bài viết trong chuyên mục "xem chân gà"

âm dương tổng luận bát trạch bát tự biểu phí bủa trú phù ấn phong thủy câu chuyện phong thủy cây cây cảnh đồ gỗ chon ngày giờ chuyện tâm linh danh sach web phật giáo dịch học dịch vụ dịch vụ và chi phí dương trạch đá phong thủy ĐẠO MẪU VÀ TỨ PHỦ đặt tên cho con sinh con le nghi voi tre nho địa lí phong thủy đồ đồng đồ gỗ đồ thờ đá đồ thờ gỗ đồ thờ gốm đồ thờ tổng hợp Gạch ngói giả cổ giải mộng điềm báo hóa giải phong thủy huyền không học khoa cúng khoa học phong thủy kiến thức đá phong thủy kiến thức vật phẩm kiến thức xây dựng kiến trúc phong thủy KY-SU-GOC-NHIN LA-KINH-PHONG-THUY lịch sử phong thủy liên hệ linh vật phong thủy Lời Phật Dạy mệnh số đời người ngày tiệc đản phật thánh nội thất pháp khi phong thủy pháp sư khoa nghi phật giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy chuyên sâu phong thủy cổng cửa đại môn giếng trời phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy cơ bản phong thủy cuối năm tết đầu xuân phong thủy địa danh phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nhà đất xây dựng phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy phòng thờ phong thủy số phong thủy tâm linh phong thủy thế giới phong thủy thông dụng phong thủy thời trang mua sắm phong thuy tiểu cảnh non bộ trang tri phù điêu đá quý phong thủy tổng hợp phong thủy tổng hợp 2016 phong thuy văn phòng phong tục tang lễ phong tục việt nam PHONG-THUY-AM-TRACH phongthuyviet thanh toán thầy phong thủy thế giới kiến trúc thiên văn Tín ngưỡng Dân gian tra sao hạn cung mệnh căn số đi lễ phật thánh tạ đất mộ hàng năm Tranh tiểu cảnh trấn trạch tử bình tứ trụ TƯ VẤN NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU tư vấn phong thủy tư vấn thiết kế tử vi tử vi trọn đời tự xem phong thủy cho nhà tướng pháp văn khấn thông dụng vật phẩm phong thủy vị tri cổng cửa đại môn bàn làm việc video áp vong gọi hồn video đạo mẫu tứ phủ video đền chùa việt video nghi lễ việt video phật giáo video phong thủy video tướng pháp việt hán nôm xây nhà mua nhà sửa cải tạo nhà cần biêt xem chân gà xem ngày giờ xem tuổi làm ăn kết hôn xây nhà căn đồng tu tập phật giáo xem tướng nốt ruồi xem tướng tay
Hiển thị các bài đăng có nhãn xem chân gà. Hiển thị tất cả bài đăng

Phép xem 20 cách

Cập 
Thấy đầu ngón cái ngay thẳng ống, có vẻ sắc tươi tỉnh, không ủ rũ co rụt lại, coi đó là được đại cát, cũng như vậy mà hung huyết không phạm, đó gọi là "Cách tươi cái".
1Tứ hỷ cách
Cách này là cả 3 ngón cùng thẳng lên, hình như không dựa vào nhau, không dính vào nhau, không rối ngoặc vào nhau, có màu sắc tươi tỉnh, đó là biểu tượng hoà hợp, đều đại cát vậy.
2- Kê ba cách
Là kiểu ba đầu ngón (của ngón trong, ngón cái và ngón ngoài) đều thứ tự gối đầu ngón vào nhau và cùng dựa vào nhau, giống như hình 3 người cùng cúi theo 1 chiều, mà cùng vẫy vời và đều có sắc tươi tỉnh, ấy là cách một nhà vui vẻ.
3- Phù cái cách
Kiểu này là: ở giữa cung ly (cung ly ở đầu ngón cái) với cung chấn và tốn như ghé vào hôn nhau, nhưng cung khảm và cung cấn lại không dính vào nhau (hơi xa cách bỏ trống) và có hỷ sắc (ở cung tốn tươi vui) ấy là biểu tượng: "Cầm giáo nhọn bền vậy, nếu ngón trong và ngoài đều như vậy là: cách nội ngoại phù cái".
4- Ủ cái cách
Kiểu này: ở đầu ngón cái co rụt, có sắc ủ rũ, đó là biểu tượng chủ sẽ chuyên tay biến chuyển (có biến cố tráo trở).
5- Tinh cái cách
Kiểu này có ba dóng của ngón trong cùng ghé vào ngón cái chút ít và như sợ hãi phải cúi theo, như cùng cúi vái chào, ấy là biểu tượng: "Lục khuyến" (là 6 đốt thúc đẩy nhau) nếu ngón trong và ngón ngoài đều như vậy, gọi là: "Cách dựa cái" (dựa vào ngón cái).
6- Nội náu cách
Kiểu này: Cung tốn ghé cúi vào cung ly, ly che dấu cho cung tốn, ấy là cách ẩn nấp, như vậy là mọi sự phải dè chừng nếu ngón ngoài ẩn nấp cũng vậy, gọi là "Cách ẩn nấp".
7- Nội ngăn cách
Là kiểu: ở giữa cung Tốn và cung cấn có ghé dính vào ngón giữa (ngón cái) nhưng cung trung không ghé dính gì với cung chấn, mà ở đầu cung tốn lại chọc vào cung ly, đó gọi là: "Kéo ngăn quá cái" ấy là biểu tượng mọi sự có trở ngại, không nên làm ẩy phải dè giặt.
8- Ngoại dương cách
(Còn gọi là ngoại ra tứ, nghĩa là ngoài uốn éo)
Kiểu này: ba dóng của ngón ngoài và ba dóng của ngón cái quay ngược nhau và chẳng quay vào ngón cái một chút nào.
Quẻ này nếu đem về: cầu quan, cầu tài, cầu hôn nhân là tối kỵ, nếu làm 3 việc trên đều chẳng đạt mà còn có hại.
9- Bổng cun cách
Kiểu này là: có ngón cun cúi xuống, chỏ vào cung khôn hay cung đoài như đóng cửa ngăn ngại, nếu ở ngón cái tươi, các điểm có kỷ sắc là có sự vui mừng, nếu ngón cái co rụt lại và cúi xuống là điểm độc dữ !
Nếu thấy bổng cun tươi cái mà xem về bệnh tật thì lại càng kỵ (độc), nếu bổng cun, cùng bổng cái thì đoán như vậy !
10- Liệp cun cách
Kiểu này: có ngón út dẵm séo lên và vượt qua, thấy ngón út đè lên các cung: càn, khảm, cấn, đó là biểu tượng phải trì hoãn sự việc lại.
11- Ngôi cái cách
Kiểu này giống như núi đá lởm chởm gập gềnh, nó là ngón cái cao cất bổng mặt, đó là biểu tượng không hy vọng, còn chơi vơi, không chắc được việc.
12- Nội nghịch cáu cách
Kiểu này có ngón trong xông ra ngoài, bỏ rời ngón cái, mà cúi xuống, thấy rõ ở bên phải đầu ngón  cái (chỗ cung ly), đó là mình đi tìm người khác, nếu ở chỗ đằng sau lưng có tươi là điềm mừng.
13- Ngoại quá cách
Là kiểu: ngón ngoài xông ra, rời ngón cái, cúi xuống dưới, thể hiện ở bên trái đầu ngón ấy là người ta tìm mình, như vậy phải nên đề phòng.
14- Máy động cách
Các đốt dưới của cả 3 ngón chằng dính liền nhau, mà ở đầu cung tốn lại tiếp giáp với cung ly, giống như gốc cây rưa tiếp nhận mũi tên (hoặc như mũi tên chọc vào cung ly), mà ngón cái lại gần tiểu chỉ (cun) ở cung ly ấy, vậy phải dựa vào bát quái mà xem, nếu ngón trong và ngón ngoài đều như thế, thì gọi là: "Cách cặp cổ" cách này tối độc.
15- Động đẵn cách
Là kiểu cung Ly ủ rũ co gục xuống, mà ngón có cung tốn lại vươn lên cao hơn, như lưỡi dao chặt lưng từ nửa cung ly trở xuống, coi đó là biểu tượng chủ nhà có sự canh cánh bên lòng và phải xem ngón cun chỉ vào cung nào, rồi dựa vào bát quái mà đoán. (Dù ngón trong hay ngón ngoài mà đều như vậy thì cũng cùng một phép đoán).
16- Ngoại hơn tứ cách
Kiểu này, còn gọi là thắng phụ chi hình, tức là thấy các cung: tốn, ly, khôn tranh nhau, cung ly lại cúi xuống, coi đó là: sẽ có sự đánh nhau, kiện nhau. Nếu tốn cao hơn khôn ấy là: "Nội hơn tứ cách". Khôn cao hơn tốn ấy là: "Ngoại hơn tứ cách".
17- Đề cái cách
Đầu cung ly co cúi, đầu khôn che dấu ở trên đầu cung ly, đó gọi là "Ngoại đè cái" (ngón ngoài đè trên cái), nếu ngón trong đè cái tất có loạn từ trong loạn ra ngoài đè cái hằn có biến bên ngoài vào (loạn từ ngoài tới).
18- Thức hầu cách
Đầu cung tốn sung chọc lại cung ly, ly cúi xuống dưới, ngón trong đè ngón cái, ngón ngoài vượt qua chèn ngón khác, đó là biểu hiện: "Bức gia" là nhà bị chèn ép.
19- Vãn nội cách
Ngón út chỉ bên tả, ấy là kéo ngón trong chỉ vào cung cấn dần, ấy là biểu hiện kho vựa bị tuôn ra (mọi sự độc). Nếu ngón út chỉ ngoài là "Vãn ngoại cách" cách này là tốt lành.
20- Tươi cái cách
Thấy đầu ngón cái ngay thẳng ống, có vẻ sắc tươi tỉnh, không ủ rũ co rụt lại, coi đó là được đại cát, cũng như vậy mà hung huyết không phạm, đó gọi là "Cách tươi cái".

