đền được như ngày nay là công sức đóng góp, sự hy sinh cao cả của hai cụ thủ nhang: Cụ Trọng và cụ Nụ. 
       Hiện nay, khu đất cũ của đền Cô mà đã bị giặc Nhật phá đã có người dân xây dựng 3 gian nhà ngói để ở. Nhưng nghe đâu, miếng đất nơi đền cũ linh thiêng không ở được. Người ở đó đã bỏ lại ngôi nhà chỉ để dành thắp hương cho cô và đi kiếm ăn nơi xa.

        Thần tích về Cô Bơ Bông

        Theo cuốn "Lê Triều Thần Phả Ngoại Biên" được lưu giữ tại Thái Miếu họ Lê có ghi chép về thần tích cô Bơ Bông tóm tắt như sau:
        Vào khoảng năm 1432, vua Lê Lợi có một đêm mộng thấy một nữ thủy thần báo mộng: "Ta là con gái vua Thủy tề đây. Nhà vua còn nhớ là nợ ta một lời hẹn ước hay không? Bây giờ nghiệp đế vương đã thành sao chưa thấy trả". Vua Lê Lợi giật mình tỉnh dậy mới nhớ lại chuyện cũ. Ngày xưa, vào những năm đầu khởi nghĩa, Lê Lợi bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp cô gái xinh đẹp, đoan trang đang tỉa ngô được cô cứu thoát.
        Vua Lê Lợi để tỏ biết ơn cô, có nói với cô rằng: " Ta có một cháu trai tuấn tú, khôi ngô, văn võ song toàn. Sau này kháng chiến thành công ta sẽ gả cháu ta cho cô." Người mà Lê Lợi nhắc đến chính là tướng quân Lê Khôi, cháu trai của Lê Lợi (Tướng Lê Khôi chính là một trong các hiện thân của Quan Hoàng Mười được thờ tại đền Củi ngày nay). Cô gái ấy chính là hiện thân của Cô Bơ.
       Tương truyền rằng, sau thắng lợi, Vua Lê Lợi có quay lại tìm cô gái nhưng không thấy. Như vậy lời hứa gả cô cho tướng Lê Khôi đã không được thực hiện.
        Sau giấc mơ, biết cô gái tỉa ngô nơi xưa chính là con gái vua thủy tề, hiện thân lên cõi trần để giúp vua xây dựng nghiệp lớn, vua Lê Lợi đã phong cô là "Thượng Đằng Thần" và cho xây dựng đền Cô, để tưởng nhớ công lao của Cô.

        Thần tích về Cô Bơ Bông đã công bố

         Người viết cũng xin cung cấp thêm với bạn đọc một số thần tích đã công bố để bạn đọc tham khảo:

       Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi (có sách nói là Lê Lai) bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cũng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đo không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi. Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình phong công và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh.
        Người ta cho rằng, Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, đến chí kì mãn hạn thì có xe loan lên đón rước cô về Thủy Cung. Sau đó cô hiển linh giúp dân chúng ở vùng ngã ba sông, độ cho thuyền bè qua lại được thuận buồm xuôi gió vậy nên cô còn có danh hiệu là Cô Bơ Bông (do tích cô giáng ở ngã ba sông) hay Cô Bơ Thác Hàn (theo tên gọi ở nơi quê nhà). Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi nơi Cô Bơ luôn giá ngự về đồng, già trẻ, từ đồng tân đến đồng cựu, hầu như ai cũng hầu về Cô Bơ Bông. Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh. Vì theo quan niệm nguyên xưa Cô Bơ Bông hầu cận Mẫu Thoải, lại theo sự tích nơi quê nhà cô là ở đất Hà Trung, Thanh Hóa, ngã ba Bông bến đò Lèn nên đền cô được lập ở đó, gần đền Mẫu Thác Hàn (chính là Mẫu Thoải), gọi tên là Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây đường đi vào rất khó khăn, nhưng hiện giờ đã được tu sửa nên giao thông đã dễ dàng hơn".
      
