bài viết trong chuyên mục "thiên văn"

"Thánh nhập" chuyện đó có đúng hay không Am Ngọa Vân Am Tiên âm dương tổng luận Bài cúng vong thai nhi tại nhà cho linh hồn siêu thoát Bài khấn lễ cho gia đình hiếm muộn con Bài viết Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu Bản văn bát trạch bát tự BÍ ẨN biểu phí BÙA NGẢI bủa trú phù ấn phong thủy Cách chữa bệnh người âm - Phần hai Cảnh giác với chiêu trò của đồng thầy CĂN SỐ Cậu Bé Đồi Ngang câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ Chầu Năm Suối Lân cho tốt chon ngày giờ Chùa Hà - Ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Hà Nội Chùa Hàm Long - Ngôi chùa đặc biệt Chúa Năm Phương Chùa Tứ Kỳ - Ngôi chùa linh thiêng Chuyện người lính biết mình sẽ hy sinh chuyện tâm linh Chữa bệnh người âm bám theo Có nên đốt vàng mã hay không Có nên hầu đồng Cô bé Đông Cuông Cô Chín Sòng Sơn Cô Năm Suối Lân CUỘC SỐNG danh sach web phật giáo Di cung hoán số thế nào cho đúng dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy đạo mẫu ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho Đền An Sinh Đền Bà Chúa Kho Đền Bà Chúa Ong Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo Đền Bạch Mã Đền Bồng Lai Hòa Bình Đền Bồng Lai Ninh Bình thờ Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Cấm Tuyên Quang Đền Chầu Lục Đền Chúa Thác Bờ Đền Cô Bé Xương Rồng Đền Cô Bơ Bông Đền Cô Chín Hà Nội Đền Cô Chín Suối Rồng Đền Cô Chín Tây Thiên Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang Đền Cô Đôi Thượng Ngàn Đền Công Đồng Bắc Lệ Đền Công Đồng Bắc Lệ - phát hiện động trời. Đền Cửa Ông Đền Dầm - Đền thờ Mẫu Thoải Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười Đền Đại Lộ - Đền thờ Tứ Vị Thánh Nương Đền Độc Cước Sầm Sơn Đền Đôi Cô Tuyên Quang Đền Hạ Tuyên Quang Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang Đền Mẫu Đông Cuông Đền Mẫu Đồng Đăng Đền Mẫu Lào Cai Đền Mẫu Sòng Sơn Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang Đền Ngọc Lan với nhiều điều kỳ bí Đền Nưa Am Tiên Đền Quán Cháo Đền Quan Đệ Tứ và sự linh thiêng Đền Quan Giám Sát Lạng Sơn Đền Quan Hoàng Mười Đền Quan Lớn Phủ Dầy Đền Quán Thánh - Ngôi đền linh thiêng Đền Rõm Đền Rồng- Đền Nước Đền Sinh - Ngôi đền kỳ lạ - Ngôi đền cầu con Đền Thượng Ba Vì Đền Thượng Lao Cai Đền Trung Tả Khâm Thiên Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Đền Vạn Ngang Đồ Sơn địa lí phong thủy Đình Đền Chùa Cầu Muối đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp đồng ma thế nào đồng tà có phân biệt được không Đồng tiền có gai mà thánh có mắt Đức Chúa Ông trong chùa là ai Đừng biến Phật thành kẻ hám lợi Gạch ngói giả cổ GIA TIÊN Giải đáp thắc mắc giải mộng điềm báo hám danh Hát Văn Hàu đồng - Một món hời Hầu đồng ơi hầu đồng Hầu đồng sao cho có lộc Hầu đồng: Đồng đua đồng đú Hầu đồng: Đồng ma Hầu Đồng: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Hầu đồng: Loạn mở phủ Hầu đồng: Lý do xoay khăn sau khi ra hầu Hầu đồng: Mẫu là con của Phật Hầu đồng: Nghĩa vụ của Đồng Thầy Hầu đồng: Nước mắt đạo mẫu Hầu Đồng: Phân biệt đồng tà Hầu đồng: Sự linh ứng hay buôn thần bán thánh Hầu đồng: Tác động của gia tiên đến mở phủ Hầu đồng: Trình đồng mở phủ để làm gì Hầu đồng: Ý nghĩa của hầu đồng Hầu Đồng:Bàn về chuyện xoay khăn hóa giải phong thủy HỎI ĐÁP hỗ trợ khách hàng huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy Khóa lễ thế nào thì đắc lễ kiến thức đá phong thủy kiến thức đạo mẫu kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY Làm sao để yên căn yên mệnh Lễ hội đền Xâm Thị lịch sử phong thủy liên hệ Liên Phái linh vật phong thủy Lời Phật Dạy Mẫu Cửu Trùng Thiên Mẫu không phải là quỷ Mẫu Thoải là ai mệnh số đời người miễn hầu Mỗi năm hầu mấy vấn là đủ. Một tâm tình của con nhà thánh NGÀY TIỆC ngày tiệc đản phật thánh nghi lễ Nghiệp làm thầy tứ phủ NGOẠI CẢM ngôi chùa chuyên xem TRÙNG TANG Nhân ngày tiệc Mẫu kể chuyện về Mẫu NHÂN QUẢ Nỗi lòng một đồng thảy về Đạo Mẫu Nỗi lòng một thanh đồng Nỗi niềm đồng thày thời bùng phát nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet Phủ Đồi Ngang Phủ Quảng Cung Phủ Tây Mỗ - Nơi giáng sinh lần thứ ba của Mẫu Liễu Quan Điều Thất Quan Hoàng Đôi Triệu Tường Quan Lớn Đệ Nhất Quan Lớn Đệ Nhị Quan Lớn Đệ Tam Sẽ còn nhiều "hiện tượng lạ" trong hầu đồng Sự biến tướng trong ngôi nhà mẫu Sự ngộ nhận trong hầu đồng tài liệu TÂM LINH Thái Tuế lưu niên Thanh đồng cần phải làm gì. Thanh đồng làm gì để vẹn đường tu Thánh không phải là ma thanh toán thần tích Thần tích về Mẫu Liễu Hạnh thầy phong thủy Thầy và lòng tham thế giới kiến trúc thiên văn THỜ CÚNG Thực hành đúng về hầu đồng Tín ngưỡng Dân gian TIN TỨC Tin tức tâm linh Việt Nam toàn quốc tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch trình đồng Trường hợp nào được khất hầu tử bình Tứ Đền - Một khu đền linh thiêng TỨ PHỦ tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi nghiệm lí tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp Văn Khấn văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc VIDEO video áp vong gọi hồn Video Clip video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt Video Hát văn video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm Việt nam tôi yêu xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn thiên văn. Hiển thị tất cả bài đăng

undefined

VÌ SAO CẦN CÓ NĂM NHUẬN?

Tác giả: Hoài Ân –
Nguồn: EarthSky.org
Chu kì quỹ đạo của Trái đất xung quanh Mặt trời là 365,25 ngày.
Nguyên nhân là vì Trái đất mất khoảng 365,25 ngày để quay hết một vòng xung quanh Mặt trời mỗi năm. Chính phần 0,25 ngày đó tạo ra nhu cầu có một năm nhuận mỗi bốn năm một lần.
Trong những năm không nhuận, tức là năm bình thường, lịch không tính đến một phần tư ngày thật sự cần thiết để Trái đất quay trọn một vòng xung quanh Mặt trời. Thực chất thì năm theo lịch – một sản phẩm do con người tạo ra – nhanh hơn năm mặt trời thật sự, hay năm được định nghĩa bởi chuyển động của hành tinh chúng ta trong không gian vũ trụ.
Theo thời gian, nếu không có sự hiệu chỉnh, năm theo lịch sẽ lệch khỏi năm mặt trời và sự lệch đó ngày một tăng dần. Ví dụ, nếu không có hiệu chỉnh, năm theo lịch sẽ lệch đi khoảng 1 ngày sau 4 năm. Nó sẽ lệch 25 ngày sau 100 năm. Bạn có thể thấy, nếu càng lâu mà không có năm nhuận bổ sung hiệu chỉnh cho dương lịch, thì cuối cùng tháng 7 sẽ là mùa đông ở bán cầu Bắc.
Trong những năm nhuận, một ngày nhuận được bổ sung vào lịch để làm nó chậm lại và đồng bộ năm theo lịch với các mùa. Ngày nhuận lần đầu tiên được bổ sung vào Lịch Julian vào năm 46 trước Công nguyên, bởi Julius Cesar, theo lời khuyên của Sosigenes, một nhà thiên văn học tại thành Alexandria.

Christopher Clavius (1538 - 1612), nhà toán học và thiên văn học người Đức. Ảnh: Wikimedia Commons, Public Domain Tag PD-1923.
Vào năm 1582, Giáo hoàng Gregory XIII đã cải cách lịch Julian bằng cách tạo ra lịch Gregory với sự trợ giúp của Christopher Clavius, một nhà toán học và nhà thiên văn học người Đức. Lịch Gregory đưa ra thêm quy tắc là vào những năm tận cùng là “00” thì không nên bổ sung thêm ngày nhuận, trừ khi con số năm đó chia hết cho 400. Sự hiệu chỉnh thêm này là để cân bằng lịch trong khoảng thời gian hàng nghìn năm và là cần thiết vì năm mặt trời thật ra dưới 365,25 ngày một chút. Thật vậy, độ dài chính xác của năm mặt trời là 365,2422 ngày.

Vì thế, theo quy tắc lập ra bởi lịch Gregory, những ngày nhuận sẽ xuất hiện trong những năm sau đây:
1600 1604 1608 1612 1616 1620 1624 1628 1632 1636 1640 1644 1648 1652 1656 1660 1664 1668 1672 1676 1680 1684 1688 1692 1696 1704 1708 1712 1716 1720 1724 1728 1732 1736 1740 1744 1748 1752 1756 1760 1764 1768 1772 1776 1780 1784 1788 1792 1796 1804 1808 1812 1816 1820 1824 1828 1832 1836 1840 1844 1848 1852 1856 1860 1864 1868 1872 1876 1880 1884 1888 1892 1896 1904 1908 1912 1916 1920 1924 1928 1932 1936 1940 1944 1948 1952 1956 1960 1964 1968 1972 1976 1980 1984 1988 1992 1996 2000 2004 2008 2012 2016 2020 2024 2028 2032 2036 2040 2044 2048 2052 2056 2060 2064 2068 2072 2076 2080 2084 2088 2092 2096 2104 2108 2112 2116 2120 2124 2128 2132 2136 2140 2144 2148 2152.
Lưu ý rằng 2000 là một năm nhuận vì nó chia hết cho 400, nhưng 1990 không phải là năm nhuận.
Kể từ năm 1582, lịch Gregory dần dần được chấp nhận là một chuẩn quốc tế “văn minh” đối với nhiều quốc gia trên thế giới.

âm lịch Việt Nam là một loại lịch thiên văn. Nó được tính toán dựa trên sự chuyển động của mặt trời, trái đất và mặt trăng. Ngày tháng âm lịch được tính dựa theo các nguyên tắc sau:

Ngày đầu tiên của tháng âm lịch là ngày chứa điểm Sóc
Một năm bình thường có 12 tháng âm lịch, một năm nhuận có 13 tháng âm lịch
Đông chí luôn rơi vào tháng 11 âm lịch
Trong một năm nhuận, nếu có 1 tháng không có Trung khí thì tháng đó là tháng nhuận. Nếu nhiều tháng trong năm nhuận đều không có Trung khí thì chỉ tháng đầu tiên sau Đông chí là tháng nhuận
Việc tính toán dựa trên kinh tuyến 105° đông.
    Sóc là thời điểm hội diện, đó là khi trái đất, mặt trăng và mặt trời nằm trên một đường thẳng và mặt trăng nằm giữa trái đất và mặt trời. (Như thế góc giữa mặt trăng và mặt trời bằng 0 độ). Gọi là "hội diện" vì mặt trăng và mặt trời ở cùng một hướng đối với trái đất. Chu kỳ của điểm Sóc là khoảng 29,5 ngày. Ngày chứa điểm Sóc được gọi là ngày Sóc, và đó là ngày bắt đầu tháng âm lịch.
    Trung khí là các điểm chia đường hoàng đạo thành 12 phần bằng nhau. Trong đó, bốn Trung khí giữa bốn mùa là đặc biệt nhất: Xuân phân (khoảng 20/3), Hạ chí (khoảng 22/6), Thu phân (khoảng 23/9) và Đông chí (khoảng 22/12).
    Bởi vì dựa trên cả mặt trời và mặt trăng nên lịch Việt Nam không phải là thuần âm lịch mà là âm-dương-lịch. Theo các nguyên tắc trên, để tính ngày tháng âm lịch cho một năm bất kỳ trước hết chúng ta cần xác định những ngày nào trong năm chứa các thời điểm Sóc (New moon) . Một khi bạn đã tính được ngày Sóc, bạn đã biết được ngày bắt đầu và kết thúc của một tháng âm lịch: ngày mùng một của tháng âm lịch là ngày chứa điểm sóc. Sau khi đã biết ngày bắt đầu/kết thúc các tháng âm lịch, ta tính xem các Trung khí (Major solar term) rơi vào tháng nào để từ đó xác định tên các tháng và tìm tháng nhuận.
    Đông chí luôn rơi vào tháng 11 của năm âm lịch. Bởi vậy chúng ta cần tính 2 điểm sóc: Sóc A ngay trước ngày Đông chí thứ nhất và Sóc B ngay trước ngày Đông chí thứ hai. Nếu khoảng cách giữa A và B là dưới 365 ngày thì năm âm lịch có 12 tháng, và những tháng đó có tên là: tháng 11, tháng 12, tháng 1, tháng 2, …, tháng 10. Ngược lại, nếu khoảng cách giữa hai sóc A và B là trên 365 ngày thì năm âm lịch này là năm nhuận, và chúng ta cần tìm xem đâu là tháng nhuận. Để làm việc này ta xem xét tất cả các tháng giữa A và B, tháng đầu tiên không chứa Trung khí sau ngày Đông chí thứ nhất là tháng nhuận. Tháng đó sẽ được mang tên của tháng trước nó kèm chữ "nhuận".
    Khi tính ngày Sóc và ngày chứa Trung khí bạn cần lưu ý xem xét chính xác múi giờ. Đây là lý do tại sao có một vài điểm khác nhau giữa lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc.Ví dụ, nếu bạn biết thời điểm hội diện là vào lúc yyyy-02-18 16:24:45 GMT thì ngày Sóc của lịch Việt Nam là 18 tháng 2, bởi vì 16:24:45 GMT là 23:24:45 cùng ngày, giờ Hà nội (GMT+7, kinh tuyến 105° đông). Tuy nhiên theo giờ Bắc Kinh (GMT+8, kinh tuyến 120° đông) thì Sóc là lúc 00:24:45 ngày yyyy-02-19, do đó tháng âm lịch của Trung Quốc lại bắt đầu ngày yyyy-02-19, chậm hơn lịch Việt Nam 1 ngày.

    Ví dụ 1: Âm lịch năm 1984

    Chúng ta áp dụng quy luật trên để tính âm lịch Việt nam năm 1984.
    • Sóc A (ngay trước Đông chí năm 1983) rơi vào ngày 4/12/1983, Sóc B (ngay trước Đông chí năm 1984) vào ngày 23/11/1984.
    • Giữa A và B là khoảng 355 ngày, như thế năm âm lịch 1984 là năm thường. Tháng 11 âm lịch của năm trước kéo dài từ 4/12/1983 đến 2/01/1984, tháng 12 âm từ 3/1/1984 đến 1/2/1984, tháng Giêng từ 2/2/1984 đến 1/3/1984 v.v.