Kết quả hình ảnh cho xem chan ga
                                             XEM CHÂN GÀ

Sách nầy do Bảo Trai Đường chép để lại từ ngày 7 tháng 7 năm Thiệu Trị thú bảy.
Theo lời Ông nầy nói :
Ta thuật lại lời của Thánh để di truyền cho đời sau nếu người nào quan tâm với đạo Thánh hiền mà bỏ tà quy chính , hãy dạy cho đấy! Sách nầy nói rõ nghĩa lý thông tường, rõ ràng huyết mạch, muôn phần không mất một.

Quyển "Khoa xem Chân gà" nầy .

Bảo Trai Đường
kính chép


Làm phương châm đoán về địa mạch.

(Dịch từ bản chữ Hán ra quốc ngữ)

Khi có trái đất, ban đầu còn mênh mang, hổn độn chưa có ai xét đoán được.
Đến thời kỳ có loài người mới phôi thai, có Cụ Bàn Cổ mới lập ra thái cực mà chia ra lưỡng nghi.

Đến thời kỳ qua Phục Hy mới định ra âm dương mà vạch ra bát quái.

Đến đời Văn Vương nhà Chu mới diễn ra Kinh Dịch.

Đến đời Xuân Thu có Ông Lỗ Ban va Đức Khổng tử mới lập ra hệ thống từ và chữ.

Đến đời Ông Lý Thuần mới làm ra Khoa bói tẩu mã.

Tiếp đến Bà Cữu Thiên Huyền Nữ Phạm thị Chân tiên sư lập ra Khoa bói Chân Gà nầy, đã thâu tóm các sự bí ẩn của Trời Đất , quán triệt được những niểm vui hoặc gở đưa lại cho nhân gian, lại biết được sự vận chuyễn của mạch cục , khí đất động lắng rắn mềm ...

Dùng ngón to (ngón giữa của chân Gà) làm vị trí của Huyền Vũ.
Định ngón cun (ngón út nhỏ ngắn) làm hệ Chu tước.
Lấy ngón trong của chân Gà làm hệ Thanh Long.
Dùng ngón ngoài của chân Gà làm hệ Bạch hổ.

Lấy cung Ngọ là Hỏa là vị trí của Đằng xà nên lấy cái đó làm Huyệt pháp .
Lấy cung giữa (còn gọi là đốt hay là dóng) ở ngòn giữa của chân gà làm cung Thổ là vị trí của Câu Trần.
Lấy đó mà định làm nơi tôn quý (là mồ mã tổ tiên giòng họ và về sau thuộc về giòng san nào).
Nếu vị trí Thổ lệch sang ngón trái thì lấy đó là vị trí Câu trần.
Nếu cung Thổ lệnh thiên sang ngón phải thì định là vị trí của Đằng xà đó cũng là vị trí chỉ cho về Lục Thân, nếu ở chổ đó có huyết hồng tươi là Chân long (tức là đất tốt có mạch).
Cung giữa của ngón giữa (ngón dài) còn gọi là cung Ngũ hào, nếu thấy hết sắc tươi và như tơ nhỏ ấy là huyệt đãi người hiền (cái huyệt đó) .
Thứ nữa là tìm Long mạch, định tên của các ngôi Bát quái mà biết được thịnh suy.
Lại nói rộng ra, xét các quẻ hào, nắm được mười đơn vị bảng thiên can như ở trên bàn tay: (10 đơn vị thiên can là : Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh,Tân,Nhâm,Quý) và khởi tính được ngũ hành : (ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hõa, Thổ).

Phải biết được âm dương có thuận? Phải xét trong ngoài, xếp đặt được các cung Bát quái:
Càn, Khãm, Cấn, Chấn, mà thấy ở đó huyền sắc trôi chảy, nguyên vẹn, không pha trộn, Dương trôi chảy là thuận.
Thấy âm chảy rẽ khác ra là nghịch. Xét ở cung : Tốn, Ly, Khôn, Đoài, cần gấp rút them vào : Thấy Sinh là lợi cho mình, thấy ngang ra là khắc , khac là ngược lại không hợp lý .
Không động ây là đất chỉ để mà tạm chôn mà thôi vì đó là đất không có mạch.
Thấy loạn động ấy là hồn phách không yên.
Có điểm đen ấy là phúc ít , họa nhiều . Thấy hưu tù tức là thấy huyết ở các cung nói trên có ngắt ngừng lại thì người nhà gặp tai ương , súc vật trong nhà sẽ ói chết bớt .
Riêng vị trí cung Ngọ thấy huyết hồng tươi loang lỗ là mộ đó ở về phương Nam có ám .
Thấy ở cung Tốn có hỷ sắc tươi tốt đó là điềm có bang bút chỉ khoa (ý nói là con cháu đổ đạt) . Ở nơi đầu mố thấy có huyết đọng là vượng lâu dài.
Các hào vị thấy có huyết đen, đỏ ngắt ngừng lại là phúc ít vì bị hãm .
Thấy ngón trong và ngón ngoài quay hướng vào nhau nghĩa là điềm mau chóng . Nếu ngón trong và ngón ngoài vẫy qua vắc lại (vênh váo không quay vào nhau) là hiện tượng chậm chạp.
Thấy trùng động là ba đầu móng ở ba đầu ngón, cả ba đều cúi cám gục lồng bên nhau hoặc trùng khắc (là xung khắc lồng lớp lên nhau) ; đó là cái thế sơn thuỷ bức bách xâm phạm mạnh (là sơn thủy cưỡng bách).
Thấy hỷ động , hỷ giao (là đầu ngón giữa ngẫng lên lại có ngón khác ở đầu móng cúi xuống và giao vào nhau) ấy là long hổ trùng điệp ứng gấp


Hoặc vị trí cung Càn thấy có huyết đọng lên đến cung Đoài ấy là mạch Kim uyển chuyễn vào Chùa hoặc Miếu nào đó.
Hoặc ở vi trí cung Chấn thấy có ám phá (là tối phá) lên đến cung Tốn phải đoán đó là ảnh hưởng gốc cây nhờ đó gió thổi vào, vậy là phương Đông có Chùa Phật đối lại (quay vào mộ đó), ở phương Nam có đền đài xung khắc với mộ đó .
Nếu thấy huyết đọng ở cung Khãm, ở cung Hợi và Tý , ắt là về phía bắc của mộ đó có thủy khuyết xấu , đó gọi là Huyền Vũ đoãn hiệp (là bị gò ép).
Hoặc là có huyết đọng ở cung Cấn, vị trí Sửu và Dần là ở phía đông bắc của ngôi mộ đó có Thổ bách ám, cái thế đó lộc thuốc bất minh (là trong nhà trong họ không yên)..
Nếu thấy ở vị trí Tý và Sửu đọng huyết thì lại xem Kim Mộc giao sung, ấy là nước mưa của Trời dội xuống động lại , hoặc là nước bùn lầy tràn vào phạm mà lay động hoặc nước hoàng tuyền ở cạnh đó cuốn thẳng đi . Hoặc sông ngòi nơi đồng trạch nước lớn mênh mông, bị nước phá sau đầu , hoặc nước trong thung lũng trên núi chảy thẳng vào hoặc ở nóc nhà nhà nào chẳng thẳng vào .
Xem kỷ vị trí cung cấn có loang lổ ẩn dấu là có thổ sơn .
Bằng thấy ở cung Khôn có sắc khí tươi tía thì luận : Táng ở nơi gò đất lớn lại có thần linh ở phương bắc chiếu và ở phương nam có đền trên đĩnh núi hoặc ở gò cao.


Nếu thấy ở cung Chấn động thì đoán là có 3 nhánh rễ cây xâm vào mộ .
Cung ở đốt Mão phương thì đoán là ở đó có bờ ruộng hoặc đường đi thằng phạm vào mộ .
Nếu chẳng là vậy thì có mộc khí cựu thần xung tới chân long cha93ng ứng (không hợp không cho kết phát).
Nếu thấy ngón đơn động kim thì hẳn bờ góc ruộng bắn thẳng vào mộ . Nếu không như vậy là mộc phú phong suy (gió thổi cái hơi gổ cây thối nát đưa vào) .
Nếu thấy vị trí cung Thân mờ tối hẳn là ngôi mộ đó bị núi che lấp bướng trước mặt như vậy thì con trai trong họ, trong nhà bị cuồng điên hoặc búi rụng tóc .
Nếu thấy hõa huyết động ở vị trí Tỵ và Ngọ và nếu thấy kim huyết loạn ở Mùi Thân là chôn mộ đó trước đây có gió tro than bếp lửa đã làm tắt hết khí hoặc trước đó đã có đá nhọn của núi sông đã phạm vào đến mạch đương hành .
Xem ở cung giữa có huyết thổ lẫn với huyết thủy ấy là có sâu kiến đang phá hoại xương cốt ; nếu thấy thủy thanh ấy là có loải lươn chạch vào quan tài hoặc vào tiểu .
Nếu thấy ở Khôn Cấn có loạn động thì đoán có nam giới chết trận .
Hoặc thấy cung Dần cung Thân có vết huyết như (cây) kim chỉ ngang hoặc ở Cấn Dần thấy sắc trong là thủy tận sơn cung . Nếu Dần và Dậu có hồng sắc loang lổ đát thiêng sinh nhân hào kiết .