      Một huyền tích khác về Cô Ba Thoải Cung Hàn Sơn

      "Theo huyền sử, vào khoảng những năm đầu đại Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tông (1460- 1497), thái úy Lê Thọ Vực sau khi lập được nhiều công trạng được vua phong chức “Bình Trương Quân Quốc Trọng Sự”, rồi đến chức “Sùng Quốc Công”, giao chấn giữ biên ải Ba Bông “Rừng thiêng nước độc”. Trong một trận giao tranh ác liệt kéo dài, không phân thắng bại mà tình thế rất nguy cấp. Đêm hôm ấy, danh tướng đã mơ thấy một người con gái mặc xiêm y trắng trên mây giáng xuống ngã Ba Bông, rẽ nước bước lên kiệu võng mà nói rằng: “Hãy lui quân về Nhị Sơn hạ thủy mà vây hãm, lên núi Thạch Bàn mà cầu Mẫu thoải tất ứng linh”. Theo lời, danh tướng dẫn quân xuôi về Chí Thủy (Thác Hàn Sơn bây giờ) dâng lễ cầu Mẫu rồi bố trí quân binh mai phục. Ứng báo của Mẫu cho kế phá giặc là lấp đá chặn dòng, lấy thủy triều dâng, làm nghi binh nhử giặc vượt qua bãi đá ngầm, khi nước thủy triều xuống thì tổng lực phản công, thuyền giặc rút chạy bị vấp vào bãi đá ngầm, lật nhào chìm đắm rất nhiều, quân mai phục đổ ra đánh úp, quân giặc chết nhiều vô kể và thất bại thảm hại, không còn dám quấy nhiễu nữa. (Dấu tích bãi đá ở Thác Hàn vẫn còn cho đến ngày nay).
      "Thác Hàn Sơn lừng lẫy chiến công, nức tiếng muôn phương, oanh liệt một thời. Người con gái trong kiệu võng về báo mộng cho tướng quân Lê Thọ Vực đêm hôm ấy chính là con gái Ngọc Hồng thượng đế (Công chúa Mai Hoa) mà nay gọi là Cô Ba hay Cô Bơ thoải phủ đền Ba Bông. Còn người báo mộng hiến kế để tướng quân Lê Thọ Vực phá giặc là “Đệ Tam Thủy Tiên Thánh Mẫu Bạch Ngọc Hồ Trung Xích Thủy Tinh Xích Lân Long Nữ” hay còn gọi là Mẫu Đệ Tam, Mẫu Thoải, Mẫu Hàn Sơn đều là một. Để đáp lại ân đức của thánh thần, tướng quân Lê Thọ Vực tâu vua, vua Lê cho lập đền thờ Cô Ba ở bờ bãi bồi Ba Bông hiện nay. Đền thờ Đệ Tam Thánh Mẫu ở non cao Thạch Bàn thác Hàn Chí Thủy (về sau mới di dời xuống bên sông để nhân dân thuận lợi việc thăm viếng). Nhớ ơn công đức của tướng quân Lê Thọ Vực, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ngay phía dưới trước đền Mẫu, được tách rời bởi sân Đại Bái (Từ đó đến nay vẫn giữ nguyên sự sắp xếp đó).

     Ngày tiệc Cô

     Ngày 12.6 âm lịch là ngày rước Cô lên đền Mẫu. Nhưng ngày mất của Cô tương truyền là ngày 8/2. Nhiều nơi vẫn làm ngày tiệc Cô vào 8/2. Tuy vậy, để kỷ niệm ngày rước Cô lên đền Mẫu được coi là chính tiệc của Cô.

    ( Xin cảm ơn bạn Lê Văn Sĩ - phụng thánh tại thành phố Thanh Hóa, một đệ tử của Cô Bơ Bông đã cung cấp tư liệu cho bài viết này).
       