    Ví dụ 2: Âm lịch năm 2004

    • Sóc A - điểm sóc cuối cùng trước Đông chí 2003 - rơi vào ngày 23/11/2003. Sóc B (ngay trước Đông chí năm 2004) rơi vào ngày 12/12/2004.
    • Giữa 2 ngày này là khoảng 385 ngày, như vậy năm âm lịch 2004 là năm nhuận. Tháng 11 âm của năm 2003 bắt đầu vào ngày chứa Sóc A, tức ngày 23/11/2003.
    • Tháng âm lịch đầu tiên sau đó mà không chứa Trung khí là tháng từ 21/3/2004 đến 18/4/2004 (Xuân phân rơi vào 20/3/2004, còn Cốc vũ là 19/4/2004). Như thế tháng ấy là tháng nhuận.
    • Từ 23/11/2003 đến 21/3/2004 là khoảng 120 ngày, tức 4 tháng âm lịch: tháng 11, 12, 1 và 2. Như vậy năm 2004 có tháng 2 nhuận.

    Thuật toán chuyển đổi giữa ngày dương và âm

    Trong tính toán thiên văn người ta lấy ngày 1/1/4713 trước công nguyên của lịch Julius (tức ngày 24/11/4714 trước CN theo lịch Gregorius) làm điểm gốc. Số ngày tính từ điểm gốc này gọi là số ngày Julius (Julian day number) của một thời điểm. Ví dụ, số ngày Julius của 1/1/2000 là 24515455.
    Dùng các công thức sau ta có thể chuyển đổi giữa ngày/tháng/năm và số ngày Julius. Phép chia ở 2 công thức sau được hiểu là chia số nguyên, bỏ phần dư: 23/4=5.

    ĐỔI NGÀY DD/MM/YYYY RA SỐ NGÀY JULIUS JD

    a = (14 - mm) / 12
    y = yy+4800-a
    m = mm+12*a-3
    
    Lịch Gregory:
    
    jd = dd + (153*m+2)/5 + 365*y + y/4 - y/100 + y/400 - 32045
    
    Lịch Julius:
    
    jd = dd + (153*m+2)/5 + 365*y + y/4 - 32083

    ĐỔI SỐ NGÀY JULIUS JD RA NGÀY DD/MM/YYYY

    Lịch Gregory (jd lớn hơn 2299160):
    
    a = jd + 32044;
    b = (4*a+3)/146097;
    c = a - (b*146097)/4;
    
    Lịch Julius:
    
    b = 0;
    c = jd + 32082;
    
    Công thức cho cả 2 loại lịch:
    
    d = (4*c+3)/1461;
    e = c - (1461*d)/4;
    m = (5*e+2)/153;
    dd = e - (153*m+2)/5 + 1;
    mm = m + 3 - 12*(m/10);
    yy = b*100 + d - 4800 + m/10;
    Nếu ngôn ngữ lập trình bạn dùng không hỗ trợ phép chia số nguyên bỏ phần dư (VD: javascript), bạn có thể định nghĩa một hàm INT(x) để lấy số nguyên lớn nhất không vượt quá x: INT(5)=5, INT(3.2)=3, INT(-5)=-5, INT(-3.2)=-4 v.v. Khi đó, INT(m/10) sẽ trả lại kết quả của phép chia số nguyên. (Nhiều ngôn ngữ có sẵn hàm floor() cho phép làm việc này.)
    Các phép chuyển đổi giữa ngày tháng và số ngày Julius có thể được thực hiện với mã javascript như sau:
    function jdFromDate(dd, mm, yy)
    var a, y, m, jd;
    a = INT((14 - mm) / 12);
    y = yy+4800-a;
    m = mm+12*a-3;
    jd = dd + INT((153*m+2)/5) + 365*y + INT(y/4) - INT(y/100) + INT(y/400) - 32045;
    if (jd < 2299161) {
     jd = dd + INT((153*m+2)/5) + 365*y + INT(y/4) - 32083;
    }
    return jd;
    function jdToDate(jd)
    var a, b, c, d, e, m, day, month, year;
    if (jd > 2299160) { // After 5/10/1582, Gregorian calendar
     a = jd + 32044;
     b = INT((4*a+3)/146097);
     c = a - INT((b*146097)/4);
    } else {
     b = 0;
     c = jd + 32082;
    }
    d = INT((4*c+3)/1461);
    e = c - INT((1461*d)/4);
    m = INT((5*e+2)/153);
    day = e - INT((153*m+2)/5) + 1;
    month = m + 3 - 12*INT(m/10);
    year = b*100 + d - 4800 + INT(m/10);
    return new Array(day, month, year);
    Trong các công thức sau, timeZone là số giờ chênh lệch giữa giờ địa phương và giờ UTC (hay GMT). (Để tính lịch Việt Nam, lấy timeZone = 7.0). Các phương pháp sau được giới thiệu với mã javascript. Bạn có thể tải thư viện javascript hoặc thư viện PHPhoàn chỉnh để tham khảo.

    TÍNH NGÀY SÓC

    Như trên đã nói, để tính được âm lịch trước hết ta cần xác định các tháng âm lịch bắt đầu vào ngày nào.
    Thuật toán sau tính ngày Sóc thứ k kể từ điểm Sóc ngày 1/1/1900. Kết quả trả về là số ngày Julius của ngày Sóc cần tìm.
    function getNewMoonDay(k, timeZone)
    var T, T2, T3, dr, Jd1, M, Mpr, F, C1, deltat, JdNew;
    T = k/1236.85; // Time in Julian centuries from 1900 January 0.5
    T2 = T * T;
    T3 = T2 * T;
    dr = PI/180;
    Jd1 = 2415020.75933 + 29.53058868*k + 0.0001178*T2 - 0.000000155*T3;
    Jd1 = Jd1 + 0.00033*Math.sin((166.56 + 132.87*T - 0.009173*T2)*dr); // Mean new moon
    M = 359.2242 + 29.10535608*k - 0.0000333*T2 - 0.00000347*T3; // Sun's mean anomaly
    Mpr = 306.0253 + 385.81691806*k + 0.0107306*T2 + 0.00001236*T3; // Moon's mean anomalyF = 21.2964  begin_of_the_skype_highlighting + 390.67050646  end_of_the_skype_highlighting * k - 0.0016528 * T2
     - 0.00000239 * T3; //  Moon's argument of latitude
    C1=(0.1734 - 0.000393*T)*Math.sin(M*dr) + 0.0021*Math.sin(2*dr*M);
    C1 = C1 - 0.4068*Math.sin(Mpr*dr) + 0.0161*Math.sin(dr*2*Mpr);
    C1 = C1 - 0.0004*Math.sin(dr*3*Mpr);
    C1 = C1 + 0.0104*Math.sin(dr*2*F) - 0.0051*Math.sin(dr*(M+Mpr));
    C1 = C1 - 0.0074*Math.sin(dr*(M-Mpr)) + 0.0004*Math.sin(dr*(2*F+M));
    C1 = C1 - 0.0004*Math.sin(dr*(2*F-M)) - 0.0006*Math.sin(dr*(2*F+Mpr));
    C1 = C1 + 0.0010*Math.sin(dr*(2*F-Mpr)) + 0.0005*Math.sin(dr*(2*Mpr+M));
    if (T < -11) {
     deltat= 0.001 + 0.000839*T + 0.0002261*T2 - 0.00000845*T3 - 0.000000081*T*T3;
    } else {
     deltat= -0.000278 + 0.000265*T + 0.000262*T2;
    };
    JdNew = Jd1 + C1 - deltat;
    return INT(JdNew + 0.5 + timeZone/24)+ 390.67050646
    Với hàm này ta có thể tính được tháng âm lịch chứa ngày N bắt đầu vào ngày nào: giữa ngày 1/1/1900 (số ngày Julius: 2415021) và ngày N có khoảng k=INT((N-2415021)/29.530588853) tháng âm lịch, như thế dùng hàm getNewMoonDaysẽ biết ngày đầu tháng âm lịch chứa ngày N, từ đó ta biết ngày N là mùng mấy âm lịch.

    TÍNH TỌA ĐỘ MẶT TRỜI

    Để biết Trung khí nào nằm trong tháng âm lịch nào, ta chỉ cần tính xem mặt trời nằm ở khoảng nào trên đường hoàng đạo vào thời điểm bắt đầu một tháng âm lịch. Ta chia đường hoàng đạo làm 12 phần và đánh số các cung này từ 0 đến 11: từ Xuân phân đến Cốc vũ là 0; từ Cốc vũ đến Tiểu mãn là 1; từ Tiểu mãn đến Hạ chí là 2; v.v.. Cho jdn là số ngày Julius của bất kỳ một ngày, phương pháp sau này sẽ trả lại số cung nói trên.
    function getSunLongitude(jdn, timeZone)
    var T, T2, dr, M, L0, DL, L;
    T = (jdn - 2451545.5 - timeZone/24) / 36525; // Time in Julian centuries from 2000-01-01 12:00:00 GMT
    T2 = T*T;
    dr = PI/180; // degree to radianM = 357.52910  begin_of_the_skype_highlighting + 35999.05030 end_of_the_skype_highlighting * T  -  0.0001559
     * T2 - 0.00000048 * T * T2; // mean anomaly, degree
    L0 = 280.46645 + 36000.76983*T + 0.0003032*T2; // mean longitude, degree
    DL = (1.914600 - 0.004817*T - 0.000014*T2)*Math.sin(dr*M);
    DL = DL + (0.019993 - 0.000101*T)*Math.sin(dr*2*M) + 0.000290*Math.sin(dr*3*M);
    L = L0 + DL; // true longitude, degree
    L = L*dr;
    L = L - PI*2*(INT(L/(PI*2))); // Normalize to (0, 2*PI)
    return INT(L / PI * 6)+ 35999.05030
    Với hàm này ta biết được một tháng âm lịch chứa Trung khí nào. Giả sử một tháng âm lịch bắt đầu vào ngày N1 và tháng sau đó bắt đầu vào ngày N2 và hàm getSunLongitude cho kết quả là 8 với N1 và 9 với N2. Như vậy tháng âm lịch bắt đầu ngày N1 là tháng chứa Đông chí: trong khoảng từ N1 đến N2 có một ngày mặt trời di chuyển từ cung 8 (sau Tiểu tuyết) sang cung 9 (sau Đông chí). Nếu hàm getSunLongitude trả lại cùng một kết quả cho cả ngày bắt đầu một tháng âm lịch và ngày bắt đầu tháng sau đó thì tháng đó không có Trung khí và như vậy có thể là tháng nhuận.

    TÌM NGÀY BẮT ĐẦU THÁNG 11 ÂM LỊCH

    Đông chí thường nằm vào khoảng 19/12-22/12, như vậy trước hết ta tìm ngày Sóc trước ngày 31/12. Nếu tháng bắt đầu vào ngày đó không chứa Đông chí thì ta phải lùi lại 1 tháng nữa.
    function getLunarMonth11(yy, timeZone)
    var k, off, nm, sunLong;
    off = jdFromDate(31, 12, yy) - 2415021;
    k = INT(off / 29.530588853);
    nm = getNewMoonDay(k, timeZone);
    sunLong = getSunLongitude(nm, timeZone); // sun longitude at local midnight
    if (sunLong >= 9) {
     nm = getNewMoonDay(k-1, timeZone);
    }
    return nm;

    XÁC ĐỊNH THÁNG NHUẬN

    Nếu giữa hai tháng 11 âm lịch (tức tháng có chứa Đông chí) có 13 tháng âm lịch thì năm âm lịch đó có tháng nhuận. Để xác định tháng nhuận, ta sử dụng hàmgetSunLongitude như đã nói ở trên. Cho a11 là ngày bắt đầu tháng 11 âm lịch mà một trong 13 tháng sau đó là tháng nhuận. Hàm sau cho biết tháng nhuận nằm ở vị trí nào sau tháng 11 này.
    function getLeapMonthOffset(a11, timeZone)
    var k, last, arc, i;
    k = INT((a11 - 2415021.076998695) / 29.530588853 + 0.5);
    last = 0;
    i = 1; // We start with the month following lunar month 11
    arc = getSunLongitude(getNewMoonDay(k+i, timeZone), timeZone);
    do {
     last = arc;
     i++;
     arc = getSunLongitude(getNewMoonDay(k+i, timeZone), timeZone);
    } while (arc != last && i < 14);
    return i-1;
    Giả sử hàm getLeapMonthOffset trả lại giá trị 4, như thế tháng nhuận sẽ là tháng sau tháng 2 thường. (Tháng thứ 4 sau tháng 11 đáng ra là tháng 3, nhưng vì đó là tháng nhuận nên sẽ lấy tên của tháng trước đó tức tháng 2, và tháng thứ 5 sau tháng 11 mới là tháng 3).
    http://img101.imageshack.us/img101/5787/lich3mn3.jpg

    ĐỔI NGÀY DƯƠNG DD/MM/YYYY RA NGÀY ÂM

    Với các phương pháp hỗ trợ trên ta có thể đổi ngày dương dd/mm/yy ra ngày âm dễ dàng. Trước hết ta xem ngày monthStart bắt đầu tháng âm lịch chứa ngày này là ngày nào (dùng hàm getNewMoonDay như trên đã nói). Sau đó, ta tìm các ngày a11 và b11 là ngày bắt đầu các tháng 11 âm lịch trước và sau ngày đang xem xét. Nếu hai ngày này cách nhau dưới 365 ngày thì ta chỉ còn cần xem monthStart và a11 cách nhau bao nhiêu tháng là có thể tính được dd/mm/yy nằm trong tháng mấy âm lịch. Ngược lại, nếu a11 và b11 cách nhau khoảng 13 tháng âm lịch thì ta phải tìm xem tháng nào là tháng nhuận và từ đó suy ra ngày đang tìm nằm trong tháng nào.
    function convertSolar2Lunar(dd, mm, yy, timeZone)
    var k, dayNumber, monthStart, a11, b11, lunarDay, lunarMonth, lunarYear, lunarLeap;
    dayNumber = jdFromDate(dd, mm, yy);
    k = INT((dayNumber - 2415021.076998695) / 29.530588853);
    monthStart = getNewMoonDay(k+1, timeZone);
    if (monthStart > dayNumber) {
     monthStart = getNewMoonDay(k, timeZone);
    }
    a11 = getLunarMonth11(yy, timeZone);
    b11 = a11;
    if (a11 >= monthStart) {
     lunarYear = yy;
     a11 = getLunarMonth11(yy-1, timeZone);
    } else {
     lunarYear = yy+1;
     b11 = getLunarMonth11(yy+1, timeZone);
    }
    lunarDay = dayNumber-monthStart+1;
    diff = INT((monthStart - a11)/29);
    lunarLeap = 0;
    lunarMonth = diff+11;
    if (b11 - a11 > 365) {
     leapMonthDiff = getLeapMonthOffset(a11, timeZone);
     if (diff >= leapMonthDiff) {
      lunarMonth = diff + 10;
      if (diff == leapMonthDiff) {
       lunarLeap = 1;
      }
     }
    }
    if (lunarMonth > 12) {
     lunarMonth = lunarMonth - 12;
    }
    if (lunarMonth >= 11 && diff < 4) {
     lunarYear -= 1;
    }