Nếu thấy ngón cái co rút vào đảo ngược lại là đất chẳng được, người chết là do thiếu máu sợ hải, co dật chân tay mà chết .
Nếu nội ẩn (là ngón trong dấu đi) thì đoán là phi long. Nếu ngoại ẩn (ngón ngoài dấu đi) thì đoán là phi hổ.
Nếu ngón trong đè ngón cái ở chổ : hổ tý lại có huyết động , ấy là chu tước , phải đoán là mộ khô không có nước .
Nếu ở cung Ngọ thấy khô như lữa đốt vào nơi ấy là Huyền vũ thì không có người nối dõi vi phản huyệt (huyệt ngược, bất chính nên vong linh bất bình).
Đầu ngón cái ủ rũ , co rút lại, còn là “Long đoản sơn, khắc vong mệnh” . Còn có huyết đọng mà tươi là “Sơn chi long trường, mạch phu quan hài (là núi chắn rổng dài có mạch bổ sung cho quan tài hài cốt).
Nếu huyết loạn ở ngoài ngón là hổ không đủ chân .
Nếu huyết đọng ở trong ngón là thân rồng chẳng tốt .
Nếu 2 ngón nội và ngoại như đôi mi mắt chầu vào nhau, chầu ngang nhau, đó là Long Hổ đầu sát . Nếu huyết điểm ở ngón con (ngón nhỏ), ngón con lại chỉ vào ngón nội, phải đoán là : nội loan động , ắt phải đề phòng trộm cướp, dịch lệ (1), hõa tai .

(1) chũ dịch lệ nầy là bệnh dịch như dịch tả hay dịch hạch, dịch đậu

Nếu thấy huyết đen ở cung Khôn , cung Khôn ở ngón ngoài và ngón ngoài lại là Thổ thì ấy là (rất tiếc một hang chữ không đọc được) trộm đến cướp ngày lấy của cải của người và súc vật .
Nếu thấy máu sắc hồng tươi ở 2 cung Thân và Dậu đó là sẽ người “quân cơ anh hùng” .
Xét về 2 ngôi Chấn và Đoài có điểm thẩm đen , đó là con cháu dâm dục .
Thường xem ngón trong và ngón ngoài phù trợ tiếp nhau và ngón con (ngón út) chỉ lên không chỉ cao gần đến cung Ly cung Khãm ấy là mộ ở vi trí Bính, hướng Nhâm và xem hai cung : Càn Tốn thì lấy Tân Hợi và ngón con chỉ gần ngôi Tốn là mộ hoặc ở Tốn sang , nếu phân kim thì rõ chốn đó tức là mạch đất tốt vậy .
Nếu ngón con chỉ gần trên cung Khôn đó là ngôi hướng quý, nhìn về hướng Đinh .
Bằng ngón con chỉ vào giữa cung Khôn nên lấy tâm ở cung Cấn .
Cung Khôn có nhiều hồng huyết, nếu cung Cấn có nhiều sắc loang lổ va tươi hồng ở cung Khôn ít sự bên bệ (rời rạc) thì hoặc là Bính Thân hoặc Bính Dần .
Nếu chỉ vào cung Khôn là biểu thị con cháu có voi ngựa (ý nói con cháu sang giàu).
Nếu vào cung Chấn và Mão là thuộc vị tri Tân, lại thấu tươi tía là biểu thị có văn tinh bảng bút chi khoa (ý nói con cháu thi đổ ).

Nếu ở trên cung Chấn là vị trí chính Ất có sắc hồng và loạn, đó là cho biết sắp có sự kiện cáo, khẩu thiệt, quan phi (bị phạt lẽ trái phần mình).
Lấy cung Khôn là quẻ dâu rể.
Định vị trí Cấn Dần là kho tang . Quẻ hào Khôn ẩn vết là dâu rể không tốt lành .
Ở vị trí Cấn có nhiều loang lổ sắc, là mấu chốt kỳ lạ, quẻ ấy mà xung trong, lại hóa ra quẻ lành , nếu gấp lại là tốt lành, nếu ám đen là độc . Nếu ứng về Tây bắc là Kim tức Thủy vương, cửa thủy có chưa loại cá giải tụ hội.
Ở vị trí Đông Nam có hõa sinh minh đường, có chim phượng chầu, là cái thế Long Hổ trùng điêp; có sơn thủy lớp lớp, mạch hưng thịnh được lâu, hang năm lại càng hưng thịnh .

=o=

Phép xem chân gà

Muốn xem chân gà trước ngày đó phãi chay tịnh.
Đặt bàn thờ ở giữa sân, có bày hương đèn, trầu cau và chén nước trong tinh khiết.
Con gà sống phải rữa sạch chân. Tay trái cầm chân gà trái của ga . Tay mặt cầm chân gà mặt của gà, mà cầu khẩn rằng :

Kính tấu .
Thiên địa thần kỳ,
Kính xin :
Cửu thiên Huyền nữ Phạm thị Chân tiên nữ và chư thần linh bản thổ, bản gia, giáng lâm chứng tri minh bạch (xin hỏi việc gì thì khấn thêm).

Khấn xong thì đem con gà ấy giết ngay, hoặc để đến ngày hôm sau .

Trước khi giết phải nhổ lông cánh, lông đuôi, lông ở đầu gối và lấy vãy chân ở dưới đầu gối gà, mỗi thứ lấy 3 cái.

Khi luộc gà :
Luộc bằng 2 nồi riêng :
- mình con gà luộc riêng 1 nồi .
-3 thứ lông, vẫy và lông đuôi luộc riêng 1 nồi .

Nước đun từ khi đương lạnh .
Khi thấy nồi đun lông và vãy đã sùi sùi sôi thì bỏ đôi chân gà xuống đến đốt thứ hai.
Khi nhắc đôi chân gà đã lên thấy các đường huyết đã lộ rõ ra rồi thì thôi, lấy ra . Đừng để chân gà quá chín hoặc dối quá (chữ xưa : dối nghĩa là chưa chín).
Còn thân con gà cứ luộc cho chín kỷ, vớt ra đặt lên bàn để cúng với đôi chân gà.
Lễ xong thì đem xuống

Muốn xem việc gì thì :
-Lấy chân gà phải xem về việc cầu tài .
-Lấy chân gà trái xem vể bản mệnh .
Nếu xem 2 việc một chân gà thì dùng 3 gióng (hay gọi là đốt) : gióng trên, gióng giữa và gióng dưới .

Xem chân gà đoán thổ trạch.

Cứ tuần tự sau đây mà suy cho tường.
- Kim là Bia – Thổ là Gò đất
- Mộc là rường như sà nhà hoặc cầu qua sông.
- Hỏa là Thần miếu – Thủy là hồ ao.

Thổ mà có đới Hõa thì luận rằng nhà đấy nầy mua của nhà có người mới chết sao đây ?
Thể Kim mà gặp Mộc sinh Hõa, hẳn là mua đồ vật gì của người ăn trôm, có ngày nhầm sao (ý nói là mua nhằm của ăn trộm ăn cắp).
Mộc hoành mà đới Kim bảo là để bàn thờ uế tạp làm sao chẳng lành , lấy về dựng nhà làm chi .
Hỏa Kim bao đới ấy thì : mua đồng khí vật làm chi đấy mà . Cận tuần thế Hỏa trùng sinh Thủy bao đầu hóa gia đình gian truân , đoán rằng lữa uế uế như tẩm vào vào cốt Táo quân lạ thường.
Kim bao ngưu uế bên tường (phân trâu làm uế bên vách).
Thủy bao là lợn làm uế ở bên rõ rang.
Hõa bao Thổ bên ngoài là do người phóng uế nào ai biết gì .
Lại xem chính vị trí ở thể chính mà suy ra.
Mộc sinh Hõa, Hõa sinh Thổ đoán là nhà tốt.
Mộc sinh mà thây Kim ra thì đoán là nhà có gổ mục nát, luận vào chẳng sai .
Huyết theo bên ngoài ngón cái, đoán là nhà hai bếp hay hai bếp một nhà , rõ rành .
Thổ nguyên tổ địa (là nhà của tổ ) để dành lại cho.
Thế Hõa vận Thổ là mình tự lo, ngủ hành ứng bên ngoài lạ thay, đoán là đất mới mua của cùng chi tổ ngoại . Nếu mà thấy ngắt một hai đoạn, phải đoán là Thiên di thổ trạch, đoán mà chẳng sai đâu.
Thế bên hành hiện sinh ra, đoán là bếp núc mới làm lại gia cho tường .Hai bên thấy phiến xuyên ngang, luận rằng cái ngõ là đường vào ra . Thế cung ở trên hai đốt, lại giải rằng : Kim trầm (chìm sâu không lộ ra) là thờ Phật, luận vào như y . Thổ trầm trách chủ là ky . Mộc trầm thờ Thánh chi đây. Hõa trầm ấy là thờ Thần . Tả có Kim, Hữu có Hõa huyết bày ra, giao nha thế tiết là phải ân cần đèn nhang .