   

        Cô Bơ Bông là một thánh cô nổi tiếng trong Tứ Phủ Thánh Cô. Đền chính của Cô hiện nay là Đền Ba Bông tại xã Hàn Sơn, Hà Trung, Thanh Hóa. Cô Bơ Bông còn gọi là Cô Ba Hàn Sơn, Cô Bơ Thác Hàn...
        Người viết xin cung cấp cho bạn đọc nhưng điều chưa từng kể về đền Cô để các bạn biết thêm về thần tích, sự linh thiêng của đền Cô và sự hy sinh cao cả của những thủ nhang đồng đền nơi đây.

Cô Bơ Thác Hàn
Tượng Cô Bơ Bông Hàn Sơn

        Sự tích về Đền Cô Bơ Bông

        Vào khoảng năm 1939 - 1940, Đền Bơ Bông đã bị giặc Nhật phá đổ, đốt tượng. Lúc đó, cụ Nguyễn Trọng Khanh là thủ nhang của đền đã bí mật cứu gỡ được một số bài vị, bát hương, đỉnh thờ và pho tượng cô đem giấu đi. Sau đó ít ngày, Cụ đã xin giặc Nhật cho lập đền thờ Trần Hưng Đạo ở khu bãi bồi bên sông cách đền cũ chừng 200 m.  Cụ nói tránh là lập đền thờ Trần Hưng Đạo chứ thực chất là lập dựng lại đền Cô. Nơi dựng đền cô lúc đó chỉ toàn lau lách. Dưới sự quyết tâm của Cụ và bà con làng xóm, một ngôi đền 3 gian bằng tre nứa lá đơn giản đã được xây dựng.

Cô Bơ Hàn Sơn
Phối cảnh đền cô Bơ Bông đang được xây dựng hiện nay
        Sau đời cụ Nguyễn Trọng Khanh là cụ Nụ làm thủ nhang. Cụ Nụ có công rất lớn trong việc tôn tạo lại đền. Nghe nói quê cụ tận Khoái Châu, để có kinh phí xây dựng lại đền cụ đã về quê bán hết nhà cửa ruộng đất để xây dựng được ngôi đền gạch, lợp ngói 5 gian. Cụ mất vào khoảng năm 1994 - 1995. Cụ đã được nhân dân quanh vùng đưa rước rất lớn. Hiện ngôi mộ cụ được nhân dân, xây dựng tu bổ rất hoành tráng ngay tại nghĩ trang Hàn Sơn.
        Năm 1996, ngôi đền được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc Gia. Như vậy, ngôi đền được như ngày nay là công sức đóng góp, sự hy sinh cao cả của hai cụ thủ nhang: Cụ Trọng và cụ Nụ. 
       Hiện nay, khu đất cũ của đền Cô mà đã bị giặc Nhật phá đã có người dân xây dựng 3 gian nhà ngói để ở. Nhưng nghe đâu, miếng đất nơi đền cũ linh thiêng không ở được. Người ở đó đã bỏ lại ngôi nhà chỉ để dành thắp hương cho cô và đi kiếm ăn nơi xa.

        Thần tích về Cô Bơ Bông

        Theo cuốn "Lê Triều Thần Phả Ngoại Biên" được lưu giữ tại Thái Miếu họ Lê có ghi chép về thần tích cô Bơ Bông tóm tắt như sau:
        Vào khoảng năm 1432, vua Lê Lợi có một đêm mộng thấy một nữ thủy thần báo mộng: "Ta là con gái vua Thủy tề đây. Nhà vua còn nhớ là nợ ta một lời hẹn ước hay không? Bây giờ nghiệp đế vương đã thành sao chưa thấy trả". Vua Lê Lợi giật mình tỉnh dậy mới nhớ lại chuyện cũ. Ngày xưa, vào những năm đầu khởi nghĩa, Lê Lợi bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp cô gái xinh đẹp, đoan trang đang tỉa ngô được cô cứu thoát.
        Vua Lê Lợi để tỏ biết ơn cô, có nói với cô rằng: " Ta có một cháu trai tuấn tú, khôi ngô, văn võ song toàn. Sau này kháng chiến thành công ta sẽ gả cháu ta cho cô." Người mà Lê Lợi nhắc đến chính là tướng quân Lê Khôi, cháu trai của Lê Lợi (Tướng Lê Khôi chính là một trong các hiện thân của Quan Hoàng Mười được thờ tại đền Củi ngày nay). Cô gái ấy chính là hiện thân của Cô Bơ.
       Tương truyền rằng, sau thắng lợi, Vua Lê Lợi có quay lại tìm cô gái nhưng không thấy. Như vậy lời hứa gả cô cho tướng Lê Khôi đã không được thực hiện.
        Sau giấc mơ, biết cô gái tỉa ngô nơi xưa chính là con gái vua thủy tề, hiện thân lên cõi trần để giúp vua xây dựng nghiệp lớn, vua Lê Lợi đã phong cô là "Thượng Đằng Thần" và cho xây dựng đền Cô, để tưởng nhớ công lao của Cô.