    ĐỔI ÂM LỊCH RA DƯƠNG LỊCH

    Cách làm cũng tương tự như đổi ngày dương sang ngày âm.
    function convertLunar2Solar(lunarDay, lunarMonth, lunarYear, lunarLeap, timeZone)
    var k, a11, b11, off, leapOff, leapMonth, monthStart;
    if (lunarMonth < 11) {
     a11 = getLunarMonth11(lunarYear-1, timeZone);
     b11 = getLunarMonth11(lunarYear, timeZone);
    } else {
     a11 = getLunarMonth11(lunarYear, timeZone);
     b11 = getLunarMonth11(lunarYear+1, timeZone);
    }
    off = lunarMonth - 11;
    if (off < 0) {
     off += 12;
    }
    if (b11 - a11 > 365) {
     leapOff = getLeapMonthOffset(a11, timeZone);
     leapMonth = leapOff - 2;
     if (leapMonth < 0) {
      leapMonth += 12;
     }
     if (lunarLeap != 0 && lunarMonth != leapMonth) {
      return new Array(0, 0, 0);
     } else if (lunarLeap != 0 || off >= leapOff) {
      off += 1;
     }
    }
    k = INT(0.5 + (a11 - 2415021.076998695) / 29.530588853);
    monthStart = getNewMoonDay(k+off, timeZone);
    return jdToDate(monthStart+lunarDay-1);

    TÍNH NGÀY THỨ VÀ CAN-CHI CHO NGÀY VÀ THÁNG ÂM LỊCH

    Ngày thứ lặp lại theo chu kỳ 7 ngày, như thế để biết một ngày d/m/y bất kỳ là thứ mấy ta chỉ việc tìm số dư của số ngày Julius của ngày này cho 7.
    Để tính Can của năm Y, tìm số dư của Y+6 chia cho 10. Số dư 0 là Giáp, 1 là Ất v.v. Để tính Chi của năm, chia Y+8 cho 12. Số dư 0 là Tý, 1 là Sửu, 2 là Dần v.v.
    Hiệu Can-Chi của ngày lặp lại theo chu kỳ 60 ngày, như thế nó cũng có thể tính được một cách đơn giản. Cho N là số ngày Julius của ngày dd/mm/yyyy. Ta chia N+9 cho 10. Số dư 0 là Giáp, 1 là Ất v.v. Để tìm Chi, chia N+1 cho 12; số dư 0 là Tý, 1 là Sửu v.v.
    Trong một năm âm lịch, tháng 11 là tháng Tý, tháng 12 là Sửu, tháng Giêng là tháng Dần v.v. Can của tháng M năm Y âm lịch được tính theo công thức sau: chia Y*12+M+3 cho 10. Số dư 0 là Giáp, 1 là Ất v.v.
    Ví dụ, Can-Chi của tháng 3 âm lịch năm Giáp Thân 2004 là Mậu Thìn: tháng 3 âm lịch là tháng Thìn, và (2004*12+3+3) % 10 = 24054 % 10 = 4, như vậy Can của tháng là Mậu.
    Một tháng nhuận không có tên riêng mà lấy tên của tháng trước đó kèm thêm chữ "Nhuận", VD: tháng 2 nhuận năm Giáp Thân 2004 là tháng Đinh Mão nhuận.

    THIÊN VĂN HỌC VÀ VĂN MINH AI CẬP






    Hình vẽ 12 cung hoàng đạo trên trần của đền thờ Hathor ở Dender
    Ảnh từ trang soulsofdistortion.nl
    Ảnh từ trang soulsofdistortion.nl
    1. Aries : Bạch Dương
    2. Taurus: Kim Ngưu
    3. Gemini: Song Tử
    4. Cancer: Cự Giải
    5. Leo: Sư Tử
    6. Virgo: Xử Nữ
    7. Libra : Thiên Bình
    8. Scorpio: Bọ Cạp
    9. Sagittarius: Nhân Mã
    10. Capricorn: Ma Kết
    11. Aquarius: Bảo Bình
    12. Pisces: Song Ngư
    Vào những năm 1990, Robert Bauval từ một kĩ sư thi công đã sang một nhà nghiên cứu về văn minh Ai Cập, đã đưa ra một giả thuyết 3 Kim Tự Tháp ở Giza là hình ảnh phản chiếu của 3 ngôi sao trong chòm sao Orion. Trong những nghiên cứu của ông, ông đã nói rằng tuổi của các Kim Tự Tháp và tượng Nhân Sư khó có thể xác định được. Lí do bởi vì xác định bằng niên đại carbon rất có thể nhầm lẫn với những di vật mà con người để lại sau này, thậm chí có rất ít mẫu vật để xác định niên đại. Khi quan sát bầu trời đêm ông nhận thấy rằng, khi sử dụng máy tính quay ngược bầu trời đêm về thời điểm 10.450 TCN thì 3 ngôi sao hoàn toàn trùng khớp với 3 Kim Tự Tháp.
    Theo người viết thì giả thuyết tuổi của các Kim Tự Tháp là 10.450TCN là đúng và thậm chí có thể hơn. Nếu trong chúng ta ai đã xem bộ phim 10.000 BC mà các nhà phê bình nói rằng không đúng với niên đại của Kim Tự Tháp, thì chắc hẳn cũng thấy những ý tưởng tương đồng về Kim Tự Tháp như vậy. Nội dung phim xoay quanh một nhân vật là một người thợ săn (Hunter, nghĩa bóng là chòm sao orion chăng?) đi cứu người yêu khỏi tay sai của những người xây dựng Kim Tự Tháp. Người cầm đầu những người này được gọi là vị thần (có 3 vị thần, 2 người đã chết, nay còn 1), lục địa của họ đã bị mất (Atlantis hay Mu?), bây giờ họ di chuyển đến đây để xây dựng lại thế giới mới của mình. Trong những nghiên cứu của Robert Bauval, ông nhận thấy rằng đường thông hơi phía Nam phòng Vua được xếp thẳng với sao Orion sao của thần Osiris. Đường thông hơi từ phòng Hoàng Hậu lại xếp thẳng với sao Sirius ngôi sao của thần Isis (Osiris và Isis là anh em ruột và cũng là vợ chồng).
    Hình ảnh trên trang robertbauval.co.uk
    Trong tín ngưỡng của người Ai Cập cổ đại có tục ướp xác, họ hi vọng rằng sau khi ướp xác linh hồn của họ sẽ được lên thiên đàng như các vị thần. Tục ướp xác được xuất phát từ truyền thuyết thần Osiris bị em trai mình là thần Seth giết xé làm 14 mảnh quăng đi khắp nơi, và sau đó được thần Isis tìm lại quấn thi thể trong lớp vải, nhưng thần Isis chỉ tìm được 13 phần thi thể còn lại 1 phần đó là bộ phận sinh dục, bộ phận đó được thần Isis làm lại bằng vàng. Sau đó nữ thần Isis trốn vào sông Nile trong 70 ngày và sau đó sinh hạ ra thần Horus, về sau Horus đi tìm Seth để báo thù cho cha. Quá trình 70 ngày kết thúc Osiris đã phục sinh, ông đã nhường lại ngôi báu cho con trai mình và trở thành vị vua cai quản cõi chết. Trong các tài liệu cổ, Osiris được miêu tả là một vị vua với nước da màu xanh (màu tượng trưng cho sự tái sinh), người dâng nước sông Nile. Thật là trùng hợp khi trong truyền thuyết có nhắc đến lục địa Mu với chủng tộc người da xanh. Phải chăng những con người đầu tiên đặt chân lên Ai Cập là những con người đến từ lục địa đã mất này? Họ đem theo những tri thức vĩ đại về khoa học, thiên văn học mà con người lúc bấy giờ cho rằng đó là sức mạnh của thần thánh. Quay lại với tục ướp xác, khi quá trình ướp xác diễn ra trong 70 ngày với đủ các phương thức bí truyền, xác của họ sẽ được đưa qua sông Nile. Sông Nile chính là biểu tượng của dải ngân hà (Milky Way), linh hồn người chết sẽ vượt qua ngân hà đến với thiên đàng nơi mà thần Osiris ngự trị.
    Nữ thần Isis đại diện cho sao Sirius, một ngôi sao rất quan trọng đối với người Ai Cập cổ. Trong quyển sách Echoes of Ancient Skies, tiến sĩ thiên văn khảo cổ học Ed Krupp viết:
    "Sau khi biến mất khỏi bầu trời đêm (trong 70 ngày) cuối cùng thì sao Sirius xuất hiện trở lại vào buổi bình minh trước khi mặt trời lên. Lần đầu tiên điều này xảy ra mỗi năm được gọi là ngôi sao mọc cùng lúc với mặt trời và trong ngày đó sao Sirius có thể nhìn thấy chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn trước khi bầu trời trở sáng. Trong Ai Cập cổ đại hiện tượng xuất hiện trở lại thường xuyên này của Sirius rơi gần đúng vào Hạ Chí và trùng với mùa lũ của sông Nile. Isis, đại diện cho Sirius, được gọi là "Nữ thần của năm mới".
    Năm mới của người Ai Cập được đặt theo sự kiện này. Các văn bản tế lễ năm mới ở Dendera nói rằng nữ thần Isis đi ra khỏi sông Nile và vì thế nước dâng lên. Theo nghĩa ẩn dụ là thiên văn học, thủy lực, tình dục và nó đồng nghĩa với những chức năng của thần Isis trong thần thoại. Sirius hồi sinh sông Nile cũng như Isis hồi sinh Osiris. Thời gian mà thần Isis trốn khỏi thần Seth là khi mà Sirius biến mất (70 ngày) trên bầu trời đêm. Nữ thần Isis sinh hạ ra thần Horus cũng như Sirius sinh ra năm mới và trong những đoạn văn thì Horus và năm mới được coi là như nhau. Thần Isis là phương tiện để tái sinh cuộc sống và trật tự. Tỏa sáng vào một thời khắc, một buổi sáng mùa hè, nữ thần đã khơi dậy sông Nile và bắt đầu một năm mới." Robert Bauval tin rằng tôn giáo của Ai Cập là khởi nguồn của đạo Thiên Chúa. Những câu chuyện về đạo Thiên Chúa được biến cải từ những truyền thuyết của Ai Cập, ví dụ như sự phục sinh. Thậm chí ở một số quốc gia trên châu Âu có thể thấy được đền thờ nữ thần Isis như Italia, Pháp, Đức, Anh, tất nhiên là hình ảnh của nữ thần Isis được truyền tải dưới một hình dạng khác. Vị hoàng đế Napoleon và toàn bộ những tướng lĩnh thân cận của mình đều là thành viên hội tam điểm khi đóng chiếm Ai Cập đã tiếp nhận những tri thức kì bí. Paris nơi thường được gọi là kinh đô ánh sáng cũng ẩn chứa một bí mật. Bí mật này nằm ở đại lộ Champs-Élysées được hướng 26 độ về phía đông nam, tạo góc chính xác với đường chân trời hướng tới ngôi sao của Isis (Sirius) mà từ Paris có thể nhìn thấy được. Paris có nghĩa là par-isis, for-Isis, một thành phố của nữ thần Isis.
    Những lí thuyết mà ông đưa ra bị bác bỏ bởi các bậc trí giả, lí do bởi vì ông không tìm ra được mối liên kết với những Kim Tự Tháp còn lại. Nhưng vài năm gần đây có một học giả lại tiếp tục đi theo hướng nghiên cứu của ông và công bố những lý thuyết hoàn toàn mới. Wayne Herchel đã nghiên cứu về những nền văn minh cổ trong suốt 17 năm, ông đã chứng minh rằng tượng nhân sư là chiếc chìa khóa để mở bí mật ẩn chứa đằng sau một bản đồ hợp nhất những Kim Tự Tháp hùng vĩ. Wayne Herchel phát hiện ra rằng góc giao với 3 quần thể kim tự tháp Giza trên mặt đất là hoàn toàn trùng khớp với góc của những ngôi sao sáng nhất trong chùm sao Leo, và chúng thẳng hàng với những quần thể sao hình thành vành đai Orion. Trên bầu trời đêm, Tượng Nhân Sư nhìn thấy chính hình ảnh phản chiếu của nó trong một tư thể thẳng đứng như chòm sao Leo.
    Ảnh từ trang web thehiddenrecords.com. Tác giả Wayne Herschel
    Ảnh từ trang web thehiddenrecords.com. Tác giả Wayne Herschel
    Herchel tiến hành một thử nghiệm để chứng minh tất cả các kim tự tháp ở Hạ Ai Cập đại diện cho các ngôi sao. Ông ta đã để những hình sao lên bản đồ vị trí những Kim Tự Tháp. Kết quả thật không tưởng tượng nổi. Tất cả những ngôi sao sáng nhất của chòm sao được biết đến trong giải ngân hà trùng khớp với những kim tự tháp ở dưới mặt đất. Tuy nhiên, có một số những ngôi sao quan trọng mà Kim Tự Tháp đại diện ở dưới mặt đất đã biến mất. Ví dụ ở Giza, Herchel đã tìm thấy 4 khu vực, vẫn chưa coi là di tích như kim tự tháp mà từ đó có thể sớm kết luận rằng chúng sẽ tạo thành một chòm sao Orion đầy đủ tại Giza.
    Ảnh từ trang web thehiddenrecords.com. Tác giả Wayne Herschel
    Ảnh từ trang web thehiddenrecords.com. Tác giả Wayne Herschel
    Những nghiên cứu của Herchel dựa theo những tri thức cổ xưa như của Hermes Trismegistus(Vị thần kết hợp giữa thần Hermes của Hy Lạp và thần Thoth của Ai Cập, hai vị thần chủ về chữ viết và pháp thuật). Trong đó Herchel chú trọng đến 1 khái niệm được đề cập trong The Emerald Tablet (Bản Bích Ngọc) của Hermes Trismegistus, “That which is Below corresponds to that which is Above, anh that which is Above, corresponds to that which is Below, to accomplish the miracles of the One Thing”. Câu rút gọn là As Above So Below. Có nghĩa là: Cái gì ở Dưới tương ứng với cái gì ở Trên, và cái gì ở Trên tương ứng với cái gì ở Dưới, để đạt tới những phép nhiệm màu của Nhất thể hoặc theo cách dịch khác: Vũ trụ này được tạo dựng theo một cơ cấu chung. Trên dưới như nhau, để cho thấy điều huyền diệu này tất cả là một.
    Qua những nghiên cứu của những nhà học giả trên, chúng ta thấy rằng người xưa đã có những am hiểu về thiên văn học đến mức siêu việt mà ngày chúng ta cần phải dùng đến sự trợ giúp của những thiết bị tối tân mới có thể hiểu được. Tất cả những thắc mắc của chúng ta vẫn cần phải nghiên cứu và giải đáp. Liệu có phải có một tri thức cổ xưa vĩ đại của những huyền thoại mà chúng ta chưa từng biết? Ngày này khoa học càng ngày càng phát và chúng ta lại càng nhận ra rằng chúng ta thật ngu muội biết bao. Chúng ta chỉ đang phát minh ra những cái cũ mà những nền văn minh kì bí đã trải qua trước đó rồi, dường như những tri thức cổ xưa đang bị lãng quên và bị coi là mê tín, tà ma, dị giáo. Hermes Trismegistus nói: "Ai Cập là một hình ảnh của thiên đường…tất cả vũ trụ đều ngự ở nơi đây" Thiên đường đó là tri thức mà rất có thể ngoài xa mạc Ai Cập kia vẫn còn đang ẩn chứa.