còn tiếp..
=o=
Xem chân gà là một môn khoa học cũng có nguồn gốc từ Kinh dịch mà ra đấy .
Ứng nghiệm nhất là xem về âm trach, mồ mả tổ tiên. Mà muốn linh thì trước hết tâm người muốn xem phải chính, phải thành tâm, con gà là vật cúng tế phải được nuôi tại gia chủ ít nhất là 3 ngày mới ngấm đủ âm dương địa khí của gia chủ. Sau đó trước khi cắt tiết gà đẻ cúng phải lập bàn thờ ở giữa sân ,mặt người gia chủ phải quay về hướng của " Quan "quản từng năm ( cái nầy thì phải học mới biết ) . Thành tâm thắp hương ,tay trái cầm cổ gà, tay phải để trước ngực theo tư thế bái phật, miệng khấn thần linh ( cái này cũng phải học ) và nói lên những ước nguyện của mình về những điều cần xem...sau khi khấn xong, đem gà đi cắt tiết, làm lông. Nhưng nhớ trước khi nhúng nước sôi, cần nhổ 3 cái lông ở sau gáy, 3 cái lông ở đuôi, 3 cái ở đầu gối phải, 3 cái ở đầu gối trái, tổng cộng là 12 cái lông để riêng ra 1 chỗ cẩn thận. Sau khi mổ và làm vệ sinh con gà sạch sẽ, cắt riêng 2 cẳng chân gà luộc riêng cùng với 12 cái lông lúc nẫy.Lưu ý luộc vừa chín tới , còn thân con gà thì luộc bình thường như mọi ngày .

Sau khi xong đặt cả gà và 2 chân lên bàn thờ gia tiên để cúng vái hết một tuần nhang, lúc đó thì có thể hạ lễ đem chân gà đi xem được.