        Thần tích về Cô Bơ Bông đã công bố

         Người viết cũng xin cung cấp thêm với bạn đọc một số thần tích đã công bố để bạn đọc tham khảo:

       Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi (có sách nói là Lê Lai) bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cũng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đo không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi. Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình phong công và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh.
        Người ta cho rằng, Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, đến chí kì mãn hạn thì có xe loan lên đón rước cô về Thủy Cung. Sau đó cô hiển linh giúp dân chúng ở vùng ngã ba sông, độ cho thuyền bè qua lại được thuận buồm xuôi gió vậy nên cô còn có danh hiệu là Cô Bơ Bông (do tích cô giáng ở ngã ba sông) hay Cô Bơ Thác Hàn (theo tên gọi ở nơi quê nhà). Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi nơi Cô Bơ luôn giá ngự về đồng, già trẻ, từ đồng tân đến đồng cựu, hầu như ai cũng hầu về Cô Bơ Bông. Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh. Vì theo quan niệm nguyên xưa Cô Bơ Bông hầu cận Mẫu Thoải, lại theo sự tích nơi quê nhà cô là ở đất Hà Trung, Thanh Hóa, ngã ba Bông bến đò Lèn nên đền cô được lập ở đó, gần đền Mẫu Thác Hàn (chính là Mẫu Thoải), gọi tên là Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây đường đi vào rất khó khăn, nhưng hiện giờ đã được tu sửa nên giao thông đã dễ dàng hơn".
      
      Một huyền tích khác về Cô Ba Thoải Cung Hàn Sơn

      "Theo huyền sử, vào khoảng những năm đầu đại Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tông (1460- 1497), thái úy Lê Thọ Vực sau khi lập được nhiều công trạng được vua phong chức “Bình Trương Quân Quốc Trọng Sự”, rồi đến chức “Sùng Quốc Công”, giao chấn giữ biên ải Ba Bông “Rừng thiêng nước độc”. Trong một trận giao tranh ác liệt kéo dài, không phân thắng bại mà tình thế rất nguy cấp. Đêm hôm ấy, danh tướng đã mơ thấy một người con gái mặc xiêm y trắng trên mây giáng xuống ngã Ba Bông, rẽ nước bước lên kiệu võng mà nói rằng: “Hãy lui quân về Nhị Sơn hạ thủy mà vây hãm, lên núi Thạch Bàn mà cầu Mẫu thoải tất ứng linh”. Theo lời, danh tướng dẫn quân xuôi về Chí Thủy (Thác Hàn Sơn bây giờ) dâng lễ cầu Mẫu rồi bố trí quân binh mai phục. Ứng báo của Mẫu cho kế phá giặc là lấp đá chặn dòng, lấy thủy triều dâng, làm nghi binh nhử giặc vượt qua bãi đá ngầm, khi nước thủy triều xuống thì tổng lực phản công, thuyền giặc rút chạy bị vấp vào bãi đá ngầm, lật nhào chìm đắm rất nhiều, quân mai phục đổ ra đánh úp, quân giặc chết nhiều vô kể và thất bại thảm hại, không còn dám quấy nhiễu nữa. (Dấu tích bãi đá ở Thác Hàn vẫn còn cho đến ngày nay).
      "Thác Hàn Sơn lừng lẫy chiến công, nức tiếng muôn phương, oanh liệt một thời. Người con gái trong kiệu võng về báo mộng cho tướng quân Lê Thọ Vực đêm hôm ấy chính là con gái Ngọc Hồng thượng đế (Công chúa Mai Hoa) mà nay gọi là Cô Ba hay Cô Bơ thoải phủ đền Ba Bông. Còn người báo mộng hiến kế để tướng quân Lê Thọ Vực phá giặc là “Đệ Tam Thủy Tiên Thánh Mẫu Bạch Ngọc Hồ Trung Xích Thủy Tinh Xích Lân Long Nữ” hay còn gọi là Mẫu Đệ Tam, Mẫu Thoải, Mẫu Hàn Sơn đều là một. Để đáp lại ân đức của thánh thần, tướng quân Lê Thọ Vực tâu vua, vua Lê cho lập đền thờ Cô Ba ở bờ bãi bồi Ba Bông hiện nay. Đền thờ Đệ Tam Thánh Mẫu ở non cao Thạch Bàn thác Hàn Chí Thủy (về sau mới di dời xuống bên sông để nhân dân thuận lợi việc thăm viếng). Nhớ ơn công đức của tướng quân Lê Thọ Vực, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ngay phía dưới trước đền Mẫu, được tách rời bởi sân Đại Bái (Từ đó đến nay vẫn giữ nguyên sự sắp xếp đó).