    THIÊN VĂN HỌC PHƯƠNG ĐÔNG: NHỮNG NHÀ THIÊN VĂN CỔ ĐẠI


    Những nhà thiên văn học chuyên sâu đầu tiên được thực sự ghi nhận trong lịch sử Trung Hoa là từ thời Chiến quốc (400 - 200 TCN), trong đó nổi tiếng nhất là Thạch Thân. Trong Sử Ký rằng: Thạch Thân (khoảng 350 TCN) là nhà thiên văn lịch pháp của nước Vệ, đã viết các tác phẩm gồm: Thiên văn (8 chương), Thiên Văn Chiêm (8 quyển), Thạch thị Hỗn Thiên đồ (1 quyển), Thạch thị Kinh bạc Tinh chiêm (thường gọi là Thạch thị Tinh kinh bạc chiêm - 1 quyển). Tập bản đồ vẽ khoảng 800 ngôi sao chia theo 122 chòm, theo truyền thuyết thì 28 chòm đã được Vu Hàm đời nhà Thương phân định.

    Tuy nhiên, theo một số thuyết về sau, Thạch Thị là tên gọi chung cho một nhóm học giả thời đó chứ không phải chỉ 1 người. Thạch thị Tinh kinh bạc chiêm bị thất lạc trong những thế kỷ sau, chỉ còn một số đồ hình các vì sao của nó được sao chép lại trong các thư tịch khác, mà còn giữ đến nay là Khai nguyên Chiêm kinh (thời đại Khai Nguyên nhà Đường – 729). Một bản sao khác của cuốn sách hiện được dòng họ Wakasugi ở Tokyo – Nhật Bản gìn giữ.

    Cách giải thích các hiện tượng của Thạch thị không tránh khỏi những hạn chế, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, chẳng hạn như đoạn sau: “Khi thiên tử sáng suốt, mặt trăng sẽ đi theo đúng hướng, khi thiên tử không minh, đại thần chiếm quyền, mặt trăng sẽ đi chệch đường”.

    Cùng thời với Thạch Thân là Cam Đức cũng là nhà thiên văn học, đã quan sát rất kỹ về các hiện tượng trên mặt trời, từ vết đen, vết trắng. Ông mô tả vết đen như đồng xu trên mặt trời, và giải thích Nhật thực chính là do vết đen ăn từ một phía ra, chiếm hết mặt trời.


    Tư Mã Thiên (145 – 87 TCN)


    Tư Mã Thiên

    Trong tác phẩm Sử Ký đồ sộ, Tư Mã Thiên - sử gia vĩ đại, đồng thời là một nhà thiên văn, địa lý kì tài thời thời Hán Vũ đế - đã dành hẳn một quyển là Thiên Quan thư để ghi chép về thiên văn, tập hợp kiến thức từ tiền nhân cũng như của bản thân ông. Tư Mã Thiên đã liệt kê hơn 1000 ngôi sao, cũng như ghi lại các hiện tượng đặc biệt của bầu trời. Thiên quan thư của ông là tác phẩm hoàn chỉnh sớm nhất còn đến nay, hầu như kết quả thiên văn trước đó đều được hệ thống lại, thêm vào đó là các kiến thức của bản thân ông. Những quan sát đó cho thấy những gì đã xảy ra hơn 2000 năm trước. Có thể ông đã tham khảo các bản của Thạch thị, nhưng những nhận xét đánh giá riêng của ông về Thiên tượng cũng có giá trị rất lớn, chẳng hạn trong việc phân chia màu sắc các sao .


    Kế tục Tư Mã Thiên, thái sử Ban Cố, tác giả bộ Hán Sử, cũng là một nhà thiên văn. Chính ông là người đã tìm ra chu kỳ 76 năm của sao chổi Halley, cũng như viết về quĩ đạo của các hành tinh. Tiếp theo ông, Đổng Trọng Thư cũng để lại dấu ấn của mình qua việc đoán được hiện tượng Nguyệt thực, thông qua việc tính toán từ các văn bản giáp cốt. Cho đến cuối thời Tam Quốc (200), các nhà thiên văn đã hệ thống lại các tài liệu, ghi lại tổng cộng 1464 sao trong 283 chòm.


    Trương Hoành (78 – 139)


    Đỉnh cao nhân loại về Thiên văn học cổ đại là Trương Hoành, đồng thời cũng là nhà địa lý, toán học, làm việc tại kinh đô Lạc Dương của nhà Hán. Sau nhiều năm dành cho nghiên cứu thiên văn, ông đã tìm ra quĩ đạo chính xác của 5 hành tinh trong Hệ mặt trời, ghi lại vị trí các sao được nhìn thấy bằng mắt thường. Những nhận định chính xác của ông về Hệ mặt trời khiến người thời đó không thể hiểu được. Ông cho rằng trái đất phải có hình tròn chứ không phải phẳng dẹt, bầu trời bao bọc bên ngoài, ánh trăng là phản chiếu của mặt trời, Nguyệt thực là do mặt trăng đi vào bóng của trái đất, và hình dáng tròn khuyết của mặt trăng là do góc độ nhìn khác nhau từ mặt đất.
    .
    Trương Hoành viết hơn 20 tác phẩm, trong quyển Hỗn Thiên chú ông viết:

    “Trời tròn giống như quả trứng, mà Đất giống như lòng đỏ, nằm lơ lửng ở chính giữa, bầu trời lớn hơn bao bọc xung quanh”

    Còn trong tác phẩm thiên văn Linh Hiến, ông đã vẽ vị trí các chòm sao và viết:

    “Trong bầu trời từ Bắc đến Nam có 124 chòm sao, gồm 2500 ngôi sao tỏa sáng, trong đó 320 ngôi đã được đặt tên; đó là chưa kể những sao mà những người đi biển nhìn thấy. Kể cả những sao rất bé thì tổng số là 11.520 ngôi”.

    Đặc biệt nhất là ông đã chế tạo một dụng cụ quan trắc thiên văn là Hỗn Thiên Nghi. Theo Hán Sử, Hỗn thiên nghi gồm những vòng đồng có chia khoảng, một Thiên cầu bằng đồng. Đường Hoàng đạo của Thiên cầu lệch với xích đạo một góc 24 độ ( chỉ sai 0,5 độ so với thực tế). Một chiếc ống thẳng để nhìn giúp ông xác định vị trí các sao theo hướng không sai lệch và không bị ánh sáng khác ảnh hưởng. Nhờ đó, các ngôi sao được đo đạc vị trí chính xác, điều mà chưa ai làm được trước đó. Sau đó, ông còn dùng sức nước đẩy quả cầu quay, mô tả chuyển động các sao, hiện tượng tròn khuyết của mặt trăng và Nguyệt thực được giải thích chính xác.



    Hỗn Thiên Nghi

    Một phần ra ngoài đề một chút, là các phát minh của Trương Hoành. Cũng giống như các nhà Thiên Văn học phương Tây thông thường là nhà Vật lý – Toán học, Trương Hoành còn có các phát minh trong nhiều lĩnh vực khác.

    Một sáng chế đáng chú ý của ông là thiết bị đo động đất. Nó gồm một bình đồng, có những cơ cấu nhậy với độ rung ở trong, bên ngoài là 8 con rồng ngậm hờ một quả cầu ở miệng, bên dưới là 8 con cóc quay về 8 hướng. Nếu có chấn động, quả cầu sẽ rơi xuống, và tùy tiếng động to hay nhỏ mà đoán động đất mạnh hay yếu.

    Hậu Hán thư viết lại rằng: năm 138, khi thấy quả cầu ở phía tây rơi xuống, Trương Hoành đã vội yến kiến và trình với vua rằng có động đất ở phía tây Lạc Dương. Vào ngày hôm đó không có gì xảy ra ở kinh đô, khiến ông bị những quan lại khác chỉ trích. Nhưng 2 ngày sau thì có tin báo là có động đất mạnh ở 1000 dặm phía tây Lạc Dương. Sự kiện này gây xôn xao triều đình.

    Ông cũng là người đã nêu ra cách tính tỉ số pi (p) bằng căn bậc 2 của 10, sai số với thực tế là khoảng 0.02. Đáng tiếc là do nhiều nguyên nhân, chỉ còn rất ít trong số các công trình của ông còn lại đến nay.


    Tổ Xung Chi (429 – 501)




    Tổ Xung Chi là nhà toán học và Thiên văn – Lịch pháp thời Nam Bắc triều.

    Ông là người đã tính toán chính xác các ngày Hạ chí, Đông chí hàng năm thông qua việc đo độ dài bóng của một cây gậy cắm thẳng đứng trên mặt đất. Từ đó hình thành cơ sở cho việc tính một loại lịch mới chính xác hơn Âm-dương lịch mà các vị vua đang dùng. Năm 462, ông đưa ra loại lịch mới, tính được độ dài năm giữa hai lần Xuân phân kế tiếp là 365,24281481 ngày (sai lệch 50 giây so với tính toán hiện đại), và độ dài của tháng mặt trăng là 27,21233 ngày (lệch 9 giây). Ông phát hiện thấy sự tiến động của ngày Xuân phân khiến cho năm nhiệt đới ngắn hơn so với năm mặt trời thực 21 phút, cũng như thấy rằng sau 7 chu kỳ 12 năm, Sao Mộc lại dôi ra khoảng 1/20 quỹ đạo của nó.

    Phát hiện đặc biệt quan trọng của ông trong Toán học là cách tính p bằng phân số 355/113, chính xác đến 6 số thập phân, và khá giản tiện. Sau một đo đạc chính xác khác, ông tuyên bố một vòng tròn có đường kính 10 triệu trượng thì có chu vi lớn hơn 31.415.926 và nhỏ hơn 31.415.927 trượng (tức là 3,1412516 < p < 3,1415927). Tên của ông được đặt cho một ngọn núi trên Mặt trăng.

    Trong thời Đường, Nhất Hành là một hòa thượng, cũng được ghi nhận với kết quả tính toán độ dài một cung 1 độ trên kinh tuyến là 351,27 dặm (tương đương 123,7 km) Ông cũng dựng một thiên cầu ở Trường An, mô tả chuyển động các sao, và vẽ đường biểu kiến chuyển động các hành tinh và các ngôi sao rất xa một cách chính xác.


    Tô Tống

    Một nhà lịch pháp và thiên văn đời Tống là Tô Tống đã quan sát mặt trời, mặt trăng và các vì sao, tạo ra một chiếc đồng hồ thiên văn chạy bằng nước rất tinh xảo. Trong Tống sử, sau khi đi sứ sang phía Tây và nhận ra sự khác biệt giữa cách tính ngày rằm giữa Trung hoa và một nước khác, ông về kinh năm 1090 và chế tạo chiếc đồng hồ thiên văn ở kinh đô Biện Lương. Chiếc đồng hồ thiên văn này cao gần 10m, ở tầng trên cùng có khung Hỗn thiên nghi và thiên cầu chạy bằng sức nước, dựa trên một hệ thống cơ khí rất phức tạp bên trong, cứ mỗi giờ lại có các tượng đồng gõ chuông, thiên cầu quay theo sự vận động của mặt trời mặt trăng. Theo ghi chép thì có đến hàng chục tượng đồng, vận hành hoàn toàn bằng sức nước.




    Tiếc rằng khi triều đại sau nối tiếp, ông vua mới đã không hiểu được ý nghĩa của phát minh trên, chiếc đồng hồ bị phá dỡ để lấy đồng.

    Ngày nay, ở Đài Loan vẫn còn trưng bày một phiên bản nhỏ hơn của chiếc đồng hồ Tô Tống.

    Nhất Hành (683 – 722)


    Nhất Hành là pháp hiệu của một hòa thượng đời Đường. Tại kinh đô Trường An khi đó ông cùng các đồ đệ đã dựng lên một Thiên cầu lớn được vận hành và chuyển động cùng với các thiên thể ban đêm trên bầu trời. Ông đã vẽ đường chuyển động của các hành tinh so với các vì sao khác một cách chính xác. Cho đến trước công trình của Halley năm 1718, đây là quỹ đạo chính xác nhất mà con người tìm ra


    Còn nhiều nhà Thiên văn – Lịch pháp nữa trong các triều đại sau, mà mỗi người đều để lại dấu ấn nhất định cho nền công việc nghiên cứu Vũ trụ, thiên nhiên. Những đóng góp của họ trong thời gian dài đã đem lại những kết quả lớn, đặc biệt trong việc tính lịch pháp.


    THIÊN VĂN HỌC PHƯƠNG ĐÔNG: NGŨ HÀNH VÀ CAN CHI


    Tư tưởng cấu tạo vật chất của thế giới từ 5 yếu tố không phải là chỉ của riêng người Trung Hoa. Thần thoại Hy Lạp kể rằng thế giới được sinh ra từ Vực thẳm Khaox (Chaos - Hỗn mang) thể hiện thành 5 nguyên lý: Đất Gaia, Tối tăm Vĩnh cửu Erèbe, Đêm tối Nix, Địa ngục Tartar, và Tình yêu Erox. Triêt gia Aristole cho rằng 5 nguyên tố cơ bản của thế giới là Nước, Lửa, Đất, Không khí, Ánh sáng,... Nhưng có lẽ không bộ 5 yếu tố nào lại có tính triết lý cao như Ngũ hành: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ của Trung Hoa. Bộ 5 này được hình thành có lẽ từ 5 ngón tay của con người, cũng tựa như cơ số 10 trong hệ đếm.

    Thuyết này xuất hiện từ đời nhà Tần (200 TCN), được củng cố phát triển trong thời Tây Hán. Lúc đầu 5 yếu tố là cấu tạo cụ thể, với các tính chất cụ thể:

    Kim: kim loại, cứng rắn, lạnh, cương mãnh, bền chắc
    Mộc: gỗ, cây, sống, tăng trưởng, dẻo dai, chịu đựng
    Thủy: nước, mềm mại, nhu thuận, sâu hiểm
    Hỏa: lửa, nóng, sáng, linh hoạt, sáng tạo
    Thổ: đất, đầy đặn, chịu đựng, nguồn của sinh sôi

    Nhưng rồi chúng được Triết lý hóa, trở thành Ngũ hành – 5 nguyên lý cơ bản của vật chất, gắn kết với mọi trạng thái triết lý từ Vật chất đến tinh thần

    Hành Kim: màu Trắng phương Tây mùa thu Mũi Phế (phổi)
    Hành Mộc: màu Xanh phương Đông mùa xuân Mắt Can (gan)
    Hành Thủy: màu Đen phương Bắc mùa đông Tai Thận
    Hành Hỏa: màu Đỏ phương Nam mùa hạ Lưỡi Tâm (tim)
    Hành Thổ: màu Vàng phương Trung ương (không) Miệng Tỳ

    Việc gắn phương hướng với các mùa và với Ngũ hành liên quan nhiều đến Thiên Văn. Người Trung hoa nhận thấy vào mùa Xuân thì đuôi của chòm sao Bắc Đẩu chỉ về phía Đông, mùa Thu chỉ về phía Tây, nên tương ứng mùa và phương. Như vậy chòm Bắc Đẩu thất tinh không phải chỉ là xác định phía Bắc, mà còn là sao chỉ phương và mùa trong văn hóa Trung Hoa.