Định ngón cun (ngón út nhỏ ngắn) làm hệ Chu tước. Lấy ngón trong của chân gà làm hệ Thanh Long. Dùng ngón ngoài của chân gà làm hệ Bạch hổ. Xem boi
boi tinh yeu
Xem bói chân gà- 20 cách xem chân gà cúng giỗ
"Dùng ngón to (ngón giữa của chân gà) làm vị trí của Huyền vũ.
Định ngón cun (ngón út nhỏ ngắn) làm hệ Chu tước.
Lấy ngón trong của chân gà làm hệ Thanh Long.
Dùng ngón ngoài của chân gà làm hệ Bạch hổ."
Lấy cung ngọ là hoả và là vị trí của Đằng xà, nên lấy cái đó làm huyệt pháp.
Lấy cung giữa (còn gọi là đốt hay gọi là dóng) ở ngón giữa của chân gà làm cung Thổ và là vị trí của câu Trần.
Lấy đó mà định làm nơi tôn quý, (là mồ mả tổ tiên và dòng họ về sau thuộc về dòng san nào).
Nếu vị trí Thổ lệch sang ngón trái, thì lấy đó là vị trí câu Trần.
Nếu cung Thổ lệch thiên sang ngón phải thì định đó là vị trí của Đằng xà, đó cũng là vị trí chỉ cho về lục Thân, nếu ở chỗ đó có huyết hồng tươi là Chân long (tức là đất tốt có mạch).
Cung giữa của ngón giữa (ngón dài) còn gọi là cung ngũ hào, nếu thấy huyết sắc tươi và như tơ nhỏ ấy là huyệt đãi người hiền (cái huyệt đó).
Thứ nữa là tìm Long mạch, định tên của các ngôi Bát quái mà biết được thịnh suy.
Lại nói rộng ra: sét các quẻ hào, nắm được mười đơn vị hàng thiên can như ở trên bàn tay:
(10 đơn vị Thiên can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và khởi tính được ngũ hành.
(Theo Phong thuy Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ).
Phải biết được Âm dương có thuận ? Phải xét trong ngoài, xếp đặt được các cung Bát quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn mà thấy ở đó huyền sắc trôi chảy, nguyên vẹn, không pha trộn, Dương trôi chảy là thuận.
Thấy âm chảy rẽ khác ra là nghịch. Xét ở cung: Tốn, Ly, Khôn, Đoài cần gấp rút thêm vào: Thấy sinh là lợi cho mình, thấy ngang ra là khắc, khắc là ngược lại (không hợp lý, bất lợi).
Không đọng ấy là đất chỉ để mộ tạm chôn mà thôi, vì đó là đất không có mạch.
Thấy loạn đọng ấy là hồn phách không yên.
Có điểm đen ấy là phúc ít, hoạ nhiều. Thấy hưu trù (tức là thấy huyết ở các cung nói trên có ngắt ngừng lại) thì người nhà gặp tai ương, súc vật trong nhà sẽ bị chết tiệt.
Riêng vị trí cung Ngọ thấy huyết hồng tươi loang lổ là mộ đó ở về phương nam có án.
Thấy ở cung Tốn có hỷ sắc (tươi tốt) đó là điềm có bảng bút chi khoa, (ý nói là cho con cháu đỗ đạt). Ở nơi đầu mối thấy có huyết đọng là vượng lâu dài.
Các hào vị có huyết hưu (huyết đến đó ngắt ngừng lại) là phúc bị ít vì bị hãm.
Thấy ngón trong và ngón ngoài quay hướng vào nhau đó là điều mau chóng, nếu thấy ngón trong và ngón ngoài vẫy qua, lắc lại (vênh váo không quay vào nhau) là hiện tượng chây chậm).
Thấy trùng động (là ba đầu móng ở 3 đầu ngón, cả ba đều cúi quắm gục lồng lên nhau) hoặc trùng khắc (là sung khắc lồng lớp lên nhau) đó là cái thế sơn thuỷ bức bách xâm phạm mạnh (là sơn thuỷ cưỡng bách).
Thấy hỷ động, hỷ giao (là có đầu ngón giữa ngẩng lên, lại có ngón khác ở đầu móng cúi xuống và giao vào nhau) ấy là Long Hổ trùng điệp ứng gấp.
Hoặc ở vị trí cung càn thấy có huyết đọng lên đến cung đoài, ấy là mạch Kim uyển chuyển vào chùa hoặc vào miếu nào đó.
Hoặc ở vị trí cung chấn thấy có ám phá (là tối phá) lên đến cung Tốn phải đoán đó là ảnh hưởng gốc cây và nhờ đó gió thổi vào, vậy là ở Phương Đông có chùa Phật đối lại (quay vào mộ đó), ở Phương Nam có đền đài xung khắc với mộ đó.
Nếu thấy huyết đọng ở cung Khảm, ở cung Hợi và Tý, ắt về phía Bắc của mộ đó có Thuỷ khuyết xấu, đó gọi là Huyền vũ đoản hiệp (là bị gò ép).
Hoặc có huyền đọng ở cung Cấn, ở vị trí Sửu và Dần, là ở phía Đông bắc của ngôi mộ đó có Thổ bách ám, cái thế đó lộc thuộc bất minh (là trong nhà trong họ không yên).
Nếu thấy ở vị trí Tý và Sửu đọng huyết thì lại xem Kim mộc giao sung, ấy là nước mưa của Trời dội xuống đọng lại, hoặc là nước bùn lầy tràn vào phạm mà lay động, hoặc nước hoàng tuyền ở cạnh đó cuốn thẳng đi, hoặc sông ngòi đầm trạch nước lớn mênh mông, bị nước phá sau đầu, hoặc nước trong thung lũng trên núi chẳng thấy vào hoặc ở nóc nhà nào chảy thẳng vào.
Xem kỹ vị trí cung Cấn nếu có loang lổ ẩn dấu là có thổ sơn.
Bằng thấy ở cung Khôn có sắc khí tươi tía thí luận: Táng ở nơi gò đất lớn, lại có thần linh tại phương Bắc chiếu và ở phương Nam có đền trên đỉnh núi hoặc ở gò cao.
Nếu thấy ở cung Chấn đọng thì đoán là: có ba nhánh rễ cây gỗ xâm vào mộ.
Cùng ở đốt mão phương, thì đoán là ở chỗ đó có bờ ruộng hoặc đường đi thẳng phạm vào mộ.
Nếu chẳng vậy thì có một khí cựu thần sung tới, chân long chẳng ứng (không hợp, không cho kết phát).
Nếu thấy ngón Lớn động lớn thì hằn bờ góc ruộng bắn thẳng vào mặt mộ. Nếu không như vậy là: mộc phủ phong suy (gió thổi cái hơi gỗ cây thối nát đưa vào).
Nếu vị trí cung Thân có thấy mờ tối, hẳn là ngôi mộ đó bị ngọn núi che lấp hướng trước mặt, như vậy thì con trai trong nhà, trong họ bị cuồng điên hoặc hủi rụng tóc.
Nếu thấy hoả huyết đọng ở vị trí cung Tý và Ngọ và thấy Kim huyết loạn ở Mùi Thân, là chốn mộ đó trước đây có gio than bếp lửa đã làm hết khí, hoặc trước có đá nhọn của núi sông vào phạm đến mạch, đương hành lại.
Xem tuong ở cung giữa có huyết thổ lẫn với huyết thuỷ, ấy là có sâu, kiến đang phá hoại xương cốt, nếu thấy thuỷ thanh ấy là có loài lươn chạch vào quan tài, hoặc vào tiểu.
Nếu thấy ở Khôn và Cấn có loạn động thì đoán: Nam giới chết trận.
Hoặc thấy ở cung Dần cung Thân có vết huyết như Kim chỉ ngang, hoặc ở Cấn Dần thấy sắc trong là thủy tận sơn cùng; Nếu ở Dần và Dậu thấy có hồng sắc loang lổ, là đất thiêng sinh nhân hào kiệt.
Nếu thấy ngón cái co rút lại và đảo ngược lại, là đất chẳng được, người chết sẽ thiếu máu sợ hãi co dật chân tay mà chết.
Nếu nội ẩn (là ngón trong dấu đi) thì đoán là phi long (rồng bay).
Nếu ngoại ẩn (ngón ngoài dấu đi) đoán là phi hổ (hổ bay).
Nếu ngón trong đè ngón cái ở chỗ: Hổ - Tý, lại có huyết đọng ấy là chu tước, phải đoán là mộ bị khô không có nước.
Nếu ở cung ngọ thấy khô như lửa đốt vào ấy là Huyền vũ, thì không có người nối dõi, vì phản huyệt (huyệt ngược), bất chính nên vong linh bất bình !
Đầu ngón cái ủ rũ co rút lại, còn là: "Long đoản Sơn, Khắc vong mệnh; huyết đọng, cái tươi là: "Sơn chỉ long trường, mạch phụ quan hài" (là núi chắn, rồng dài, có mạch bổ sung cho quan tài và hài cốt).
Nếu huyết loạn ở ngoài ngón, là hổ không đủ chân !
Nếu huyết đọng ở trong ngón, là thân rồng chẳng tốt.
Nếu hai ngón: nội và ngoài như đôi mi mắt chầu vào nhau, chầu ngang nhau, đó là Long Hổ đầu sát. Nếu huyết điểm ở ngón cun (ngón nhỏ), ngón cun lại chỉ vào ngón nội, phải đoán là: nội loạn động, ắt phải đề phòng trộm cướp, dịch lệ, hoả tai.
Nếu thấy huyết đen ở cung Khôn (cung Khôn ở ngón ngoài) và ngón ngoài lại cúi ra ngoài, đó là cái mối hại người hại vật, và là cái mối tranh tụng, hoặc bị trộm đêm cướp ngày lấy của cải và còn bị kinh khủng về người và súc vật.
Nếu thấy máu sắc hồng tươi ở hai cung: Thân và Dậu, đó là sẽ phát minh người "Quán cổ anh hùng".
Xem xét ở hai ngôi: Chấn và Đoài nếu có điểm thâm đen và thô (to), đó là con cháu dâm dục.
Thường xem ngón trong và ngón ngoài phù trợ tiếp nhau và ngón cun (út) chỉ lên không, chỉ cao gần đến cung ly, cung khảm ấy là mộ ở vị trí Bính hướng Nhâm, lại xem hai cung: càn tốn thì lấy Tân Hợi và ngón cun chỉ gần ngôi tốn, là mộ toạ Bính, hoặc ở tốn san, nếu như phân kim thì rõ chốn đó, tức là mạch đất tốt vậy.
Nếu ngón cun chỉ gần trên cung Khôn, đó là ngồi hướng quý, nhìn về hướng đinh.
Bằng ngón cun chỉ vào giữa cung Khôn, nên lấy tâm ở cung cấn.
Cung Khôn có nhiều hồng huyết, nếu cung Cấn có nhiều sắc loang lổ và tươi hồng ở cung Khôn, ít sự liên hệ (rời rạc) ở cung bên: hoặc Bính Thân hoặc Bính Dần.
Nếu chỉ vào dưới cung Khôn là biểu thị con cháu có voi ngựa (ý nói con cháu sang giầu).
Nếu vào cung Chấn và Mão là thuộc vị trí Tân, lại thấu tươi tía là biểu thị có văn tinh bảng bút chi khoa (ý nói con cháu thi đỗ).
Nếu ở cung Chấn là vị trí chính ất có sắc hồng và loạn, đó là cho biết sắp có sự kiện cáo, khẩu thiệt, quan phi (bị phạt lẽ trái về mình).
Lấy cung Khôn là quẻ dâu rể.
Định vị trí cấn dần là kho tàng. Quẻ Hào Khôn ẩn vết là dâu rể không tốt lành.
Ở vị trí cấn có nhiều loang lổ sắc, là mấu chốt kỳ lạ, quẻ ấy mà xung trong, lại hoá ra quẻ lành, nếu gấp lại là tốt lành, nếu ám đen là độc. Nếu ứng về Tây Bắc là Kim tức thuỷ vương, cửa thuỷ có chúa loài cá giải tụ hội.
Ở vị trí Đông Nam có hoả sinh minh đường, có chim phượng chầu, là cái thế Long hổ trùng điệp, có sơn thủy lớp lớp, mạch hưng thịnh được lâu, hàng năm lại càng hưng thịnh lên./.
20 Cách xem chân gà cúng
12 cung hoang dao
Xem chân gà- 20 cách xem chân gà cúng giỗ
Thấy đầu ngón cái ngay thẳng ống, có vẻ sắc tươi tỉnh, không ủ rũ co rụt lại, coi đó là được đại cát, cũng như vậy mà hung huyết không phạm, đó gọi là "Cách tươi cái".
1- Tứ hỷ cáchCách này là cả 3 ngón cùng thẳng lên, hình như không dựa vào nhau, không dính vào nhau, không rối ngoặc vào nhau, có màu sắc tươi tỉnh, đó là biểu tượng hoà hợp, đều đại cát vậy.
2- Kê ba cáchLà kiểu ba đầu ngón (của ngón trong, ngón cái và ngón ngoài) đều thứ tự gối đầu ngón vào nhau và cùng dựa vào nhau, giống như hình 3 người cùng cúi theo 1 chiều, mà cùng vẫy vời và đều có sắc tươi tỉnh, ấy là cách một nhà vui vẻ.
3- Phù cái cáchKiểu này là: ở giữa cung ly (cung ly ở đầu ngón cái) với cung chấn và tốn như ghé vào hôn nhau, nhưng cung khảm và cung cấn lại không dính vào nhau (hơi xa cách bỏ trống) và có hỷ sắc (ở cung tốn tươi vui) ấy là biểu tượng: "Cầm giáo nhọn bền vậy, nếu ngón trong và ngoài đều như vậy là: cách nội ngoại phù cái".
4- Ủ cái cáchKiểu này: ở đầu ngón cái co rụt, có sắc ủ rũ, đó là biểu tượng chủ sẽ chuyên tay biến chuyển (có biến cố tráo trở).
5- Tinh cái cáchKiểu này có ba dóng của ngón trong cùng ghé vào ngón cái chút ít và như sợ hãi phải cúi theo, như cùng cúi vái chào, ấy là biểu tượng: "Lục khuyến" (là 6 đốt thúc đẩy nhau) nếu ngón trong và ngón ngoài đều như vậy, gọi là: "Cách dựa cái" (dựa vào ngón cái).
6- Nội náu cáchKiểu này: Cung tốn ghé cúi vào cung ly, ly che dấu cho cung tốn, ấy là cách ẩn nấp, như vậy là mọi sự phải dè chừng nếu ngón ngoài ẩn nấp cũng vậy, gọi là "Cách ẩn nấp".
7- Nội ngăn cáchLà kiểu: ở giữa cung Tốn và cung cấn có ghé dính vào ngón giữa (ngón cái) nhưng cung trung không ghé dính gì với cung chấn, mà ở đầu cung tốn lại chọc vào cung ly, đó gọi là: "Kéo ngăn quá cái" ấy là biểu tượng mọi sự có trở ngại, không nên làm ẩy phải dè giặt.
8- Ngoại dương cách(Còn gọi là ngoại ra tứ, nghĩa là ngoài uốn éo)
Kiểu này: ba dóng của ngón ngoài và ba dóng của ngón cái quay ngược nhau và chẳng quay vào ngón cái một chút nào.
Quẻ này nếu đem về: cầu quan, cầu tài, cầu hôn nhân là tối kỵ, nếu làm 3 việc trên đều chẳng đạt mà còn có hại.
9- Bổng cun cáchKiểu này là: có ngón cun cúi xuống, chỏ vào cung khôn hay cung đoài như đóng cửa ngăn ngại, nếu ở ngón cái tươi, các điểm có kỷ sắc là có sự vui mừng, nếu ngón cái co rụt lại và cúi xuống là điểm độc dữ !
Nếu thấy bổng cun tươi cái mà xem về bệnh tật thì lại càng kỵ (độc), nếu bổng cun, cùng bổng cái thì đoán như vậy !
10- Liệp cun cáchKiểu này: có ngón út dẵm séo lên và vượt qua, thấy ngón út đè lên các cung: càn, khảm, cấn, đó là biểu tượng phải trì hoãn sự việc lại.
11- Ngôi cái cáchKiểu này giống như núi đá lởm chởm gập gềnh, nó là ngón cái cao cất bổng mặt, đó là biểu tượng không hy vọng, còn chơi vơi, không chắc được việc.
12- Nội nghịch cáu cáchKiểu này có ngón trong xông ra ngoài, bỏ rời ngón cái, mà cúi xuống, thấy rõ ở bên phải đầu ngón cái (chỗ cung ly), đó là mình đi tìm người khác, nếu ở chỗ đằng sau lưng có tươi là điềm mừng.
13- Ngoại quá cáchLà kiểu: ngón ngoài xông ra, rời ngón cái, cúi xuống dưới, thể hiện ở bên trái đầu ngón ấy là người ta tìm mình, như vậy phải nên đề phòng.
14- Máy động cáchCác đốt dưới của cả 3 ngón chằng dính liền nhau, mà ở đầu cung tốn lại tiếp giáp với cung ly, giống như gốc cây rưa tiếp nhận mũi tên (hoặc như mũi tên chọc vào cung ly), mà ngón cái lại gần tiểu chỉ (cun) ở cung ly ấy, vậy phải dựa vào bát quái mà xem, nếu ngón trong và ngón ngoài đều như thế, thì gọi là: "Cách cặp cổ" cách này tối độc.
15- Động đẵn cáchLà kiểu cung Ly ủ rũ co gục xuống, mà ngón có cung tốn lại vươn lên cao hơn, như lưỡi dao chặt lưng từ nửa cung ly trở xuống, coi đó là biểu tượng chủ nhà có sự canh cánh bên lòng và phải xem ngón cun chỉ vào cung nào, rồi dựa vào bát quái mà đoán. (Dù ngón trong hay ngón ngoài mà đều như vậy thì cũng cùng một phép đoán).
16- Ngoại hơn tứ cáchKiểu này, còn gọi là thắng phụ chi hình, tức là thấy các cung: tốn, ly, khôn tranh nhau, cung ly lại cúi xuống, coi đó là: sẽ có sự đánh nhau, kiện nhau. Nếu tốn cao hơn khôn ấy là: "Nội hơn tứ cách". Khôn cao hơn tốn ấy là: "Ngoại hơn tứ cách".
17- Đề cái cáchĐầu cung ly co cúi, đầu khôn che dấu ở trên đầu cung ly, đó gọi là "Ngoại đè cái" (ngón ngoài đè trên cái), nếu ngón trong đè cái tất có loạn từ trong loạn ra ngoài đè cái hằn có biến bên ngoài vào (loạn từ ngoài tới).
18- Thức hầu cáchĐầu cung tốn sung chọc lại cung ly, ly cúi xuống dưới, ngón trong đè ngón cái, ngón ngoài vượt qua chèn ngón khác, đó là biểu hiện: "Bức gia" là nhà bị chèn ép.
19- Vãn nội cáchNgón út chỉ bên tả, ấy là kéo ngón trong chỉ vào cung cấn dần, ấy là biểu hiện kho vựa bị tuôn ra (mọi sự độc). Nếu ngón út chỉ ngoài là "Vãn ngoại cách" cách này là tốt lành.
20- Tươi cái cáchThấy đầu ngón cái ngay thẳng ống, có vẻ sắc tươi tỉnh, không ủ rũ co rụt lại, coi đó là được đại cát, cũng như vậy mà hung huyết không phạm, đó gọi là "Cách tươi cái". 