     Ngày tiệc Cô

     Ngày 12.6 âm lịch là ngày rước Cô lên đền Mẫu. Nhưng ngày mất của Cô tương truyền là ngày 8/2. Nhiều nơi vẫn làm ngày tiệc Cô vào 8/2. Tuy vậy, để kỷ niệm ngày rước Cô lên đền Mẫu được coi là chính tiệc của Cô.

    ( Xin cảm ơn bạn Lê Văn Sĩ - phụng thánh tại thành phố Thanh Hóa, một đệ tử của Cô Bơ Bông đã cung cấp tư liệu cho bài viết này).
       
   

      Đền Rõm thuộc thôn Thanh Hà, xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Đền Rõm được coi là ngôi đền thờ Mẫu và thờ quan quân nhà Mạc. Cạnh Đền Rõm là Đền Quan Quận thờ 18 vị Quan Quận. Có thể coi nơi đây là quần thể di tích tâm linh thờ nhà Mạc trong cuộc dời đô.

Cổng Đền Rõm

 Sự tích Đền Rõm

     Năm 1592, sau khi thất thủ Thăng Long, nhà Mạc quyết định dời đô lên Cao Bằng, để sẵn sàng tiến hành một cuộc chiến đấu lâu dài. Đoàn  thiên đô bao gồm cả triều đình, trong đó lại có hoàng hậu công chúa, người già, trẻ em là bộ phận khó cơ động. Ngoài ra còn có thư tịch, ấn tín, bảo vật,…Triều đình không thể đi đường quan lộ lên Cao Bằng, mà một bộ phận phải đi đường tắt, bí mật, vượt qua đỉnh núi Hàm Lợn (bây giờ thuộc thôn Thanh Hà, xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội - Nơi có Đền Rõm ngày nay) qua Thái Nguyên. 

Cảnh đền Rõm
      Cách đây 5 thế kỷ, đường sá, xe ngựa tất nhiên nghèo nàn thiếu thốn, lại qua núi rừng, hiểm trở, xa xôi (300 km) Đặc biệt, thêm một cản trở lớn là phong kiến Trịnh-Lê tìm cách truy sát tiêu diệt. Nhưng bằng mọi giá nhà Mạc phải bảo vệ đoàn thiên đô. Nhiệm vụ nặng nề này đặt trên vai một đoàn chiến  binh khoảng 500 người, dưới sự chỉ huy của 18 vị quận công.
       Tại khu vực Đền Rõm và Đền Quan Quận, tương truyền là nơi đã xẩy ra một cuộc chiến đẫm máu giữa quan quân Lê - Trịnh và quan quân nhà Mạc. Đáng mừng thay, cuối cùng đoàn thiên đô được bảo toàn. Nhưng đáng tiếc là đội thiên vệ hy sinh gần hết, còn lại một ít hẹn cùng nhau tuẫn tiết vào ngày 20 tháng Tám, trước thời gian Thái Tổ Mạc Đăng Dung băng hà 2 ngày.
     