    Hai quy luật tương tác biến dịch quan trọng là tương sinh và tương khắc trở thành nền tư duy cho nhiều học thuyết (tuy nhiên sẽ không xét kỹ ở đây, mà chỉ đi vào khía cạnh Thiên văn)

    Tương Sinh: Mộc sinh Hỏa - Hỏa sinh Thổ - Thổ sinh Kim - Kim sinh Thủy - Thủy sinh Mộc.
    Tương Khắc: Mộc khắc Thổ - Thổ khắc Thủy - Thủy khắc Hỏa - Hỏa khắc Kim - Kim khắc Mộc

    Về sau tư tưởng Ngũ hành được gán cho rất nhiều ý nghĩa, đi rất xa với tư tưởng gốc ban đầu. Cứ bộ 5 nào cũng thành Ngũ hành hết, chẳng hạn lý thuyết: Cái sinh Ta, cái Khắc Ta, Ta, cái Ta sinh, cái Ta khắc,…

    Dựa trên tư tưởng Ngũ hành, năm sắc độ sáng của các ngôi sao được phân chia (từ nguội đến nóng) là Đen – Đỏ - Vàng – Trắng – Xanh.

    Trên thực tế, các ngôi sao có màu sắc gần đúng như cách phân chia này:
    Nhiệt độ bề mặt dưới 2000 độ C, sao màu đỏ tối, chỉ phát bức xạ, gần như không nhìn thấy
    Nhiệt độ bề mặt 2000-5000 độ C, sao màu đỏ
    Nhiệt độ bề mặt 6000-9000 độ C, sao màu vàng
    Nhiệt độ bề mặt 10,000-15,000 độ C, sao màu trắng
    Nhiệt độ cao hơn nữa, hơn 20,000 độ C, màu xanh
    Mặt trời của chúng ta là ngôi sao trung bình màu vàng, nhiệt độ bề mặt khoảng 6500 độ, ứng với màu của hành Thổ

    Trong Thiên Quan thư, Tư Mã Thiên viết:

    “Muốn xem sắc trắng của tinh tú, hãy nhìn sao Thiên Lang; muốn xem sắc đỏ, hãy nhìn sao Tâm, muốn xem sắc vàng, hãy nhìn sao Sâm Tả, xem sắc xanh hãy nhìn sao Sâm Hữu, sắc đen thì nhìn sao Khuê“

    Cách phân chia đó khá đúng về màu sắc:
    Sao Thiên Lang (sao Sirius - chòm Canis Major), là ngôi sao đôi sáng chói nhất bầu trời
    Sao Tâm hay sao Thương (sao Antares – chòm Scorpius) có quang phổ M0, màu đỏ rất rõ
    Sao bên phải sao sao Sâm (sao Rigel - b chòm Orion), ngôi sao sáng thứ 7 bầu trời, quang phổ B2 màu xanh.
    Sao Khuê (sao d - chòm Andromeda) quang phổ M0 đỏ tối, trong con mắt Tư Mã Thiên là đen.



    Sao Thiên Lang - (sao Sirius - chòm Canis Major). Là Ngôi sao sáng nhât bầu trời



    Sao Tâm hay sao Thương (sao Antares – chòm Scorpius) có quang phổ M0, màu đỏ



    Sao Sâm (sao Rigel - b chòm Orion), ngôi sao sáng thứ 7 bầu trời, quang phổ B2 màu xanh


    Chỉ có Sao bên trái sao Sâm (sao Betelgeuse – a chòm Orion), ngôi sao sáng thứ 10 trên bầu trời, và là một trong thiên thể lớn nhất bầu trời quan sát thấy, mà dưới thời Tư Mã Thiên là màu vàng, thì ngày nay là ngôi sao rất lớn màu đỏ. Nghĩa là sau 2000 năm, ngôi sao đó đã nguội đi. Đó là hiện tượng nguội sao duy nhất mà loài người quan sát được trong lịch sử.



    Chòm Orion

    Và người Trung Hoa dùng Ngũ hành để đặt tên cho các hành tinh mà họ quan sát được, theo thứ tự từ mặt trời ra ngoài là Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh. Chính các hành tinh này và chu kì chuyển động của chúng là cơ sở tạo nên hệ đếm Can Chi.


    Thiên Can Địa Chi

    Can Chi chủ yếu dùng trong Lịch pháp, nhưng cũng có cơ sở từ quan sát Thiên Văn. Có lẽ do nằm ở vĩ độ cao, ngày Hạ chí mặt trời không thẳng đứng trên đỉnh đầu, cùng với việc canh tác nông nghiệp ít liên quan đến mặt trời hơn, nên Lịch pháp Trung hoa dựa vào Mặt trăng là chính. Việc dùng Can Chi tính ngày tháng đã xuất hiện vào cuối đời Thương (TK 12 TCN), việc gán tên con vật vào thì phải đến đầu công nguyên mới thực hiện.

    Khi quan sát quĩ đạo các hành tinh, họ lấy Bắc thiên cực làm gốc, rồi dựa theo 8 cung Bát quái (1) để xác định tọa độ. Sau rất nhiều năm quan sát và ghi chép lại, họ đưa ra các nhận xét của mình. Một số nhận xét về chu kỳ (trở về vị trí cũ trên bầu trời) của các Hành tinh như sau:

    Sao Thủy: khoảng ¼ năm
    Sao Kim khoảng 0,6 năm
    Sao Hỏa khoảng 2 năm
    Sao Mộc khoảng 12 năm
    Sao Thổ khoảng 30 năm.

    Các nhà làm lịch đã dùng 3 hành tinh là Hỏa, Mộc, Thổ làm chuẩn, bội số chung nhỏ nhất là 60, hay phải sau khoảng 60 năm, các hành tinh trên mới có được vị trí (tương đối với nhau) gần giống như cũ. Sao Hỏa sau 1 năm lại chuyển sang vị trí đối diện, rồi 1 năm sau lại về vị trí cũ, trở thành sao làm chuẩn cho chu kì 1 năm Âm 1 năm Dương. Sao Mộc có chu kỳ 12 năm được lấy làm chuẩn để tính năm, nên gọi là Tuế Tinh. Sao Thổ lâu nhất, gọi là Thiên Can.

    Sau khi kết hợp cả thuyết Ngũ hành và Âm Dương, thì con số 5 được chia 2, thành 10 Can, ứng với Ngũ hành, mỗi hành 1 Âm 1 Dương, còn 12 năm của Tuế Tinh thành Chi. Can Chi ra đời còn muộn hơn Ngũ hành, và càng muộn hơn thuyết Âm Dương, mãi khoảng đầu công nguyên mới có.

    Can (cán – thân cây) gồm: Giáp – Ất – Bính – Đinh – Mậu – Kỷ - Canh – Tân – Nhâm – Quý
    Chi (cành cây), gồm: Tí – Sửu – Dần – Mão – Thìn – Tỵ – Ngọ - Mùi – Thân – Dậu – Tuất – Hợi

    Trong đó: Giáp + Ất là là hành Mộc, Bính + Đinh là Hỏa, Mậu + Kỷ là Thổ, Canh + Tân là Kim, Nhâm + Quý là Thủy, cứ 1 âm 1 dương đổi nhau.

    Bản thân các từ của Can và Chi đều là quá trình sinh trưởng và phát triển của Cây cối:


    (I). Giáp : nẩy mầm
    (II). Ất : nhú lên mặt đất
    (III). Bính : đón ánh mặt trời
    (IV).Đinh : trưởng thành khỏe mạnh
    (V). Mậu : rậm rạp
    (VI). Kỉ : dấu hiệu hoa trái
    (VII). Canh : thay đổi
    (VIII). Tân : hoa quả mới
    (IX). Nhâm : thai nghén cho mùa sau
    (X). Quý : mầm đang chuyển hóa

    (1). Tý : mầm hút nước
    (2). Sửu : nẩy mầm trong đất
    (3). Dần : đội đất lên
    (4). Mão : rậm tốt
    (5). Thìn : tăng trưởng
    (6). Tỵ : phát triển
    (7). Ngọ : sung mãn hoàn toàn
    (8). Mùi : có quả chín
    (9). Thân : thân thể bắt đầu suy
    (10). Dậu : co lại
    (11).Tuất : khô úa héo tàn
    (12). Hợi : chết đi.

    Như vậy nguyên thủy các chi không phải là các con vật như mọi người vẫn nghĩ.

    Đến khoảng đầu Công nguyên, người Trung Hoa gán các chi với các con vật. Nguồn gốc của việc gán con vật không hoàn toàn rõ ràng. Có thuyết cho rằng nó gắn với truyền thuyết Phật giáo, thứ tự của 12 con vật là những loài đã đến từ biệt khi Phật Thích ca nhập Niết Bàn, và mới gọi là các con giáp, lần lượt là:

    Tí: Thử: Chuột
    Sửu: Ngưu: Trâu
    Dần: Hổ: Cọp
    Mão: Thố: Thỏ*
    Thìn: Long: Rồng
    Tỵ: Xà: Rắn
    Ngọ: Mã: Ngựa
    Mùi: Dương
    Thân: Hầu Khỉ
    Dậu:
    Tuất: Khuyển Chó
    Hợi: Trư Lợn
    *Riêng chi Mão thì ở Việt Nam là mèo chứ không phải thỏ

    Chi Ngọ đứng ở vị trí giữa, trong lịch pháp ứng với thời điểm giữa trưa. Ngọ môn mang hàm nghĩa là Sung mãn, trọn vẹn. Tại sao lại là 12 con vật này với 12 cung giờ trong ngày, có thuyết gắn với thời điểm loài vật hoạt động mạnh nhất. Có nhận xét cũng thú vị dựa vào số móng của các con vật, cứ một chắn đi kèm với một lẻ.

    Khi đó Can gọi là Hoa, Chi gọi là Giáp, nên Can Chi còn gọi là Hoa Giáp. Từ điểm bắt đầu là Giáp Tí (I.1) cho đến hết vòng là Quý Hợi (X.12), chỉ có số chẵn đi với chẵn, lẻ đi với lẻ, nên không thể có Giáp Sửu hay Quý Tuất.

    Trong thiên văn, khu vực của 12 cung còn ứng với 12 nước thời Xuân thu chiến quốc:
    Tí : Tề - Sửu: Ngô Việt - Dần: Yên – Mão: Tống – Thìn: Trịnh – Tỵ: Sở - Ngọ: Chu – Mùi: Tần – Thân: Vệ - Dậu: Triệu – Tuất: Tấn – Hợi

    12 Chi có ý nghĩa rất quan trọng trong tính Lịch pháp (thực chất là Âm-dương lịch) và thời tiết. Trong 1 năm chia ra 12 tháng, có 24 ngày tiết khí, cứ 1 tháng 2 ngày.

    Cùng với Ngũ hành, Can chi hay Hoa Giáp đã tạo thành một tư tưởng khép kín về chu kỳ vận động của Vũ trụ, với chu kỳ 60. Các thước đo thời gian đều được gắn với Can chi. Một ngày chia làm 12 giờ, một năm 12 tháng; 12 năm là một chu kỳ ngắn, 60 năm là một vòng “Lục thập Hoa giáp”, 3600 năm là một chu kỳ lớn của Vũ trụ. Khi viết năm, họ chỉ dùng can chi, nên phải thêm triều đại cai trị tương ứng mới đủ. Không chỉ thế, phương vị trên bầu trời cũng được chia ra 12 cung, khi xác định vị trí ngôi sao thì nói nó nằm trong cung nào.

    Sau khi hoàn chỉnh hệ Can Chi với chu kỳ 60 năm, người Trung Hoa gán cách tính lịch pháp này cho Hoàng Đế - vị vua thái cổ huyền thoại, người đặt ra các quy tắc cho con người, và lấy năm 2636 TCN làm năm đầu của chu kỳ này, gọi là Đại Nguyên niên, cho đến nay đã được 78 chu kỳ, hơn một Chu kỳ lớn (60 chu kỳ nhỏ).


    (1): Thuyết Âm Dương Bát quái là thuyết chủ đạo cổ nhất, trước Ngũ hành và Can Chi đến hàng nghìn năm, là thuyết chủ đạo quan trọng nhất, sẽ được trình bày ở phần sau. Cung Bát quái chia làm 8 cung, mỗi cung 45 độ.

    undefined

    THIÊN VĂN PHƯƠNG ĐÔNG


    Từ thời thượng cổ, vòm trời bao la đã được nhân loại trên Trái đất nhỏ bé chiêm ngưỡng. Tuy nhiên Vũ trụ hầu như vẫn giữ nguyên vẹn tính chất bí hiểm. Bởi trình độ khoa học chưa được tiến triển đến mức độ để có thể thỏa mãn sự tò mò của con người trong hàng chục thế kỷ.
    Từ thời thượng cổ, vòm trời bao la đã được nhân loại trên Trái đất nhỏ bé chiêm ngưỡng. Tuy nhiên Vũ trụ hầu như vẫn giữ nguyên vẹn tính chất bí hiểm. Bởi trình độ khoa học chưa được tiến triển đến mức độ để có thể thỏa mãn sự tò mò của con người trong hàng chục thế kỷ.
    Thiên văn được coi là một ngành ưu tiên ở các nước phương Đông vì những sự kiện xảy ra trên trời có liên quan đến đời sống của dân gian, đặc biệt là khí hậu và mùa màng. Buổi tối mùa hè, ta thường nhìn thấy chòm sao Thần Nông mọc ở hướng đông nam trong đó có một ngôi sao sáng, sao Alpha Antares ở ngay ven giải Ngân Hà.
    Chòm Thần Nông dường như đứng thẳng trên chân trời. Nếu ta nhìn lên vòm trời những buổi tối mùa thu, ta thấy Thần Nông cúi rạp về hướng chân trời tây nam trước khi lặn. Lúc đó là mùa gặt nên dân gian hình dung Thần Nông cúi xuống gặt lúa. 

    Đó là một phương tiện đơn giản, dựa trên xự thay đổi biểu kiến của các chòm sao, mà các nhà nông ngày xưa dùng để nhận định thời vụ. Sự chuyển động biểu kiến của các ngôi sao là do Trái đất tự quay chung quanh một trục xuyên qua cực bắc gần sao Bắc Đẩu (hình 1). Vòm trời quay được một vòng trong 23 giờ 56 phút 4 giây, cho nên mỗi ngày 24 tiếng, các sao trên trời dường như chuyển động nhanh hơn gần 4 phút. 

    Ở một thời điểm xác định, mỗi ngày vị trí của sao thay đổi chút ít trên vòm trời. Một chòm sao ta nhìn thấy những buổi tối mùa hạ có thể không hiện trên vòm trời những buổi tối mùa đông vì đã lặn xuống chân trời.

    Các học thuyết của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo về đạo lý con người và sự hài hòa với Vũ trụ có ảnh hưởng tới những lĩnh vực như thiên văn, địa lý và y dược. Chiêm tinh học dựa theo vị trí tinh tú để tiên đoán tương lai đã chiềm một địa vị quan trọng trong ngành thiên văn thời xưa. Bên Trung Quốc, những nhà thiên văn kiêm chiêm tinh học được liên hệ trực tiếp với triều đình và được tiếp đón ngay trong hoàng thành để chăm lo việc tế lễ. Tên và thứ bậc các vì sao trên vòm trời được ấn định theo mô hình thứ bậc trong triều đình. Sao Bắc Đẩu tượng trưng ngai Hoàng Đế và tất cả hệ thống sao quay chung quanh là các quan trong triều.