Xem chân gà - 20 cách xem chân gà cúng giỗ


 Định ngón cun (ngón út nhỏ ngắn) làm hệ Chu tước. Lấy ngón trong của chân gà làm hệ Thanh Long. Dùng ngón ngoài của chân gà làm hệ Bạch hổ. Xem boi
boi tinh yeu
Xem bói chân gà- 20 cách xem chân gà cúng giỗ
"Dùng ngón to (ngón giữa của chân gà) làm vị trí của Huyền vũ.
Định ngón cun (ngón út nhỏ ngắn) làm hệ Chu tước.
Lấy ngón trong của chân gà làm hệ Thanh Long.
Dùng ngón ngoài của chân gà làm hệ Bạch hổ."
Lấy cung ngọ là hoả và là vị trí của Đằng xà, nên lấy cái đó làm huyệt pháp.
Lấy cung giữa (còn gọi là đốt hay gọi là dóng) ở ngón giữa của chân gà làm cung Thổ và là vị trí của câu Trần.
Lấy đó mà định làm nơi tôn quý, (là mồ mả tổ tiên và dòng họ về sau thuộc về dòng san nào).
Nếu vị trí Thổ lệch sang ngón trái, thì lấy đó là vị trí câu Trần.
Nếu cung Thổ lệch thiên sang ngón phải thì định đó là vị trí của Đằng xà, đó cũng là vị trí chỉ cho về lục Thân, nếu ở chỗ đó có huyết hồng tươi là Chân long (tức là đất tốt có mạch).
Cung giữa của ngón giữa (ngón dài) còn gọi là cung ngũ hào, nếu thấy huyết sắc tươi và như tơ nhỏ ấy là huyệt đãi người hiền (cái huyệt đó).
Thứ nữa là tìm Long mạch, định tên của các ngôi Bát quái mà biết được thịnh suy.
Lại nói rộng ra: sét các quẻ hào, nắm được mười đơn vị hàng thiên can như ở trên bàn tay:
(10 đơn vị Thiên can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và khởi tính được ngũ hành.
(Theo Phong thuy Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ).
Phải biết được Âm dương có thuận ? Phải xét trong ngoài, xếp đặt được các cung Bát quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn mà thấy ở đó huyền sắc trôi chảy, nguyên vẹn, không pha trộn, Dương trôi chảy là thuận.
Thấy âm chảy rẽ khác ra là nghịch. Xét ở cung: Tốn, Ly, Khôn, Đoài cần gấp rút thêm vào: Thấy sinh là lợi cho mình, thấy ngang ra là khắc, khắc là ngược lại (không hợp lý, bất lợi).
Không đọng ấy là đất chỉ để mộ tạm chôn mà thôi, vì đó là đất không có mạch.
Thấy loạn đọng ấy là hồn phách không yên.
Có điểm đen ấy là phúc ít, hoạ nhiều. Thấy hưu trù (tức là thấy huyết ở các cung nói trên có ngắt ngừng lại) thì người nhà gặp tai ương, súc vật trong nhà sẽ bị chết tiệt.
Riêng vị trí cung Ngọ thấy huyết hồng tươi loang lổ là mộ đó ở về phương nam có án.
Thấy ở cung Tốn có hỷ sắc (tươi tốt) đó là điềm có bảng bút chi khoa, (ý nói là cho con cháu đỗ đạt). Ở nơi đầu mối thấy có huyết đọng là vượng lâu dài.
Các hào vị có huyết hưu (huyết đến đó ngắt ngừng lại) là phúc bị ít vì bị hãm.
Thấy ngón trong và ngón ngoài quay hướng vào nhau đó là điều mau chóng, nếu thấy ngón trong và ngón ngoài vẫy qua, lắc lại (vênh váo không quay vào nhau) là hiện tượng chây chậm).
Thấy trùng động (là ba đầu móng ở 3 đầu ngón, cả ba đều cúi quắm gục lồng lên nhau) hoặc trùng khắc (là sung khắc lồng lớp lên nhau) đó là cái thế sơn thuỷ bức bách xâm phạm mạnh (là sơn thuỷ cưỡng bách).
Thấy hỷ động, hỷ giao (là có đầu ngón giữa ngẩng lên, lại có ngón khác ở đầu móng cúi xuống và giao vào nhau) ấy là Long Hổ trùng điệp ứng gấp.
Hoặc ở vị trí cung càn thấy có huyết đọng lên đến cung đoài, ấy là mạch Kim uyển chuyển vào chùa hoặc vào miếu nào đó.
Hoặc ở vị trí cung chấn thấy có ám phá (là tối phá) lên đến cung Tốn phải đoán đó là ảnh hưởng gốc cây và nhờ đó gió thổi vào, vậy là ở Phương Đông có chùa Phật đối lại (quay vào mộ đó), ở Phương Nam có đền đài xung khắc với mộ đó.
Nếu thấy huyết đọng ở cung Khảm, ở cung Hợi và Tý, ắt về phía Bắc của mộ đó có Thuỷ khuyết xấu, đó gọi là Huyền vũ đoản hiệp (là bị gò ép).
Hoặc có huyền đọng ở cung Cấn, ở vị trí Sửu và Dần, là ở phía Đông bắc của ngôi mộ đó có Thổ bách ám, cái thế đó lộc thuộc bất minh (là trong nhà trong họ không yên).
Nếu thấy ở vị trí Tý và Sửu đọng huyết thì lại xem Kim mộc giao sung, ấy là nước mưa của Trời dội xuống đọng lại, hoặc là nước bùn lầy tràn vào phạm mà lay động, hoặc nước hoàng tuyền ở cạnh đó cuốn thẳng đi, hoặc sông ngòi đầm trạch nước lớn mênh mông, bị nước phá sau đầu, hoặc nước trong thung lũng trên núi chẳng thấy vào hoặc ở nóc nhà nào chảy thẳng vào.
Xem kỹ vị trí cung Cấn nếu có loang lổ ẩn dấu là có thổ sơn.
Bằng thấy ở cung Khôn có sắc khí tươi tía thí luận: Táng ở nơi gò đất lớn, lại có thần linh tại phương Bắc chiếu và ở phương Nam có đền trên đỉnh núi hoặc ở gò cao.
Nếu thấy ở cung Chấn đọng thì đoán là: có ba nhánh rễ cây gỗ xâm vào mộ.
Cùng ở đốt mão phương, thì đoán là ở chỗ đó có bờ ruộng hoặc đường đi thẳng phạm vào mộ.
Nếu chẳng vậy thì có một khí cựu thần sung tới, chân long chẳng ứng (không hợp, không cho kết phát).
Nếu thấy ngón Lớn động lớn thì hằn bờ góc ruộng bắn thẳng vào mặt mộ. Nếu không như vậy là: mộc phủ phong suy (gió thổi cái hơi gỗ cây thối nát đưa vào).
Nếu vị trí cung Thân có thấy mờ tối, hẳn là ngôi mộ đó bị ngọn núi che lấp hướng trước mặt, như vậy thì con trai trong nhà, trong họ bị cuồng điên hoặc hủi rụng tóc.
Nếu thấy hoả huyết đọng ở vị trí cung Tý và Ngọ và thấy Kim huyết loạn ở Mùi Thân, là chốn mộ đó trước đây có gio than bếp lửa đã làm hết khí, hoặc trước có đá nhọn của núi sông vào phạm đến mạch, đương hành lại.
Xem tuong ở cung giữa có huyết thổ lẫn với huyết thuỷ, ấy là có sâu, kiến đang phá hoại xương cốt, nếu thấy thuỷ thanh ấy là có loài lươn chạch vào quan tài, hoặc vào tiểu.
Nếu thấy ở Khôn và Cấn có loạn động thì đoán: Nam giới chết trận.
Hoặc thấy ở cung Dần cung Thân có vết huyết như Kim chỉ ngang, hoặc ở Cấn Dần thấy sắc trong là thủy tận sơn cùng; Nếu ở Dần và Dậu thấy có hồng sắc loang lổ, là đất thiêng sinh nhân hào kiệt.
Nếu thấy ngón cái co rút lại và đảo ngược lại, là đất chẳng được, người chết sẽ thiếu máu sợ hãi co dật chân tay mà chết.
Nếu nội ẩn (là ngón trong dấu đi) thì đoán là phi long (rồng bay).
Nếu ngoại ẩn (ngón ngoài dấu đi) đoán là phi hổ (hổ bay).
Nếu ngón trong đè ngón cái ở chỗ: Hổ - Tý, lại có huyết đọng ấy là chu tước, phải đoán là mộ bị khô không có nước.
Nếu ở cung ngọ thấy khô như lửa đốt vào ấy là Huyền vũ, thì không có người nối dõi, vì phản huyệt (huyệt ngược), bất chính nên vong linh bất bình !
Đầu ngón cái ủ rũ co rút lại, còn là: "Long đoản Sơn, Khắc vong mệnh; huyết đọng, cái tươi là: "Sơn chỉ long trường, mạch phụ quan hài" (là núi chắn, rồng dài, có mạch bổ sung cho quan tài và hài cốt).
Nếu huyết loạn ở ngoài ngón, là hổ không đủ chân !
Nếu huyết đọng ở trong ngón, là thân rồng chẳng tốt.
Nếu hai ngón: nội và ngoài như đôi mi mắt chầu vào nhau, chầu ngang nhau, đó là Long Hổ đầu sát. Nếu huyết điểm ở ngón cun (ngón nhỏ), ngón cun lại chỉ vào ngón nội, phải đoán là: nội loạn động, ắt phải đề phòng trộm cướp, dịch lệ, hoả tai.
Nếu thấy huyết đen ở cung Khôn (cung Khôn ở ngón ngoài) và ngón ngoài lại cúi ra ngoài, đó là cái mối hại người hại vật, và là cái mối tranh tụng, hoặc bị trộm đêm cướp ngày lấy của cải và còn bị kinh khủng về người và súc vật.