Nội Cung Đền Rõm
      Nơi đây, Đền Rõm được coi là nơi thờ Mẫu và các quan quân nhà Mạc. Còn Đền Quan Quận thờ 18 vị Quận Công, là nơi tưởng niệm chiến công vinh quang và hy sinh oanh liệt của đơn vị bảo vệ đoàn thiên đô  nhà Mạc năm 1592. Đền Quan Quận, ngày nay là nơi con cháu họ Mạc hay thường tổ chức họp họ tại đây để làm giỗ họ và 18 vị Quận Công. 

Đền Quan Quận hay còn gọi là Mạc Gia Từ

      Đền Rõm và Đền Quan Quận được coi là trung tâm giữa các di tích nhà Mạc như: Bãi quần ngựa nhà Mạc; Đá mài gươm nhà Mạc; Cột cờ nhà Mạc; Bàn cờ nhà Mạc; Đấu đong quân nhà Mạc.

Di tích đường nhà Mạc
        Hiện nay, tại Đền Rõm còn có đôi câu đối: 
       “Tây phương hữu lộ cao gia Mạc
     Đông hướng mã hồi Đổng thăng Thiên”
        Dịch:
“Phía Tây, có đường họ Mạc cao quý
Phía Đông, là nơi ngựa Gióng về trời”

        Đền Rõm có từ bao giờ

        Theo bà thủ từ hiện nay, bà Thiêm, thì gia đình bà liên tục coi sóc đền 7 đời (ước tính 210 năm) Lúc đầu cũng như nhiều di tích đương thời, chỉ làm bằng tranh tre, đến năm Duy Tân thứ 7 (1913), cụ Vũ Bá Kỷ, nhà hào phú địa phương, đứng lên xây đền bằng đá ong. Khoảng  2001, do nhu cầu xây đập thuỷ lợi, các cụ chuyển đền đến địa điểm bây giờ, cách chỗ cũ khoảng 200m. 

Ban Quan Hoàng đền Rõm
        Nội Cung Đền Rõm hiện có các Ban Cô với tượng ba cô: Cô Bơ, Cô Sáu, Cô Chín; ban thờ Sơn Trang, Ban Ngũ Vị Tôn Ông, Ban Trần Triều, Ban Quan Hoàng với tượng Quan Hoàng Bơ, Hoàng bảy, Hoàng Mười. Trong hậu cung là Ban Mẫu. Ngoại cung là Ban Cộng Đồng, Ban Mẫu bán Thiên, Ban các anh hùng liệt sĩ thời nhà Mạc và các anh hùng liệt sĩ thời nay.

      Đền Rõm thuộc thôn Thanh Hà, xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Đền Rõm được coi là ngôi đền thờ Mẫu và thờ quan quân nhà Mạc. Cạnh Đền Rõm là Đền Quan Quận thờ 18 vị Quan Quận. Có thể coi nơi đây là quần thể di tích tâm linh thờ nhà Mạc trong cuộc dời đô.

Cổng Đền Rõm

 Sự tích Đền Rõm

     Năm 1592, sau khi thất thủ Thăng Long, nhà Mạc quyết định dời đô lên Cao Bằng, để sẵn sàng tiến hành một cuộc chiến đấu lâu dài. Đoàn  thiên đô bao gồm cả triều đình, trong đó lại có hoàng hậu công chúa, người già, trẻ em là bộ phận khó cơ động. Ngoài ra còn có thư tịch, ấn tín, bảo vật,…Triều đình không thể đi đường quan lộ lên Cao Bằng, mà một bộ phận phải đi đường tắt, bí mật, vượt qua đỉnh núi Hàm Lợn (bây giờ thuộc thôn Thanh Hà, xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội - Nơi có Đền Rõm ngày nay) qua Thái Nguyên. 