    Quan sát Vũ trụ ngày xưa chủ yếu để phục vụ ngành chiêm tinh bằng cách phát hiêẹn những sự kiện bất thường nhìn thấy bằng mắt trần trên vòm trời. Người Trung Quốc bắt đầu từ khoảng 1500 năm trước công nguyên, vào đời nhà Thương, đã khắc trên những mẩu xương những sự kiện thiên văn như nguyệt tực, nhật thực và sự xuất hiện đột ngột của những ngôi sao mới trên trời (hình 2). Mỗi khi sao chổi xuất hiện trên bầu trời, người ta cho rằng đó là điềm chẳng lành.

    Người Hy Lạp và A Rập ngày xưa hình dung sao chổi như một mớ tóc hay một lưỡi kiếm lửa bay trên không trung, tượng trưng sự căm giận của Thượng đế, gieo những thiên tai và tang tóc. Năm 1910 khi sao chổi Halley trở lại gần Trái đất, dân chúng thành phố San Francisco rất kinh hoàng vì sợ hít phải hơi độc cyanur phát hiện thấy trong đuôi sao chổi. Có người dùng mặt nạ để chống khí độc! 

    Thật ra dù có chất cyanur trong sao chổi, nhưng vì khí rất loãng nên không có ảnh hưởng đến cơ thể. Tất cả những sự hiện diện của sao chổi Halley trên bầu trời với chu kỳ 76 năm, lần nào cũng được quan sát và ghi chép trong sử Trung quốc từ 20 thế kỷ nay Chu kỳ 76 năm là do nhà thiên văn người Anh tên là Halley ở thé kỷ thứ 18 xác định. Sự kiện sao chổi này đã được ghi vào nhiều bức tranh, đặc biệt là tấm thảm ở tỉnh Bayeux của Pháp vào năm 1066. 

    Tuy nhiên trong "Thiên luận" (bàn về trời), Tuân Tử (313-230 TCN) đã có những tư tưởng tiến bộ bác bỏ thuyết cho rằng sao chổi xuất hiện thì điều chẳng lành.

    Những sự kiện bất thường xảy ra trên trời được cho là có ảnh hưởng tới những nhân vật và tiền đồ của cả nước và phải được ghi và theo dõi tỉ mỉ. Đó cũng là nhiệm vụ của nhà sử học đời nhà Chu (110 tới 481 TCN). 

    Bắt đầu từ thời Tây Hán (năm 206 TCN tới năm thứ 9 sau công nguyên) vì công việc của nhà sử học có phần bận bịu, nên nhiệm vụ thiên văn được tách rời và giqo phó cho các nhà chiêm tinh học. "Sao mới" hiện ra năm 185 (sau công nguyên) đã được coi là điềm xấu báo hiệu sự sụp đổ của triều Đông Hán. 

    Ai chểnh mảng trong công việc tiên đoán nhật thực và nguyệt thực đều có thể bị trừng trị. Để tránh sai lầm, những sự kiện phải quan sát thấy tại hai đài thiên văn mới được chấp nhận. Để xác định vị trí sao, vòm trời được chia thành 3 vòng và 28 "tú" như 28 múi cam. Sự chia vòm trời ra 28 túcó lẽ không phải là ngẫu nhiên mà để thuận tiện cho việc theo dõi vị trí của Mặt trăng. Vì tuần trăng vào khoảng 29 ngày và cứ vào khoảng 27 ngày thì Mặt trăng trở lại vị trí cũ trên trời.

    Nhiều sách viết trong đời nhà Chu có thể cho là những triều văn hiến nhất của Trung quốc ở thời đại thượng cổ, tiếc thay đã bị đốt theo lệnh của Tần Thủy Hoàng vào năm 213 TCN. Mục đích của vụ đốt kho tàng văn hóa quý báu này là để thủ tiêu những thành tựu có thể làm lu mờ công trình của đời nhà Tần. Các thi sĩ đời nhà Chu đã đặt những câu hỏi về Vũ trụ. Trong những bài thơ, Trời được coi là Cửu trùng (chín tầng). 

    Từ thời Chiến Quốc (thế kỷ thứ 5 tới thứ 3 TCN) tới thời Đông Hán (thế kỷ thứ 3 sau công nguyên) vấn đề Vũ trụ đã được đề cập. Trong "Sử ký" mục "Thiên quan" của Tư Mã Thiên, một nhà thiên văn và chiêm tinh đời Tây Hán, năm 90 TCN, có đề cập đến nhiều vấn đề thiên văn như quỹ đạo của các hành tinh, thiên thạch, nguyệt thực và nhật thực. 

    Hiện tượng "tuế sai của phân điểm" làm điểm xuân phân di chuyển từ từ (1 độ trong 72 năm) trong cung hoàng đạo, ngược chiều chuyển động biểu kiến Mặt trời đã được phát hiện từ thế kỷ thứ tư bởi nhà thiên văn Ngu Hỉ và ghi trong cuốn "An Thiên Luận". Điểm xuân phân là mốc của tọa độ trên vòm trời nên hiện tượng tuế sai có ảnh hưởng đến sự xác định vị trí của các thiên thể. Nguyên nhân của sự di chuyển của điểm xuân phân là vì trục quay của Trái đất bị đảo làm trái đất tự quay lắc lư như một con quay.

    Đến đời nhà Tống (960-1278), vị trí sao đã được xác định bằng những vòng đo hình cầu gọi là "hồn nghi" và "hồn tượng" (dụng cụ định vị trí và dạng hình thiên thể). Trong bộ Thông Chí Lược (năm 1150) có mục lục của hàng trăm tên sách đề cập những vấn đề như cấu trúc Vũ trụ, sự phân bố bầu trời ra những chòm sao, kỹ thuật đo lường với những dụng cụ thiên văn. 

    Thời gian của ngày, tháng, năm và nói chung là vấn đề làm lịch cũng là một trong những công việc được coi là quan trọng của nhà thiên văn thời xưa. Những lịch đầu tiên làm ở đời nhà Chu rất thô sơ và chỉ nói tới thời tiết và những tuần trăng. Đến đời nhà Đường, thế kỷ thứ 7, với sự cộng tác của các nhà thiên văn Ấn Độ ngụ tại Trung Quốc, việc làm lịch có phần hoàn hảo hơn. 

    Vào thế kỷ 13-15, đời nhà Nguyên và nhà Minh có cả sự cộng tác của các nhà thiên văn A Rập để đo vị trí các sao và lập ra lịch.

    Từ thế kỷ 16 đời nhà Minh đến thế kỷ 18 đời nhà Thanh, nhờ sự phát triển của ngành toán học do sự phát triển của khoa học tây phương, thiên văn vị trí và hệ thống lập ra lịch lại càng chính xác.

    Năm 1618, kính viễn vọng làm ở Tây phương lần đầu được mang sang Trung Quốc, và nguyên tắc cùng phương pháp sử dụng kính được trình bày trong "Viễn kính thuyết" (626). Nhật thực ngày 25 tháng 10 năm 1631 đã được quan sát bằng hai kính viễn vọng.
    Nguyễn Quang Riệu
    Ngày Hoàng đạo

    'Dù có học vấn và kiến thức cao thâm đến đâu, hãy vẫn cảm thấy mình còn thấp kém cần học hỏi, như vậy trí tuệ mới ngày một thăng tiến'. 

    Một cái ly chứa đầy nước sẽ không bao giờ nhận được nước thêm nữa, nước sẽ tràn ra ngoài. Có cảm thấy mình còn yếu kém mới cần học hỏi thêm, bằng không sẽ trở nên tự mãn thì sẽ giống như con thuyền không chèo chống, nó bị sức nước đẩy lui về sau vậy.

    Sách báo là phương tiện tôi luyện óc sáng tạo cho con người. Nó là người thầy dạy kiến thức ngoài trường đời và cũng là người bạn để giải buồn. Càng đọc sách báo để trau dồi trí tuệ thì nhân cách con người càng tao nhã, vì trí thức là một trong những điều kiện để phát huy tâm hồn cao thượng.

    Sách là công cụ truyền bá văn hóa, báo chí là phương tiện truyền thông, là khí giới đấu tranh cho chân lý. Một bài viết hay một cuốn sách dầu có dở đi chăng nữa, người viết cũng đã lao khổ với những dòng tư tưởng của họ, họ cũng đã mất nhiều thời giờ suy ngẫm mới viết ra được. Nếu đọc sách báo với ác ý, châm chích thì tự mình đã bỏ mất một cơ hội tốt. Biết đâu từ trong đó mình thu nhận được những lời hay ý đẹp, ngoại trừ những sách báo dâm ô thì không kể.

    Học giả Gibbon nói: 'Đọc sách để suy tư, chớ đừng đọc sách để khỏi suy nghĩ'.

    Nên biết cách đọc! Có nhiều người đọc sách báo mà rốt cuộc không thu được lợi ích gì cho kiến thức của họ cả. Đó là những người chỉ đọc một đoạn đầu, một đoạn giữa và một khúc đuôi... rồi xếp quyển sách hay tờ báo lại, cứ tưởng rằng mình đã hiểu biết những gì trong sách báo truyền đạt. Người nào muốn đọc sách báo để thu nhận thêm kiến thức, để giúp cho óc phán đoán thì đừng bao giờ đọc theo cách này!

    Có kẻ đọc sách báo để giải buồn, cũng có người đọc sách để tìm sự an ủi cho tinh thần khi bị đau khổ, mong tìm thấy sức mạnh thiêng liêng hầu giúp mình thêm can đảm nhẫn nại, vượt qua cảnh khổ của cuộc đời. 

    Cũng có người đọc sách báo để chứng tỏ ta đây là người hiểu biết thời sự nóng bỏng để tán gẫu trong lúc 'trà dư tửu hậu' hay 'cà phê luận' tại các quán sá. Đọc cách này, không những không có lợi cho kiến thức mà còn gây hại cho bản thân mình về sau, vì nó tạo cho mình thói quen nói dối khi bị 'bí' đề tài hoặc trình độ hiểu biết nông cạn. 

    Điểm tối kỵ là lợi dụng người chưa biết mình, tự tâng bốc, khoát lác ca tụng về sự hiểu biết của mình với hy vọng sẽ được cảm tình hoặc sự trọng nể của người đó. Đây là việc làm thiếu khôn ngoan nhất! Vì khi bị phát hiện là kẻ khoát lác, bản thân mình sẽ không còn đất dung thân, bị người cười chê suốt cả cuộc đời!

    Sách báo là nơi tập trung tin tức, cập nhật những tư tưởng mới, những sáng kiến, những kinh nghiệm trong đời sống... Do đó đọc thường xuyên để học hỏi, tự trau dồi khả năng và kinh nghiệm là điều tốt. 

    Người tốt nghiệp ra trường hơn 10 năm về trước, nếu không biết tự học hỏi trau dồi kiến thức nghề nghiệp thì bằng cấp của người đó không còn có giá trị nữa, nó chỉ là tấm giấy lộn để người đó nhìn vào, mù quáng tin rằng mình có thực tài... là tự mình lừa bịp mình thôi! Khoa học ngày càng tiến bộ chớ không ngưng đọng!

    Hãy tưởng tượng một kiến trúc sư ra trường vào thập niên 50, không đi làm việc đúng theo khả năng, không xem sách báo về ngành kiến trúc. Đến nay hơn 50 năm, kiến trúc sư này muốn hành nghề trở lại thì thật là... lỗi thời!

    Một bác sĩ ra trường năm 1960, chỉ hành nghề tại phòng mạch mà không chịu tu nghiệp thêm, không đọc sách báo về y khoa, đến năm 2006 thử hỏi kiến thức y khoa của bác sĩ này như thế nào? Sẽ cho lầm thuốc hay nặng về liều lượng thì chỉ hại người hại mình!

    Nghề võ cũng vậy, người mang đai nhị đẳng, nếu không tập luyện thường xuyên hay chịu khó theo dõi, trau dồi thêm kiến thức võ thuật trên sách báo thì sau 20 năm đầu óc người này trở nên lạc hậu. Bài quyền còn không nhớ, nói chi đến thi đấu? (không biết luật mới). 

    Tóm lại, đọc sách báo là việc tốt nhưng nếu biết suy luận và phân tích trong tinh thần học hỏi thì mới thực sự hữu ích hơn.

    Ngày xưa các nhà thiên văn tưởng tượng vùng trời trong vũ trụ có một vòng tròn lớn gọi là vòng Hoàng đạo. Họ đem chia vòng này thành 360 độ, hai bên gọi là miền Hoàng đạo, dùng bốn quẻ chánh của Bát quái: Càn, Khảm, Ly, Khôn phân thành bốn phương (bốn mùa). Dùng Thập nhị Địa chi bố trí bốn phương để chỉ bốn mùa cho 12 tháng. Sau đó họ phân nạp 7 tinh tú vào mỗi phương. Mười hai Địa chi sắp xếp theo chiều kim đồng hồ, còn Nhị thập Bát tú thì ngược chiều kim đồng hồ. Do đó sao Phòng đóng ở cung Mẹo là Xuân phân, sao Tinh đóng tại Ngọ là Hạ chí, sao Mão đóng ở cung Dậu là Thu phân, sao Hư đóng tại cung Tý là Đông chí.

    Sự chuyển động của Mặt trời và Mặt trăng là quan trọng hơn các tinh tú khác, nó gây ảnh hưởng lớn đến sự sống của vạn vật. 

    Sự chuyển động của Mặt trời tạo nên sự thay đổi khí hậu bốn mùa, nó cũng làm cho sự vận hành khí huyết trong cơ thể con người thay đổi theo. Thời tiết ấm áp của mùa Xuân thì khí huyết trong người dễ lưu thông, sông suối mạch nước dễ luân lưu. Ngược lại khí trời lạnh rét của mùa Đông thì khí huyết của con người bị ngưng trệ, mạch nước cũng bị đông đặc.

    Sự chuyển động của Mặt trăng gây ảnh hưởng đến thủy triều và sinh lý của con người, nhất là những người đang mang những chứng bệnh nan y như phong cùi, ung thư, tê thấp... Ngoài ra nó cũng ảnh hưởng đến việc ăn uống của thú vật, đặc biệt loại thú rừng sinh sống về đêm.

    Hệ thống vị trí của Nhị thập Bát tú được các nhà Thiên văn thiết lập theo quá trình xác định chuyển động của Mặt trời và Mặt trăng. Ngoài chuyển động của Mặt trời, Mặt trăng, sự vận chuyển của các hành tinh cũng tạo ra nhiều ảnh hưởng đối với vạn vật và đặc biệt nhất là đối với con người. Trong 5 hành tinh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ thì ảnh hưởng của Mộc tinh là lớn nhất. Người xưa gọi nó là Tuế tinh, khi xung nó tạo ra nhiều họa hại cho những mệnh nào bị chiếu. Ngày nay người ta biết khối lượng của thiên thể Mộc tinh lớn gấp 2.5 lần tổng khối lượng các hành tinh trong Thái dương hệ. Chu kỳ quay quanh Mặt trời là 12 năm, trong khoảng thời gian này Mộc tinh, mặt trời và trái đất ở vị trí khác nhau. Người ta cho rằng có thể nó là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc hình thành 12 kinh mạch trong thân thể con người.

    Con người sinh sống trong sự vận chuyển của các hành tinh (vật đổi sao dời), nên cuộc đời mỗi con người mỗi khác vì ảnh hưởng của các lành dữ của các hành tinh đó... 

    Theo các chiêm tinh gia, ngày Hoàng đạo là ngày có nhiều cát tinh hội tụ nên tốt lành. Vì thế các nhà Thuật số chọn ngày này để khai trương, xuất hành, cúng kiến, an táng... 