Nếu thấy máu sắc hồng tươi ở hai cung: Thân và Dậu, đó là sẽ phát minh người "Quán cổ anh hùng".
Xem xét ở hai ngôi: Chấn và Đoài nếu có điểm thâm đen và thô (to), đó là con cháu dâm dục.
Thường xem ngón trong và ngón ngoài phù trợ tiếp nhau và ngón cun (út) chỉ lên không, chỉ cao gần đến cung ly, cung khảm ấy là mộ ở vị trí Bính hướng Nhâm, lại xem hai cung: càn tốn thì lấy Tân Hợi và ngón cun chỉ gần ngôi tốn, là mộ toạ Bính, hoặc ở tốn san, nếu như phân kim thì rõ chốn đó, tức là mạch đất tốt vậy.
Nếu ngón cun chỉ gần trên cung Khôn, đó là ngồi hướng quý, nhìn về hướng đinh.
Bằng ngón cun chỉ vào giữa cung Khôn, nên lấy tâm ở cung cấn.
Cung Khôn có nhiều hồng huyết, nếu cung Cấn có nhiều sắc loang lổ và tươi hồng ở cung Khôn, ít sự liên hệ (rời rạc) ở cung bên: hoặc Bính Thân hoặc Bính Dần.
Nếu chỉ vào dưới cung Khôn là biểu thị con cháu có voi ngựa (ý nói con cháu sang giầu).
Nếu vào cung Chấn và Mão là thuộc vị trí Tân, lại thấu tươi tía là biểu thị có văn tinh bảng bút chi khoa (ý nói con cháu thi đỗ).
Nếu ở cung Chấn là vị trí chính ất có sắc hồng và loạn, đó là cho biết sắp có sự kiện cáo, khẩu thiệt, quan phi (bị phạt lẽ trái về mình).
Lấy cung Khôn là quẻ dâu rể.
Định vị trí cấn dần là kho tàng. Quẻ Hào Khôn ẩn vết là dâu rể không tốt lành.
Ở vị trí cấn có nhiều loang lổ sắc, là mấu chốt kỳ lạ, quẻ ấy mà xung trong, lại hoá ra quẻ lành, nếu gấp lại là tốt lành, nếu ám đen là độc. Nếu ứng về Tây Bắc là Kim tức thuỷ vương, cửa thuỷ có chúa loài cá giải tụ hội.
Ở vị trí Đông Nam có hoả sinh minh đường, có chim phượng chầu, là cái thế Long hổ trùng điệp, có sơn thủy lớp lớp, mạch hưng thịnh được lâu, hàng năm lại càng hưng thịnh lên./.
20 Cách xem chân gà cúng
12 cung hoang dao
Xem chân gà- 20 cách xem chân gà cúng giỗ
Thấy đầu ngón cái ngay thẳng ống, có vẻ sắc tươi tỉnh, không ủ rũ co rụt lại, coi đó là được đại cát, cũng như vậy mà hung huyết không phạm, đó gọi là "Cách tươi cái".
1- Tứ hỷ cáchCách này là cả 3 ngón cùng thẳng lên, hình như không dựa vào nhau, không dính vào nhau, không rối ngoặc vào nhau, có màu sắc tươi tỉnh, đó là biểu tượng hoà hợp, đều đại cát vậy.
2- Kê ba cáchLà kiểu ba đầu ngón (của ngón trong, ngón cái và ngón ngoài) đều thứ tự gối đầu ngón vào nhau và cùng dựa vào nhau, giống như hình 3 người cùng cúi theo 1 chiều, mà cùng vẫy vời và đều có sắc tươi tỉnh, ấy là cách một nhà vui vẻ.
3- Phù cái cáchKiểu này là: ở giữa cung ly (cung ly ở đầu ngón cái) với cung chấn và tốn như ghé vào hôn nhau, nhưng cung khảm và cung cấn lại không dính vào nhau (hơi xa cách bỏ trống) và có hỷ sắc (ở cung tốn tươi vui) ấy là biểu tượng: "Cầm giáo nhọn bền vậy, nếu ngón trong và ngoài đều như vậy là: cách nội ngoại phù cái".
4- Ủ cái cáchKiểu này: ở đầu ngón cái co rụt, có sắc ủ rũ, đó là biểu tượng chủ sẽ chuyên tay biến chuyển (có biến cố tráo trở).
5- Tinh cái cáchKiểu này có ba dóng của ngón trong cùng ghé vào ngón cái chút ít và như sợ hãi phải cúi theo, như cùng cúi vái chào, ấy là biểu tượng: "Lục khuyến" (là 6 đốt thúc đẩy nhau) nếu ngón trong và ngón ngoài đều như vậy, gọi là: "Cách dựa cái" (dựa vào ngón cái).
6- Nội náu cáchKiểu này: Cung tốn ghé cúi vào cung ly, ly che dấu cho cung tốn, ấy là cách ẩn nấp, như vậy là mọi sự phải dè chừng nếu ngón ngoài ẩn nấp cũng vậy, gọi là "Cách ẩn nấp".
7- Nội ngăn cáchLà kiểu: ở giữa cung Tốn và cung cấn có ghé dính vào ngón giữa (ngón cái) nhưng cung trung không ghé dính gì với cung chấn, mà ở đầu cung tốn lại chọc vào cung ly, đó gọi là: "Kéo ngăn quá cái" ấy là biểu tượng mọi sự có trở ngại, không nên làm ẩy phải dè giặt.
8- Ngoại dương cách(Còn gọi là ngoại ra tứ, nghĩa là ngoài uốn éo)
Kiểu này: ba dóng của ngón ngoài và ba dóng của ngón cái quay ngược nhau và chẳng quay vào ngón cái một chút nào.
Quẻ này nếu đem về: cầu quan, cầu tài, cầu hôn nhân là tối kỵ, nếu làm 3 việc trên đều chẳng đạt mà còn có hại.
9- Bổng cun cáchKiểu này là: có ngón cun cúi xuống, chỏ vào cung khôn hay cung đoài như đóng cửa ngăn ngại, nếu ở ngón cái tươi, các điểm có kỷ sắc là có sự vui mừng, nếu ngón cái co rụt lại và cúi xuống là điểm độc dữ !
Nếu thấy bổng cun tươi cái mà xem về bệnh tật thì lại càng kỵ (độc), nếu bổng cun, cùng bổng cái thì đoán như vậy !
10- Liệp cun cáchKiểu này: có ngón út dẵm séo lên và vượt qua, thấy ngón út đè lên các cung: càn, khảm, cấn, đó là biểu tượng phải trì hoãn sự việc lại.
11- Ngôi cái cáchKiểu này giống như núi đá lởm chởm gập gềnh, nó là ngón cái cao cất bổng mặt, đó là biểu tượng không hy vọng, còn chơi vơi, không chắc được việc.
12- Nội nghịch cáu cáchKiểu này có ngón trong xông ra ngoài, bỏ rời ngón cái, mà cúi xuống, thấy rõ ở bên phải đầu ngón cái (chỗ cung ly), đó là mình đi tìm người khác, nếu ở chỗ đằng sau lưng có tươi là điềm mừng.
13- Ngoại quá cáchLà kiểu: ngón ngoài xông ra, rời ngón cái, cúi xuống dưới, thể hiện ở bên trái đầu ngón ấy là người ta tìm mình, như vậy phải nên đề phòng.
14- Máy động cáchCác đốt dưới của cả 3 ngón chằng dính liền nhau, mà ở đầu cung tốn lại tiếp giáp với cung ly, giống như gốc cây rưa tiếp nhận mũi tên (hoặc như mũi tên chọc vào cung ly), mà ngón cái lại gần tiểu chỉ (cun) ở cung ly ấy, vậy phải dựa vào bát quái mà xem, nếu ngón trong và ngón ngoài đều như thế, thì gọi là: "Cách cặp cổ" cách này tối độc.
15- Động đẵn cáchLà kiểu cung Ly ủ rũ co gục xuống, mà ngón có cung tốn lại vươn lên cao hơn, như lưỡi dao chặt lưng từ nửa cung ly trở xuống, coi đó là biểu tượng chủ nhà có sự canh cánh bên lòng và phải xem ngón cun chỉ vào cung nào, rồi dựa vào bát quái mà đoán. (Dù ngón trong hay ngón ngoài mà đều như vậy thì cũng cùng một phép đoán).
16- Ngoại hơn tứ cáchKiểu này, còn gọi là thắng phụ chi hình, tức là thấy các cung: tốn, ly, khôn tranh nhau, cung ly lại cúi xuống, coi đó là: sẽ có sự đánh nhau, kiện nhau. Nếu tốn cao hơn khôn ấy là: "Nội hơn tứ cách". Khôn cao hơn tốn ấy là: "Ngoại hơn tứ cách".
17- Đề cái cáchĐầu cung ly co cúi, đầu khôn che dấu ở trên đầu cung ly, đó gọi là "Ngoại đè cái" (ngón ngoài đè trên cái), nếu ngón trong đè cái tất có loạn từ trong loạn ra ngoài đè cái hằn có biến bên ngoài vào (loạn từ ngoài tới).
18- Thức hầu cáchĐầu cung tốn sung chọc lại cung ly, ly cúi xuống dưới, ngón trong đè ngón cái, ngón ngoài vượt qua chèn ngón khác, đó là biểu hiện: "Bức gia" là nhà bị chèn ép.
19- Vãn nội cáchNgón út chỉ bên tả, ấy là kéo ngón trong chỉ vào cung cấn dần, ấy là biểu hiện kho vựa bị tuôn ra (mọi sự độc). Nếu ngón út chỉ ngoài là "Vãn ngoại cách" cách này là tốt lành.
20- Tươi cái cáchThấy đầu ngón cái ngay thẳng ống, có vẻ sắc tươi tỉnh, không ủ rũ co rụt lại, coi đó là được đại cát, cũng như vậy mà hung huyết không phạm, đó gọi là "Cách tươi cái". 