Cảnh đền Rõm
      Cách đây 5 thế kỷ, đường sá, xe ngựa tất nhiên nghèo nàn thiếu thốn, lại qua núi rừng, hiểm trở, xa xôi (300 km) Đặc biệt, thêm một cản trở lớn là phong kiến Trịnh-Lê tìm cách truy sát tiêu diệt. Nhưng bằng mọi giá nhà Mạc phải bảo vệ đoàn thiên đô. Nhiệm vụ nặng nề này đặt trên vai một đoàn chiến  binh khoảng 500 người, dưới sự chỉ huy của 18 vị quận công.
       Tại khu vực Đền Rõm và Đền Quan Quận, tương truyền là nơi đã xẩy ra một cuộc chiến đẫm máu giữa quan quân Lê - Trịnh và quan quân nhà Mạc. Đáng mừng thay, cuối cùng đoàn thiên đô được bảo toàn. Nhưng đáng tiếc là đội thiên vệ hy sinh gần hết, còn lại một ít hẹn cùng nhau tuẫn tiết vào ngày 20 tháng Tám, trước thời gian Thái Tổ Mạc Đăng Dung băng hà 2 ngày.
     
Nội Cung Đền Rõm
      Nơi đây, Đền Rõm được coi là nơi thờ Mẫu và các quan quân nhà Mạc. Còn Đền Quan Quận thờ 18 vị Quận Công, là nơi tưởng niệm chiến công vinh quang và hy sinh oanh liệt của đơn vị bảo vệ đoàn thiên đô  nhà Mạc năm 1592. Đền Quan Quận, ngày nay là nơi con cháu họ Mạc hay thường tổ chức họp họ tại đây để làm giỗ họ và 18 vị Quận Công. 

Đền Quan Quận hay còn gọi là Mạc Gia Từ

      Đền Rõm và Đền Quan Quận được coi là trung tâm giữa các di tích nhà Mạc như: Bãi quần ngựa nhà Mạc; Đá mài gươm nhà Mạc; Cột cờ nhà Mạc; Bàn cờ nhà Mạc; Đấu đong quân nhà Mạc.

Di tích đường nhà Mạc
        Hiện nay, tại Đền Rõm còn có đôi câu đối: 
       “Tây phương hữu lộ cao gia Mạc
     Đông hướng mã hồi Đổng thăng Thiên”
        Dịch:
“Phía Tây, có đường họ Mạc cao quý
Phía Đông, là nơi ngựa Gióng về trời”

        Đền Rõm có từ bao giờ

        Theo bà thủ từ hiện nay, bà Thiêm, thì gia đình bà liên tục coi sóc đền 7 đời (ước tính 210 năm) Lúc đầu cũng như nhiều di tích đương thời, chỉ làm bằng tranh tre, đến năm Duy Tân thứ 7 (1913), cụ Vũ Bá Kỷ, nhà hào phú địa phương, đứng lên xây đền bằng đá ong. Khoảng  2001, do nhu cầu xây đập thuỷ lợi, các cụ chuyển đền đến địa điểm bây giờ, cách chỗ cũ khoảng 200m. 

Ban Quan Hoàng đền Rõm
        Nội Cung Đền Rõm hiện có các Ban Cô với tượng ba cô: Cô Bơ, Cô Sáu, Cô Chín; ban thờ Sơn Trang, Ban Ngũ Vị Tôn Ông, Ban Trần Triều, Ban Quan Hoàng với tượng Quan Hoàng Bơ, Hoàng bảy, Hoàng Mười. Trong hậu cung là Ban Mẫu. Ngoại cung là Ban Cộng Đồng, Ban Mẫu bán Thiên, Ban các anh hùng liệt sĩ thời nhà Mạc và các anh hùng liệt sĩ thời nay.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.