    Ngày Hoàng đạo

    Thông thường cuốn lịch của các chùa đều có ghi ngày Hoàng đạo. Các nhà Thuật số chia 12 tháng làm 6 cặp tháng, trong cặp tháng đó các ngày Hoàng đạo giống nhau như sau:

    - Tháng Giêng, Bảy: Ngày Tý, Thìn và Tỵ.

    - Tháng Hai, Tám: Ngày Dần, Ngọ và Mùi.

    - Tháng Ba, Chín: Ngày Thìn, Thân và Dậu.

    - Tháng Tư, Mười: Ngày Ngọ, Tuất và Hợi.

    - Tháng Năm, Mười Một: Ngày Thân Tý, và Sửu.

    - Tháng Sáu, Chạp: Ngày Tuất, Dần và Mẹo. 

    Cách bấm bàn tay
    Tính khởi tháng Giêng tại Tý, bấm cách tiết thuận hành để biết các tháng sau đó. Từ cung của tháng nào, bấm liên tiết thuận hành đến cung thứ 5 và 6. Hai Địa chi đó cũng là hai ngày Hoàng đạo kế tiếp. 

    * Cách bấm tính ngày đầu: Tính khởi tháng Giêng tại Tý bấm thuận hành cách tiết, tháng 2 tại Dần, 3 tại Thìn, 4 tại Ngọ, 5 tại Thân, 6 tại Tuất. Tháng 7 tại Tý trở lại, 8 tại Dần, 9 tại Thìn, tháng 10 tại Ngọ, tháng 11 tại Thân, tháng 12 tại Tuất.

    * Cách bấm tính 2 ngày sau: Bấm khởi tại tháng muốn tính đếm 1, bấm liên tiết thuận hành đến cung 5 và cung 6 là 2 ngày Hoàng đạo tiếp theo. 

    Thí dụ:

    - Tháng Giêng, ngày Tý bấm tại cung Tý đọc 1, Sửu đọc 2, Dần đọc 3, Mẹo đọc 4, Thìn đọc 5 và Tỵ đọc 6. Ngày 1: Tý; ngày 5: Thìn; ngày 6: Tỵ. Ngày Tý, Thìn, Tỵ là ngày Hoàng đạo của tháng Giêng và tháng Bảy. 

    - Tháng Ba, bấm cung Thìn đọc 1, Tỵ đọc 2, Ngọ đọc 3, Mùi đọc 4, Thân đọc 5, Dậu đọc 6. Ngày 1: Thìn; ngày 5: Thân; ngày 6: Dậu. Ngày Thìn, Thân, Dậu là ngày Hoàng đạo của tháng Ba và tháng Chín. 

    - Tháng Sáu, bấm cung Tuất đọc 1, Hợi đọc 2, Tý đọc 3, Sửu đọc 4, Dần đọc 5, Mẹo đọc 6. 1, 5 và 6 là ngày Tuất, Dần và Mẹo là ngày Hoàng đạo của tháng Sáu, tháng Chạp.

    * Xin lưu ý: Nếu ngày Hoàng đạo trùng ngày Ngũ kỵ thì ảnh hưởng tốt sẽ bị triệt tiêu. 

    Giờ Hoàng đạo
    Ngày Hoàng đạo là ngày tốt, nhưng nếu biết dụng giờ Hoàng đạo của ngày Hoàng đạo thì không có gì tốt cho bằng. Giờ Hoàng đạo của ngày: 

    - Tý, Ngọ: 1-3, 5-7 giờ sáng, 11-1 giờ trưa, 3-5 giờ chiều, 5-7 giờ tối, 11-1 giờ khuya.

    - Mẹo, Dậu: 11-1 giờ khuya, 3-5, 5-7 giờ sáng, 11-1 giờ trưa, 1-3, 5-7 giờ chiều. 

    - Thìn, Tuất: 1-3 giờ sáng, 7-9, 9-11 giờ trưa, 1-3 giờ chiều, 7-9 giờ tối, 11-1 giờ sáng.

    - Sửu, Mùi: 1-3 giờ sáng, 7-9 giờ sáng, 11-1, 1-3 giờ chiều, 7-9, 9-11 giờ tối.

    - Dần, Thân: 3-5 giờ sáng, 7-9, 9-11 giờ trưa, 3-5, 5-7 giờ tối, 9-11 giờ khuya.

    - Tỵ, Hợi: 3-5, 5-7 giờ sáng, 9-11 giờ trưa, 3-5 giờ chiều, 7-9, 9-11 giờ khuya.
    Ngày bất tương

    Lời thầy dạy 
    'Đừng vội kết luận theo lối chủ quan và tránh cãi vã với người'.

    Hãy nghe câu chuyện này: 

    Sau khi đi du lịch ở Alice Springs, vùng Northern Territory trở về, tất cả học sinh đều phải viết bài luận văn tả cảnh đá thần Uluru theo lời yêu cầu của người thầy. Trong lớp có hai người viết xong, trao đổi xem bài lẫn nhau trước khi nạp. Một lúc sau cả hai cãi vã, không ai chịu cho bài của người kia là đúng chỉ vì màu sắc của đá thần. Người thầy sau khi xem qua các bài luận văn đều gật đầu ngợi khen, nhất là bài của hai người. Thấy thế, một trong hai người lên tiếng khiếu nại:

    - Thưa thầy, nếu bài của con đúng thì bài của anh ta phải sai, hoặc bài của anh ta đúng thì bài của con sai, chớ không thể nào cả hai bài đều đúng được. Con tin rằng bài của con đúng, còn của anh ta thì sai. 

    Người thầy mỉm cười bảo:

    - Nếu con chịu nghĩ ra thời điểm khác nhau mà con và bạn của con tả màu sắc của đá thần thì con sẽ hiểu được cả hai đều đúng. Con tả đá thần vào buổi sáng sớm nên có màu xanh của núi, còn người bạn con tả đá thần vào buổi trưa nắng nên có ửng màu xám đỏ. Tại sao con bảo bài của con đúng, còn của bạn con sai? 

    Câu chuyện minh họa nêu trên cho chúng ta một bài học là nếu chưa hiểu được sự việc thì đừng bao giờ cho rằng mình đúng còn người thì sai. Chỉ có những bậc đại trí mới thấy được 'chân tướng' của sự vật, còn nếu là người bình thường thì khó lòng nhìn thấy. Cho nên nếu mình có giỏi hơn người khác, cũng chỉ ở một vài phương diện nào thôi, chớ không thể hơn về mọi mặt! 

    Sự vật thì vô thường, còn sự hiểu biết của mỗi con người có hạn, nên suy nghĩ lại, cố tránh cãi vã vì bất đồng quan điểm là điều nên làm. Được như vậy trong lòng mình sẽ thoải mái và nhẹ nhàng hơn. Hãy nhớ đây là chìa khóa của cánh cửa an lạc! Thiện tai!
    * * *
    Ngày xưa, trước khi dựng vợ gả chồng cho con cháu, các cụ thường nhờ người thầy xem tuổi của đôi trẻ để lương duyên của chúng khỏi bị 'nửa đường gẫy gánh' hay tránh cho chúng khỏi bị cảnh phu thê 'ly biệt' khi phạm 'cô phòng quả tú'. Ngày nay, quan niệm về hôn nhân đã thay đổi. Nam nữ 'phải lòng' thương yêu nhau thì việc cưới gả tiếp theo là lẽ thường tình. Cho dù ông bà cha mẹ biết trước sự đổ vỡ cũng không thể nào ngăn cản được! Thôi thì cứ xem như đôi trẻ có duyên 'tiền định' cho lòng mình thanh thản. Còn chúng có 'nợ' lâu dài với nhau hay không là còn tùy 'duyên phận'.



    Ở thập niên 50 trở về trước, người thầy xem tuổi để chọn đối tượng tốt theo yêu cầu thì không có tội. Thời đó con cái không được quyền tự do luyến ái, việc hỏi cưới đều nằm trong tầm tay, trong sự sắp đặt của ông bà cha mẹ. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Ngày nay, khi đôi trẻ đã 'phải lòng' nhau, người thầy xem thấy tuổi của hai trẻ bị kỵ hay không hạp, chắc chắn cha mẹ đôi bên bắt buộc phải 'chia loan rẽ thúy' thì thật là... Tội lỗi! Tội lỗi!

    Do đó, không xem tuổi hạp của 'lứa đôi' trong thời đại này thì không có gì sai trái, nhưng cũng cần nên biết ngày, tháng, năm kiêng kỵ trong việc gả cưới để giúp cho đôi trẻ sống hạnh phúc lâu dài bên nhau là điều tốt vậy! 

    Năm kỵ cưới gả
    Người xưa kỵ dựng vợ gả chồng vào năm kỵ cho nam và nữ theo tuổi ta như sau:

    * Nam: Bấm năm cầm tinh đếm 1, bấm liên tiết thuận hành theo bàn tay Địa chi đến cung thứ 8 là năm kỵ lấy vợ. Thí dụ: 

    - Nam tuổi Tý: Bấm Tý đếm 1, Sửu đếm 2, Dần đếm 3, Mẹo đếm 4, Thìn đếm 5, Tỵ đếm 6, Ngọ đếm 7 và Mùi đếm 8. Tuổi Tý kỵ cưới vợ năm Mùi.

    - Nam tuổi Dậu: Bấm Dậu đếm 1, Tuất đếm 2, Hợi đếm 3, Tý đếm 4, Sửu đếm 5, Dần đếm 6, Mẹo đếm 7 và Thìn đếm 8. Tuổi Dậu không nên lập gia đình vào năm Thìn.

    Bấm hết tuổi của 12 con giáp sẽ thấy các năm kỵ như sau:

    - Tuổi Tý kỵ năm Mùi. 
    - Tuổi Sửu kỵ năm Thân. 
    - Tuổi Dần kỵ năm Dậu. 
    - Tuổi Mẹo kỵ năm Tuất. 
    - Tuổi Thìn kỵ năm Hợi.
    - Tuổi Tỵ kỵ năm Tý. 
    - Tuổi Ngọ kỵ năm Sửu. 
    - Tuổi Mùi kỵ năm Dần. 
    - Tuổi Thân kỵ năm Mẹo. 
    - Tuổi Dậu kỵ năm Thìn. 
    - Tuổi Tuất kỵ năm Tỵ. 
    - Tuổi Hợi kỵ năm Ngọ.
    * Nữ: Không theo nguyên tắc như nam và tuổi kỵ lấy chồng vào các năm sau đây: 

    - Tuổi Tý kỵ năm Mẹo và tuổi Mẹo kỵ năm Tý. 
    - Tuổi Sửu kỵ năm Dần và tuổi Dần kỵ năm Sửu. 
    - Tuổi Thìn kỵ năm Hợi và tuổi Hợi kỵ năm Thìn. 
    - Tuổi Tỵ kỵ năm Tuất và tuổi Tuất kỵ năm Tỵ.
    - Tuổi Ngọ kỵ năm Dậu và tuổi Dậu kỵ năm Ngọ. 
    - Tuổi Thân kỵ năm Mùi và tuổi Mùi kỵ năm Thân.
    Ngày tốt 
    Các nhà Thuật số luôn chọn các ngày tốt để cưới gả, họ chọn:
    Ngày Bất tương.

    - Ngày có nhiều cát tinh như: Thiên Hỷ, Thiên Đức + Nguyệt Đức, Tam Hiệp, Ngũ hiệp, Lục hiệp. 

    - Ngày trực Bình, trực Định, trực Thành, trực Thâu.

    Ngày kiêng kỵ
    Nên tránh các ngày dưới đây:

    - Ngày Tam nương, Sát chủ dương và Nguyệt kỵ.

    - Ngày có hung tinh như: Trùng phục, Thiên hình, Thiên tặc, Địa tặc, Nguyệt phá, Nguyệt sát, Nguyệt hỏa, Nguyệt yểm, Vãng vong, Sát thê. 

    - Ngày kỵ tuổi (Thiên khắc, Địa xung).

    - Ngày trực Kiến, trực Phá, trực Nguy.

    Ngày bất tương
    Bất là không, tương là tương hợp. Nghĩa ở đây là không bị Âm tương, không bị Dương tương, không bị Cụ tương và bất tương là ngày đại kiết để dựng vợ gả chồng.

    - Âm tương: Can Âm (-) phối Chi Âm (-), kỵ cho nữ.

    - Dương tương: Can Dương (+) phối Chi Dương (+), kỵ cho nam.

    - Âm Dương cụ tương: Can Âm (-) phối hợp Chi Dương (+), nam nữ đều bị kỵ.

    - Âm Dương bất tương: Can Dương (+) hòa hợp với Chi Âm (-) thì tốt cho cả nam lẫn nữ.

    Ngày bất tương của mỗi tháng
    Để giúp độc giả dễ dàng tìm ngày bất tương, Vô Chiêu liệt kê các ngày này trong bảng phân chia theo từng tháng dưới đây. 

    Lời kết
    Kết luận theo lối chủ quan và cãi vã là thất sách, cho dù có hơn người cũng không mang lợi ích gì cho cuộc sống. Còn nếu như thua người, trong lòng hổ thẹn, buồn rầu sinh ra sân hận... là tự mình mở cửa địa ngục mà thôi!

    Cổ nhân nói: 'Không biết khiêm nhường, không biết hổ thẹn, không biết phải trái và không biết thương người thì không phải là... con người!'.

    Khiêm nhường là đầu mối của lễ.
    Hổ thẹn là đầu mối của nghĩa.
    Biết phải trái là đầu mối của trí.
    Lòng thương người là đầu mối của nhân.

    Người có đủ bốn đức tính 'lễ, nghĩa, trí, nhân' sẽ không bao giờ kết luận theo lối chủ quan hoặc cãi vã với người khác. Còn nếu như thiếu một hoặc hai trong bốn đức tính này mà chẳng chịu suy nghiệm để tu sửa là tự hủy hoại danh dự của mình mà thôi!
    Tìm sao của năm, tháng

    Lời thầy dạy: 'Hãy khiêm tốn nếu muốn tiếp nhận thêm trí tuệ và càng phải khiêm tốn hơn nữa khi đã đạt được đỉnh cao'.

    Tự cho mình là khôn ngoan, thông hiểu mọi sự việc trên đời là chướng ngại lớn ngăn chận sự tiếp nhận thêm trí tuệ. Kiêu căng tự phụ là một tánh nết xấu nhất ở trên đời này. Biết bao kẻ bị 'thân bại danh liệt', 'tán gia bại sản' cũng vì bản tánh 'tự cao tự đại'. Lòng kiêu hãnh chẳng những không cho phép người ta tiếp nhận thêm những điều mà họ không hiểu biết mà còn làm cho họ trở nên mù quáng. Khi làm hoặc nói về một vấn đề nào đó mà họ không biết, họ sẽ khoác lác để khỏa lấp sự ngu dốt của mình và như thế họ đã vấp thêm lầm lỗi! Tội lỗi! Tội lỗi!

    Nên ở vai trò của người học hỏi, chớ không nên là học trò. Người có lòng học hỏi luôn mang một tinh thần sảng khoái, sẵn sàng và mong được tiếp nhận thêm những điều mình không biết, mà quả thật mình chưa biết.

    Học hỏi khác với học tập. Học tập ở trường thường có tính căn bản, từ chương để trả bài và thi cử. Một học sinh chỉ học chương trình do bộ giáo dục đề ra còn không đủ thời gian, nói chi đến những vấn đề bao quát bên ngoài, chắc chắn rằng cậu ta hay cô ta không có thì giờ học hỏi được sự liên quan từ sách vở ngoài đời, hoặc từ kinh nghiệm của chính bản thân.