BÓI GÀ ( XEM CHÂN GÀ )
( ngày mồng Ba Tết )

Đầu năm ra mắt mồng Ba:
Cúng ông HÀNH KHIỂN  cùng là HÀNH BINH.
Bói Gà phải bói cho tinh
Xem tường Màu sắc, thân hình rủi may:
No nồi, chụm móng khít khao
Đỏ cái, chặt chẽ cũng giàu cũng sang.
Đỏ mà thân máu nổi loang
Là điều tán của tan hoang cửa nhà.
Trắng xanh bờn bợt  thây ma
Là điều tang chế ông bà cháu con.
Da gà tươi mướt vàng son
Đi thi chắc đậu, đi buôn chắc lời.
Khe chân gà hở tơi bời
Tiền vô nhiều phút cũng rồi tay không.
Ba ngón đội lên một chồng
Tốt thì có tốt phải phòng người trên,
Nhờ người giúp đỡ mới nên
Tự quyền tự chủ chẳng bền được đâu.
Cũng ba ngón chân chụm đầu
Môt hàng ngang mặt:  thúng đâu đựng tiền.
No nồi như nở cười duyên
Da hường tươm nở bạc tiền đầy kho.
Da chân gà xám màu tro
Gân xương khô héo có lo cũng nghèo.
Chân gà cái trễ cái treo
Bên cong bên vẹo nằm queo một mình.
Da gà mỡ đọng lung linh
Làm chơi ăn thật thỏa tình vui chơi.
Bốn ngón mà giơ lên trời
Nồi go lép xẹp ôi thôi còn gì,
Phải năm tuổi xấu thêm nguy:
Ốm đau, tang chế, quan phi, tụng đình.
Ngón chân rời rạc thân hình
Thiếu người giúp đỡ, thiếu tình hữu giao,
Gặp cơn sóng gió ba đào
Một mình chèo lái ai người giúp ta.
Chân gà nắm hở quẹo ra
Da vàng tươi tắn mới là bình an.
Cúng gà ra mắt NGHIÊM TRANG
Làm gà lý tưởng luộc càng thêm tinh
Có thành chắc có thần linh
Cầu ông HÀNH KHIỂN, HÀNH BINH độ trì
Cho mình gặp hội khả vi
Mỗi chu niên, một chu kỳ bình an.
Mồng Ba Tết tới bước sang
Lại cúng ra mắt huy hoàng hơn xưa
Năm Bính Dần, tháng Chạp Ngày lành
Bỉ nhân Nguyễn Hồng Khoái
Sao lục
ĐỘC GIẢ vô cùng yêu quý!
Đầu năm xem chân gà là một phong tục ngày xưa của cổ nhân. Nhà giàu, nhà nghèo ngày mồng Ba Tết chọn con gà trống chưa quan hệ tình dục giết thịt để cúng hóa vàng đội ơn ông HÀNH KHIỂN ( Người thay mặt Ngọc Hoàng trông coi cõi Trần Gian năm đó). Nhà không có gà nuôi trong chuồng thì trong năm cũ mua con gà như trên về nuôi rốt trong nhà qua 3 ngày TẾT để mồng BA TẾT có chân gà xem cho 1 năm.
Ấy thế mà ngày nảy ngày nay, thời sau hiệp định Geneve cũng nhiều phiền toái: Bố tôi ngồi xem cho cả làng, và... sau rồi mê tín dị đoan cụ bị đủ mọi thứ phê bình. Nhưng sau này hàng năm nhà tôi cũng mồng BA TẾT cụ vẫn xem nhưng không nói cho con cháu biết. Rồi cụ cũng chẳng giấu diếm được tôi, tôi hỏi các cụ ở địa phương khác và về hỏi lại cụ; cụ bột phát có đôi điều và cứ thế, cứ thế cụ mang về cõi âm lúc nào không biết. Cứ TẾT đén tôi lại xem chân gà và mong cụ về chỉ giáo cho tôi
Lại nói về ông HÀNH KHIỂN ) tục xưa cho hay mỗi năm Ngọc Hoàng sai một ông trông coi cõi Trần gian, năm nay năm Máo là ÔNG  TRỊNH VƯƠNG HÀNH KHIỂN các bạn nhớ kẻo khấn nhầm. Để giúp ĐỘC giả nhớ các năm, bỉ nhân biếu quý ĐỘC GIẢ câu vần sau đây để tính cho các năm:
TÝ: CHU - SỬU : TRIỆU - NGỤY VƯƠNG: DẦN;
MÁO : TRỊNH - THÌN: SỞ - TỴ :NGÔ QUÂN
NGỌ : TẦN - MÙI: TỐNG - THÂN :TỀ CHÍ
DẬU : LỖ - TUẤT: VIỆT - HƠI: LƯU THẦN
Như trên thì năm Thin là ông Sở Vương hành Khiển, năm Thân là ông Tề Vương hành khiển....
Kính chúc quý ĐỘC GIẢ một năm mới an khanh thịnh vượng, có xem chân gà thì nhớ tới tôi

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.