    Học tập đến hết bậc trung học, đại học hay cao nhất là lấy bằng tiến sĩ là hết. Còn học hỏi có tính cách trường kỳ hơn, còn sống là còn học hỏi. Tiến sĩ toán học nếu không chịu học hỏi về nghệ thuật làm vườn thì làm sao biết cách chăm sóc và làm đẹp khu vườn nhà?

    Học hỏi là học những gì liên quan đến từng sự việc, học qua kinh nghiệm của nhiều người. Lắng nghe hay đọc những gì người ta chỉ dạy rồi suy nghiệm xem có đúng hay không, hoặc kiểm chứng lại một cách cẩn thận. Người thầy có bổn phận giúp đỡ cho người học hiểu rõ ràng và tường tận sự việc mà ông ta muốn dạy hay đề cập tới. Dĩ nhiên người thầy được kính trọng khi nào dạy những điều đúng và thích đáng.

    Người học hỏi không nên quá tin tưởng và lệ thuộc vào người thầy mà phải có tinh thần hăng say tích cực bằng cách nêu ra những thắc mắc hoặc hỏi những gì mình chưa thông suốt. Ngoài ra người học hỏi cần phải tham khảo sách vở có liên quan đến sự việc mình đang tìm hiểu, luôn phân tích tìm ưu khuyết điểm và nghiệm lại thì mới đạt được kết quả.

    Cũng có khi người ta học hỏi qua một sự việc hay một sự kiện xảy trước mắt mà không cần thầy dạy, chẳng hạn như câu chuyện 'Thầy tôi là cây xoài' được người đời kể lại như sau:

    Ngày xưa, có một ông vua cùng đoàn tùy tùng đi thăm dân ở vùng yên bình. Trước khi đến tỉnh thành kế cận, họ băng qua một khu rừng hoang và trong đó có mấy cây xoài. Nhà vua thấy một cây xoài sai trái, trái chín nặng trĩu nên nhiều nhánh bị oằn xuống, vài cây không có trái bên cạnh thì cành nhánh cao hơn. Nhà vua là người thích ăn xoài, định trong bụng trên đường về kinh sẽ đích thân hái vài chục trái về cho hoàng hậu và công chúa cùng hưởng dụng. 

    Xong việc khi trở về, nhà vua thấy cây xoài sai trái bị gẫy cành, lá xác xơ và không còn một trái nào cả. Chợt hiểu ra rằng, đoàn tùy tùng của mình trước khi lên đường đã không dằn lòng ham muốn dùng binh khí chặt nhánh, dùng đá liệng cho rụng những trái trên cao và thậm chí còn leo lên cây làm gẫy cành... Là người có trí tuệ nên ông không buồn giận mà lại nghiệm ra được một điều lý thú rằng: Cây sai trái bị tàn phá thảm thương, còn cây không trái còn nguyên vẹn. Từ sự kiện này nhà vua học hỏi được một bài học: 'Càng có nhiều thì càng nhiều khổ đau, có ít thì ít bị đau khổ'. 

    Ngày hôm sau khi về đến cung điện, nhà vua đội vương miện lên đầu thái tử và nói: 'Kể từ bây giờ, con là vua của một nước, hãy sáng suốt mà trị vì thiên hạ'. Sau đó nhà vua rời cung vàng điện ngọc với bộ quần áo của người dân thường, ung dung thư thái đi về một nơi xa... Sau này có người thấy ông sống trăm tuổi vẫn vui tươi, an nhiên tự tại, họ hỏi: 'Thầy ông là ai?'. Ông ta trả lời: 'Thầy tôi là một cây xoài'.

    Các nhà thiên văn ngày xưa quan sát sự chuyển động của nhị thập bát tú mà dự đoán thời tiết, bên cạnh đó các nhà địa lý quan niệm rằng, các ngôi sao trên trời là nguồn gốc gây ra tai họa hay giáng phúc cho mỗi con người. 

    Tùy theo sinh vào năm của sao nào thì cầm tinh con vật tượng trưng của vì sao đó. Họ căn cứ vào tính chất của sao và tính chất của con vật cầm tinh mà luận đoán cát hung họa phúc. Nếu cát tinh chiếu thì được phúc lộc, còn hung tinh chiếu thì bị họa tai.

    Bởi thế cho nên khi cất nhà hoặc an táng người 'quá cố', người ta cần sao cát tinh chiếu vào cửa nhà hay mộ huyệt, họ kiêng kỵ hung tinh chiếu vào những nơi đó. 

    Nhị thập Bát tú là 28 vì sao. Dựa theo phương và hướng di chuyển của từng ngôi sao mà các nhà thiên văn chia nó ra thành 4 nhóm, mỗi nhóm có 7 ngôi sao và sắp xếp thứ tự theo bốn phương như sau:

    - Thanh long ở phương Đông: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ.

    - Huyền vũ ở phương Bắc: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích. 

    - Bạch Hổ ở phương Tây: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm.

    - Chu Tước ở phương Nam: Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn.

    Tính chất của mỗi vì sao
    1. Giác mộc giao (con cá sấu): Mộc tinh, sao tốt. Đỗ đạt, hôn nhân thành tựu. Kỵ an táng và cải táng. 
    2. Cang kim long (con rồng): Kim tinh, sao xấu. Kỵ gả cưới, xây cất. Dễ bị tai nạn.
    3. Đê thổ lạc (con nhím): Thổ tinh, sao xấu. Kỵ động thổ, xuất hành, khai trương và chôn cất. 
    4. Phòng nhựt thố (con thỏ): Thái dương, sao tốt. Hưng vượng về tài sản, thuận lợi trong việc chôn cất và xây cất. 
    5. Tâm nguyệt hồ (con chồn): Thái âm, sao xấu. Kỵ thưa kiện, gả cưới, xây cất. Thua lỗ trong việc kinh doanh. 
    6. Vĩ hỏa hổ (con cọp): Hỏa tinh, sao tốt. Hưng vượng, thuận lợi trong việc xây cất, xuất ngoại và hôn nhân.
    7. Cơ thủy báo (con beo): Thủy tinh, sao tốt. Vượng điền sản, sự nghiệp thăng tiến, gia đình an vui.
    8. Đẩu mộc giải (con cua): Mộc tinh, sao tốt. Nên sửa chữa, xây cất, an táng và cưới gả.
    9. Ngưu kim ngưu (con trâu): Kim tinh, sao xấu. Kỵ xây cất, hôn nhân.
    10. Nữ thổ bức (con dơi): Thổ tinh, sao xấu. Kỵ chôn cất, gả cưới. Bất lợi khi sanh đẻ. 
    11. Hư nhật thử (con chuột): Nhật tinh, sao xấu. Kỵ xây cất. Gia đạo bất hòa. 
    12. Nguy nguyệt yến (con én): Nguyệt tinh, sao xấu. Kỵ an táng, xây dựng, khai trương.
    13. Thất hỏa trư (con heo): Hỏa tinh, sao tốt. Tốt trong việc hôn nhân, xây cất, chôn cất và kinh doanh.
    14. Bích thủy du (con rái): Thủy tinh, sao tốt. Tốt cho việc mai táng, hôn nhân, xây cất. Kinh doanh thuận lợi. 
    15. Khuê mộc lang (con sói): Mộc tinh, sao xấu. Kỵ khai trương, động thổ, an táng và sửa cửa. 
    16. Lâu kim cẩu (con chó): Kim tinh, sao tốt. Tiền bạc dồi dào, học hành đỗ đạt, tốt trong việc cưới gả, xây cất.
    17. Vị thổ trĩ (con trĩ): Thổ tinh, sao tốt. Tốt cho việc xây cất, chôn cất, buôn bán và cưới gả. 
    18. Mão nhật kê (con gà): Nhật tinh, sao xấu. Tốt cho việc xây cất. Kỵ an táng, cưới gả và gắn hoặc sửa cửa.
    19. Tất nguyệt ô (con quạ): Nguyệt tinh, sao tốt. Mọi việc đều tốt đẹp.
    20. Chủy hỏa hầu (con khỉ): Hỏa tinh, sao xấu. Kỵ thưa kiện, xây cất, mai táng. Bất lợi trong việc thi cử. 
    21. Sâm thủy viên (con vượn): Thủy tinh, sao tốt. Tốt cho việc mua bán, xây cất và thi cử. Kỵ an táng và gả cưới.
    22. Tỉnh mộc can (con chim cú): Mộc tinh, sao tốt. Công danh thành đạt, thuận lợi cho việc chăn nuôi và xây cất. 
    23. Quỷ kim dương (con dê): Kim tinh, sao xấu. Thuận lợi trong việc chôn cất. Bất lợi cho việc xây cất và gả cưới. 
    24. Liễu thổ chướng (con cheo): Thổ tinh, sao xấu. Tiền bạc hao hụt, dễ bị tai nạn, gia đình không yên. Kỵ cưới gả. 
    25. Tinh nhật mã (con ngựa): Nhật tinh, sao xấu. Tốt trong việc xây cất, xấu trong việc an táng, hôn nhân, gia đình bất an.
    26. Trương nguyệt lộc (con nai): Nguyệt tinh, sao tốt. Thuận lợi cho việc mai táng, hôn nhân.
    27. Dực hỏa xà (con rắn): Hỏa tinh, sao xấu. Kỵ dựng nhà, chôn cất và cưới gả.
    28. Chẩn thủy dẫn (con trùng): Thủy tinh, sao tốt. Tốt cho việc xây dựng, gả cưới và an táng.

    Xác định sao của nămTheo chu kỳ thì 28 năm, sao sẽ trở lại như ban đầu, bắt đầu từ nhóm sao ở phương Tây (Bạch Hổ), xuống phương Nam (Chu Tước), lên phương Đông (Thanh long) và phương Bắc (Huyền vũ). 

    <195>
    Cách tính
    Sau Công nguyên, lấy số năm chia cho 28, nếu số dư bằng 0 thì năm đó do sao Khuê gây ảnh hưởng (số dư chớ không phải số thành), nếu số 1 = sao Lâu, số 2 = sao Vị... (xem bảng số bên dưới).

    Bắt đầu từ sao Khuê và theo thứ tự tiếp tục cộng 1. Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn, Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích.

    Thí dụ
    * Tìm sao gây ảnh hưởng cho năm 1990?

    Lấy số 1990 chia cho 28, số dư còn lại là 2. So vào bảng số tính năm cho sao thấy số 2 thuộc sao Vị. Vậy sao của năm 1990 là sao Vị (số thành là 71, không tính). 

    * Tìm sao gây ảnh hưởng cho năm 1996?

    Lấy số 1996 chia cho 28, số dư còn lại là 8. So vào bảng số thấy số 8 thuộc sao Quỷ. Vậy sao của năm 1996 là sao Quỷ. 

    * Tìm sao gây ảnh hưởng cho năm 2006?

    Lấy số 2006 chia cho 28, số dư còn lại là 18. So vào bảng số thấy số 18 thuộc sao Đê. Vậy sao của năm 2006 là sao Đê. 

    Xác định sao của tháng
    Tháng Giêng của năm sao Giác là sao Tâm. Mỗi tháng sao thay đổi. Chu kỳ của sao là 28. Một năm có 12 tháng, vì vậy chu kỳ của tháng là 12. Bội số chung nhỏ nhất của 28 và 12 là 84. Số 84 = 28 x 3 = 12 x 7. Như vậy theo chu kỳ 7 năm thì tháng Giêng và sao Tâm trùng trở lại. Chỉ cần tìm sao của tháng Giêng mỗi năm để tính các tháng kế tiếp. 

    Điều cần nhớ trong phương pháp xác định sao của tháng là: Năm tính theo dương lịch, còn tháng tính theo âm lịch.

    Cách tính
    * Đầu tiên lấy số năm muốn tính chia cho 7 để xem được bao nhiêu lần tháng Giêng (chu kỳ). Lấy số dư (D) nhân với 12 để được số tháng dư (T). Sẽ có hai trường hợp sau:

    - Nếu T + 5 > 28 thì lấy T + 5 - 28 = S. S là số sao của tháng Giêng cần tìm.

    - Nếu T + 5 < 28 thì chính T + 5 là số sao của tháng Giêng cần tìm vậy.

    Chú thích: Dấu > là lớn hơn; dấu < là nhỏ hơn. 

    * Tính tháng khởi đầu bằng sao Giác của chòm sao Thanh long ở phương Đông, tiếp theo là chòm sao Huyền vũ ở phương Bắc, kế đến là chòm sao Bạch hổ ở phương Tây và cuối cùng là chòm sao Chu tước ở phương Nam trở lại sao Giác như lúc khởi đầu bằng số 1, Cang 2, Đê 3, Phòng 4... Chẩn 28. Thứ tự 28 sao được sắp xếp như sau:

    Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn.

    * Biết được sao tháng Giêng của năm thì tính các tháng kế tiếp rất dễ dàng theo thứ tự các sao ghi trên.

    * Gặp tháng nhuần thì tính như tháng trước. Thí dụ như năm Bính Tuất (2006) là năm nhuần, nên có hai tháng 7. Tháng 7 đầu thuộc sao Đê thì tháng 7 nhuần sau cũng vẫn thuộc sao Đê, tháng 8 mới qua ảnh hưởng của sao Phòng. 

    Thí dụ
    * Tìm sao của tháng Giêng năm 1990?

    Lấy số 1990 chia cho 7, số dư còn lại là 2 (D). Lấy số dư 2 x 12 = 24 (T) + 5 = 29 (S). Vì S > 28, nên lấy số 29 - 28 = 1

    Vậy sao của tháng Giêng năm 1990 là sao Giác (S = 1). 

    * Tìm sao của tháng Giêng năm 1996?

    Lấy số 1996 chia cho 7, số dư còn lại là 1 (D). Lấy số dư 1 x 12 = 12 (T) + 5 = 17 (S).

    Vậy sao của tháng Giêng năm 1996 là sao Vị (S = 17). 

    * Tìm sao của tháng Giêng năm 2006?

    Lấy số 2006 chia cho 7, số dư còn lại là 4 (D). Lấy số dư 4 x 12 = 48 (T) + 5 = 53 (S).

    Vì S > 28, nên lấy số 53 - 28 = 25. Theo thứ tự số 25 là sao Tinh 

    Vậy sao của tháng Giêng năm 2006 là sao Tinh (S = 25). 

    Lời kết
    Cuộc đời tựa như biển cả, thường êm ả dù bên dưới có luồng hải lưu chuyển động không ngừng, nước thủy triều lên xuống và không có sóng to gió lớn. Nhưng đôi khi biển cả nổi sóng lớn cuồn cuộn sẵn sàng hủy diệt những gì ngăn chận nó. Người sống trên đời như đang cỡi trên lượn sóng đó, càng được nâng cao càng cảm thấy tràn đầy niềm vui để rồi trong nháy mắt bị lượn sóng đổ ụp xuống, chới với ngã té trong đau khổ và tuyệt vọng. Càng đeo đuổi niềm vui vật chất chừng nào thì càng chuốc lấy đớn đau sầu khổ chừng nấy. Đến chừng nghiệm ra thì... ôi thôi! lỗi tại ta mọi đàng!  

    Author Name

    {picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

    Biểu mẫu liên hệ

    Tên

    Email *

    Thông báo *

    Được tạo bởi Blogger.